Tiếng Rao

22 Tháng Tư 202011:34 SA(Xem: 729)

Tiếng Rao

blank

Không biết tự bao giờ mà người dân ở thành phố có cái kiểu buôn bán, làm việc với “tiếng rao”.

Tiếng rao được coi là loại “đặc sản” của thành phố. Trước đây ở Sài Gòn chỉ nghe tiếng rao về đêm, nhưng dạo này tiếng rao lanh lảnh đã bắt đầu từ tờ mờ sáng – không chỉ để bán những thức ăn nhanh, tiện lợi, mà còn để bán cá, thịt, rau củ quả… và cả những dụng cụ: chổi lau bụi, lau nhà, chiếu, chăn…

Trước đây, giữa đêm khuya tiếng rao của những người phụ nữ nghe buồn đến não lòng. Bao nhiêu con đường, ngõ hẻm đều in những dấu chân nhọc nhằn của họ. Tiếng rao, lúc trầm bổng khi lắng dịu của những người mẹ, người chị tần tảo kiếm miếng cơm manh áo. “Bánh mì nóng giòn đê”, “Cháo sườn đê”, “Bánh bột lọc đê”, “Bắp xào, trứng lộn đê…”. Có bao nhiêu thứ hàng rong thì có bấy nhiêu tiếng rao gọi mời. Mùa đông giá buốt hay mùa hè nắng cháy đều không thiếu những tiếng mời rao.

Gần đây, tiếng rao lại mang âm giọng của những người đàn ông “Ai mài kéo, mài dao” “Mua điện thoại hư, ti vi hư, tủ lạnh hư, đầu đĩa…”

Và những tiếng chào hàng kiểu mới của những chàng thanh niên giọng miền Tây Nam Bộ đặc sệt “Hành, hành tây, cà chua, cà pháo, củ cải xanh đỏ, chanh… mười nghìn một bịch đổ ghẻ luôn” nó cứ lập đi lập lại, chạy loanh quanh khắp phường.

Tôi nhận ra tiếng rao của mỗi người đến từ vùng miền hoàn toàn khác nhau. Lúc tiếng rao mời mua ti vi, tủ lạnh hư… của chàng thanh niên giọng Hà Tĩnh, khi tiếng rao bán đồ ăn vặt của cô mang giọng “Nẫu” Bình Định, khi thì tiếng rao để bán “la ghim” của người đàn ông nghe giọng tận đâu Cần Thơ Rạch Giá… Dù họ đến từ miền đất nào, tiếng rao ấy vẫn mang bản lĩnh của một người chăm chỉ, một người sáng tạo không để đời mình như một kẻ lười “ăn bám xã hội”. Tiếng rao khát khao đạt đến một tương lai hoàn hảo, một cuộc sống ổn định, bình an, mạnh khỏe cho người thân ở quê nhà.

Mỗi âm giọng của tiếng rao là một hoàn cảnh, là một mảnh đời, một số phận… Những tiếng rao trong đêm khuya vắng lặng hay giữa ban ngày cháy nắng luôn mang một mơ ước: Ước mơ đổi đời cho đứa con đang học đại học, kiếm thêm chút tiền thuốc men cho đứa nhỏ mang bệnh nan y. Tìm thêm chút tiền trang trãi cho cuộc sống quá cơ cực ở nhà quê, muốn sắm thêm cái gì kha khá mang chút sắc màu tiện nghi…

Vì đại dịch Covid-19, lệnh cách ly kéo dài – người người không ra đường, nhà nhà đóng kín cổng, tiếng rao càng thêm não lòng. Phương tiện truyền thông, báo chí thì không ngừng khuyên người dân “Thực hiện cách ly xã hội là cần thiết và là một trong những cách tốt nhất để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, vì thế hãy cân nhắc phương án mua hàng trực tuyến thay vì đích thân đi mua. Đối với các bao bì, túi xách chứa hàng hoá, thực tế là chạm vào chúng có thể khiến bạn có nguy cơ nhiễm bệnh nếu có virus. Theo các chuyên gia, những trường hợp như vậy có thể được giải quyết bằng cách lấy thực phẩm ra và vứt bỏ bao bì đúng cách, sau đó rửa tay cẩn thận.” (x. laodong)

Tiếng rao bán mùa dịch như hụt hơi đứt đoạn, lưa thưa hơn mọi ngày. Không biết có ai dám mua đồ ăn thức uống họ tự chế biến (không tên tuổi nhãn hiệu) hoặc những loại “la ghim” tự tay họ trồng mang tận dưới quê lên (không nguồn gốc xuất xứ) có ai dám “đi ra” mua giúp họ như mọi ngày chăng! Có ai dám “gọi vào” để bán cái gì đó đã hư không còn dùng được đang để chật kho của mình lúc này hay không !

Cả hơn tuần rồi, giữa chục tiếng rao “bán – mua” đủ loại, tiếng rao “Xô-ô-ôi cúc, Xô-ôi xôi đậu xanh, đậu phụng, đậu đe-đen đê” của chị “gì đó” dường như không nghe thấy.

Cảm giác thiếu vắng tiếng rao của chị khiến tôi nghĩ suy những chuyện không may lành giữa đỉnh cao của đại dịch. Chị đâu rồi, chị có mệnh hệ gì không? Lặng lội hết đường này sang hẻm nọ kiếm sống lẽ nào chị bị cách ly hay nhiễm Covid?

Suy nghĩ mang chút âu lo, thương cảm cho nhóm người lao động tự do trong đại dịch. Tôi thầm cầu nguyện, xin Chúa cho họ được mạnh khỏe bình an.

Tờ mờ sáng nay, văng vẳng tiếng rao quen thuộc của chị… lại xuất hiện.

Chạy ra đầu ngõ, chờ chị,
Gọi mua hộp xôi, kiếm cớ hỏi thăm.

Đôi tay xương xương thao tác thật nhanh cho xôi vào hộp xốp, vừa trả lời câu hỏi mang chút tò mò quan tâm của tôi. Chị cảm được điều đó nên – cười.

Chị cười, nụ cười thật bình an. Cám ơn, cám ơn cô, tuần rồi chị phải sang phường khác bán, phường này bảo vệ làm căng… nên…

Âm thanh của tiếng rao đã trở nên thân thuộc đến nỗi khi chưa được nghe, hay lúc thiếu vắng lòng tôi nhơ nhớ. Thỉnh thoảng mua giúp họ hộp xôi, ổ bánh mì, gói chanh… “Cô là ma sơ hả, cảm ơn Cô, xóm tôi cũng có người đi đạo như Cô!”

Những cuộc chuyện trò ngắn ngủi thân thương, tôi phần nào hiểu được hoàn cảnh của họ. Nhìn thấy họ tưởng chừng bắt gặp hình ảnh của mẹ, của anh – chị mình ở quê. Cũng khuôn mặt gầy gò, rám nắng, bóng dáng tần tảo. Một đời “dầm mưa dãi nắng”, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” cho tôi những phút bình yên, cho tôi thảnh thơi hoàn thành mọi chương trình học tập và cả đến hôm nay. Họ dành hết tình cảm, ôm bao khổ cực lặng lội gió sương cho tôi kiếm cái chữ, để không bị chân lấm tay bùn như họ. Cuộc sống ngày càng phát triển, càng hiện đại, tiếng rao mời còn nhắc nhở bản thân, tôi đang sống nhờ bao lao công của mẹ cha của thân bằng quyến thuộc và của anh chị em trong cộng đồng nhân loại. Tôi đang mắc nợ họ về tình thương của sự tần tảo, hy sinh!

Những tiếng rao nhiều âm sắc dường như đã trở thành bản đồng ca không thể thiếu trong khu phố. Cho dù âm thanh của tiếng rao cho tôi cảm giác không vui. Cho tôi nhiều suy nghĩ về kiếp sống, phận người từ quê nghèo lên phố mưu sinh… Tận thâm tâm, tôi cảm phục sâu xa về họ, họ là những người lao động chân chính, lao động bằng cả con tim, khối óc và sức lực của mình.

Cầu mong cho họ luôn được bình an mạnh khỏe,
Cầu mong cho đại dịch mau chấm dứt để họ không phải chạy nhiều từ quận này sang quận khác, mua nhanh bán tốt,
Cầu mong cho đại dịch sớm kết thúc để cuộc sống của họ được ổn định, yên vui.
Cầu mong đừng ai coi thường họ, nghề nào cũng đáng quý và đáng được trân trọng.

Tiếng rao còn cho tôi bài học quý giá: “Hãy lao động như thể mình sẽ sống cả trăm năm. Hãy cầu nguyện như thể ngày mai mình sẽ chết” Benjamin Franklin.

Nt. Anne Lê (Dòng MTG Qui Nhơn)

 Nguồn: gpquinhon.org

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Bảo Trợ