Những Đại Dịch Trong Lịch Sử

14 Tháng Tư 20202:38 CH(Xem: 306)
NHỮNG ĐẠI DỊCH TRONG LỊCH SỬ
Trần Minh Hiền
Thế giới loài người đang chịu đựng 1 cơn đại dịch khủng khiếp và chúng ta hãy cầu nguyện cho sớm tàn lụi để tất cả chúng sanh, mọi người trở lại đời sống bình thường, khoẻ mạnh. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu lịch sử những trận đại  dịch và xem thử có thể học được baì học gì không?
Đây là những đại dịch đã xảy ra
dich benh 4
Dịch tả
Từ một bệnh có quy mô địa phương, bệnh tả đã trở thành một bệnh lây truyền và gây chết người nhiều nhất trong thế kỷ 19, dịch bệnh đã giết chết 10 triệu người.

Dịch tả lần thứ nhất (1816–1826). Trước đó chỉ phân bố trong khu vực tiểu lục địa Ấn Độ, bắt đầu ở Bengal, sau đó lan khắp Ấn Độ năm 1820. 10.000 binh lính Anh và không biết bao nhiêu người Ấn Độ đã chết trong suốt đại dịch này. Nó bắt đầu lan sang Trung Quốc, Indonesia (nơi có hơn 100.000 người chết trên đảo Java) và vùng biển Caspi trước khi tàn lụi. Số ca tử vong ở Ấn Độ giữa năm 1817 và 1860 ước tính hơn 15 triệu người, và khoảng 23 triệu người chết trong khoảng 1865 và 1917. Số ca tử vong ở Nga trong cùng thời kỳ trên là hơn 2 triệu.

Dịch tả lần 2 (1829–1851). Xảy ra ở Nga , Hungary (khoảng 100.000 người chết) và Đức năm 1831, Luân Đôn năm 1832 (hơn 55.000 người chết ở Vương quốc Anh), Pháp, Canada (Ontario), và Hoa Kỳ (New York) trong cùng năm,và bờ Thái Bình Dương của Bắc Mỹ vào năm 1834. Hai năm sau khi dịch bùng phát ở Anh và Wales năm 1848 và đã có 52.000 chết. Có nguồn cho rằng có hơn 150.000 người Mỹ đã chết do bệnh tả trong khoảng 1832 và 1849.
Dịch tả lần thứ 3 (1852–1860). Chủ yếu ảnh hưởng ở Nga, với hơn 1 triệu ca tử vong. Năm 1852, bệnh tả lan sang phía đông đến Indonesia và sau đó xâm nhập vào Trung Quốc và Nhật Bản năm 1854. Philippines bị nhiễm năm 1858 và Triều Tiên năm 1859. Vào năm 1859, dịch đã bùnh phát trở lại ở Bengal làm lây lan sang Iran, Iraq, Ả Rập và Nga.Trên khắp đất nước Tây Ban Nha, bệnh tả gây ra hơn 236.000 ca tử vong trong năm 1854–55. Có khoảng 200.000 người chết ở México.

Dịch tả lần thứ 4 (1863–1875). Lây lan chủ yếu ở châu Âu và châu Phi. Có ít nhất 30.000 trong số 90.000 Mecca khách hành hương là nạn nhân của dịch bệnh. Dịch đã cướp đi 90.000 mạng sống ở Nga năm 1866. Năm 1866, dịch bùng phát ở Bắc Mỹ, giết khoảng 50.000 người.

Dịch tả lần thứ 5 (1881–1896). Dịch tả 1883–1887 đã cướp đi 250.000 người ở châu Âu và ít nhất 50.000 ở châu Mỹ. Bệnh tả đã giết 267.890 người ở Nga (1892);120.000 ở Tây Ban Nha; 90.000 ở Nhật và 60.000 ở Ba Tư. Năm 1892, bệnh tả đã nhiễm vào nguồn nước cấp ở Hamburg, và làm 8606 người chết.

Dịch tả lần thứ 6 (1899–1923). Đại dịch này ảnh hưởng ít ở châu Âu do những cải tiến trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nhưng ở Nga vẫn bị ảnh hưởng nặng với hơn 500.000 người chết trong 1/4 đầu của thế kỷ 20. Đại dịch này đã giết hơn 800.000 người ở Ấn Độ. Giai đoạn 1902–1904 bệnh tả đã cướp đi hơn 200.000 người ở Philippines. Có 27 lần dịch bệnh đã được ghi nhận là trong các thời kỳ hành hương đến Mecca từ thế kỷ 19 đến năm 1930, và có hơn 20.000 người hành hương chết vì bệnh tả trong khoảng 1907–08.

Dịch tả lần thứ 7 (1962–66). Bắt đầu ở Indonesia, gọi là El Tor, và sau đó đến Bangladesh năm 1963, Ấn Độ năm 1964, và Liên Xô năm 1966.

Dịch cúm
Nhà vật lý Hy Lạp Hippocrates, "Cha đẻ của Y học", đã miêu tả cúm năm 412 TCN.
Đại dịch cúm lần đầu tiên được ghi nhận năm 1580 và kể từ đó các đại dịch cúm diễn ra cứ mỗi 10 đến 30 năm.

Đại dịch cúm 1889–1890, hay còn gọi là Cúm Nga, được báo cáo đầu tiên vào tháng 5 năm 1889 ở Bukhara, Uzbekistan. Vào tháng 10, nó lan đến Tomsk và Kavkaz. Nó nhanh chóng lan về phía tây và đến Bắc Mỹ vào tháng 12 năm 1889, Nam Mỹ vào tháng 2-3 năm 1890, Ấn Độ vào tháng 2-3 năm 1890, và Úc vào tháng 3-4 năm 1890. Các chủng virus H3N8 và H2N2 của virus cúm A đã được xác nhận có thể là nguyên nhân gây dịch bệnh. Nó có mức độ tấn công và tỉ lệ tử vong rất cao. Khoảng 1 triệu người chết do đại dịch này."
dich benh
Cúm Tây Ban Nha (1918–1919). Được xác định đầu tiên vào tháng 3 năm 1918 trong một trại huấn huyện lính của Hoa Kỳ tại Camp Funston, Kansas. Vào tháng 10 năm 1918, nó bắt đầu lây lan thành một đại dịch toàn cầu trên khắp các lục địa, và cuối cùng lây nhiễm 1/3 dân số thế giới vào thời điểm đó (khoảng 500 triệu người). Một dịch bệnh chết người, nó kết thúc nhanh như nó bắt đầu, quét qua chỉ trong vòng 18 tháng. Trong 6 tháng đã có khoảng 50 triệu người chết; một số cách ước tính cho con số tử vong toàn cầu cao gấp 2 lần con số trên. Khoảng 17 triệu người chết ở Ấn Độ, 675.000 ở Hoa Kỳ và 200.000 người ở Vương quốc Anh. Virus gần đây đã được các nhà khoa học tái hiện lại tại CDC nghiên cứu dựa trên những mẫu được bảo quản trong các lớp băng vĩnh cửu ở Alaska. Virus H1N1 có cấu trúc nhỏ, nhưng cấu trúc quan trọng như cúm Tây Ban Nha.

Cúm châu Á (1957–58). Virus H2N2 đã làm khoảng 70.000 người chết ở Hoa Kỳ. Chúng được phát hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào cuối tháng 2 năm 1957, Cúm châu Á lây sang Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 1957. Nó làm khoảng 2 triệu người chết trên toàn cầu.

Cúm Hồng Kông (1968–69). Virus H3N2 làm chết khoảng 34.000 người ở Hoa Kỳ. Loại virus này được phát hiện đầu tiên ở Hồng Kông vào đầu năm 1968, và lây lan sang Hoa Kỳ vào một năm sau đó. Đại dịch này đã giết chết khoảng 1 triệu người trên toàn cầu. Hiện tại, các virus cúm A (H3N2) vẫn còn tồn tại.
Cúm H1N1 (2009). Người ta ước tính rằng 11–21% dân số toàn cầu lúc bấy giờ (khoảng 6,8 tỷ), tương đương 700–1400 triệu người mắc bệnh - nhiều hơn về mặt tuyệt đối so với đại dịch cúm Tây Ban Nha. Tuy nhiên, với khoảng 150.000–575.000 trường hợp tử vong, nó có tỷ lệ tử vong thấp hơn nhiều.

Đậu mùa
Đậu mùa là căn bệnh rất dễ lây lan do virus Variola. Bệnh này đã giết khoảng 400.000 người châu Âu mỗi năm trong suốt những năm cuối thế kỷ 18. Trong suốt thế kỷ 20, số người chết do đậu mùa ước tính có thể là 300–500 triệu. Gần đây hơn vào đầu thập niên 1950, có khoảng 50 triệu ca đậu mùa xảy ra trên toàn thế giới mỗi năm. Sau các chiến dịch tiêm vắc-xin thành công trong suốt thế kỷ 19 và 20, WHO chứng nhận đã xoá sổ đậu mùa vào tháng 12 năm 1979. Cho đến ngày nay, đậu mùa là bệnh duy nhất lây nhiễm người đã bị loại bỏ hoàn toàn.

Sởi
Về lịch sử, sởi có mặt trên khắp thế giới, vì nó rất dễ lây nhiễm. Theo chương trình Tiêm chủng Quốc gia Hoa Kỳ, 90% người dân bị nhiễm sởi vào tuổi 15. Trước khi vắc-xin được đưa ra năm 1963, có khoảng 3–4 triệu ca nhiễm ở Hoa Kỳ mỗi năm.Trong khoảng 150 năm qua, sởi đã giết khoảng 200 triệu người trên toàn cầu. Chỉ riêng năm 2000, sởi đã giết khoảng 777.000 người trên toàn cầu, trong tổng số khoảng 40 triệu ca nhiễm.
Năm 1529, sởi bùng phát ở Cuba đã giết 2/3 trong số người bản địa đã từng mắc bệnh đậu mùa. Dịch đã tàn phá México, Trung Mỹ, và văn minh Inca.
dich benh covid 19
Lao
Một phần ba dân số hiện tại của thế giới bị nhiễm Mycobacterium tuberculosis, và các ca nhiễm mới hiện với tốc độ 1 ca/giây. Khoảng 5–10% các ca nhiễm tiềm ẩn cuối cùng sẽ phản triển thành bệnh hoạt động, trong đó nếu không được điều trị sẽ giết hơn phân nửa số nạn nhân. Hàng năm, 8 triệu người phát bệnh lao, và 2 triệu người chết do bệnh này trên toàn cầu.Trong thế kỷ 19, lao đã giết khoảng 1/4 người trưởng thành ở châu Âu; vào năm 1918 một trong 6 ca tử vong ở Pháp là do bệnh lao. Vào cuối thế kỷ 19, 70 đến 90% trong số cư dân đô thị ở châu Âu và Bắc Mỹ bị nhiễm M. tuberculosis, và khoảng 40% ca tử vong trong tầng lớp lao động ở các thành phố là do virus lao.Trong thế kỷ 20, bệnh lao đã giết chết khoảng 100 triệu người.Lao vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe quan trọng nhất trong thế giới đang phát triển.

Bệnh phong
Bệnh phong do vi trùng, Mycobacterium leprae gây ra. Đây là loại bệnh mãn tính với thời gian ủ bệnh lên đến 5 năm. Từ năm 1985, 15 triệu người trên thế giới đã được chữa khỏi bệnh phong. Năm 2002, 763.917 các ca mới được phát hiện. Ước tính có khoảng 1 đến 2 triệu người bị tàn tật vĩnh viễn do bệnh phong.

Theo các tài liệu, phong đã ảnh hưởng đến con người từ ít nhất năm 600 TCN, và đã được công nhận trong các nền văn minh của Trung Quốc, Ai Cập và Ấn Độ cổ đại.Trong suốt thời kỳ Thượng Trung cổ, Tây Âu chứng kiến sự bùng nổ chưa từng thấy của bệnh phong.Nhiều leprosaria, hay bệnh viện phong mọc lên ở thời Trung Cổ; Matthew Paris ước tính trong đầu thế kỷ 13 có khoảng 19.000 bệnh viện ở khắp châu Âu.

Sốt rét
Sốt rét phân bố rộng khắp các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, bao gồm các phân của châu Mỹ, châu Á, và châu Phi. Mỗi năm có khoảng 350–500 triệu ca sốt rét. Kháng thuốc đặt ra một vấn đề ngày càng tăng trong việc điều trị sốt rét trong thế kỷ 21, vì kháng thuốc hiện phổ biến cho tất cả các nhóm thuốc chống sốt rét, trừ artemisinins.

Sốt rét từng phổ biến ở châu Âu và Bắc Mỹ, nơi mà ngày nay nó không còn tồn tại. Sốt rét có thể đã góp phần làm suy yếu đế quốc La Mã. Dịch bệnh trở nên nổi tiếng với tên gọi "sốt La Mã".Plasmodium falciparum trở thành mối đe dọa thực sự đối với người dân thuộc địa và người bản địa khi nó được du nhập vào châu Mỹ cùng với việc buôn bán nô lệ. Sốt rét đã tàn phá thuộc địa Jamestown và tàn phát miền Nam và Trung đông. Đến năm 1830 nó đến tây bắc Thái Bình Dương.Trong nội chiến Hoa Kỳ, có hơn 1,2 triệu ca sốt rét trong số lính của hai phía. Phía nam Hoa Kỳ tiếp tục bị ảnh hưởng với hàng triệu ca sốt rét trong thập niên 1930.

Sốt vàng da
Sốt vàng da là nguồn gốc của nhiều dịch bệnh tàn phá. Các thành phố xa về phía bắc của New York, Philadelphia, và Boston đã từng bị dịch bệnh này tấn công. Năm 1793, một trong những dịch bệnh sốt vàng da lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ đã giết chết 5.000 người dân Philadelphia—chiếm gần 10% dân số thành phố này. Khoảng phân nửa công dân đã rời bỏ thành phố, bao gồm cả George Washington. Khoảng 300.000 người được tin là đã chết do sốt vàng da ở Tây Ban Nha trong suốt thế kỷ 19.Trong thời kỳ thuộc địa, Châu Phi trở nên nổi tiếng vì "các nấm mộ của người da trắng" do sốt rét và sốt vàng da.
dichbenh china
Dịch hạch
Đại dịch Antonine từ năm 165 đến 180, còn được gọi là Đại dịch Galen (tên của bác sĩ Hy Lạp sống ở Đế quốc La Mã đã mô tả bệnh dịch này), là một đại dịch cổ đại đã được đưa tới Đế quốc La Mã bởi lực lượng quân đội trở về từ các chiến dịch tại vùng Cận Đông. Các học giả đã nghi ngờ nó là bệnh đậu mùa hoặc bệnh sởi, dịch hạch nhưng nguyên nhân thực sự vẫn chưa được xác định. Tổng số ca tử vong được ước tính là 5 triệu, và căn bệnh này đã giết chết một phần ba dân số ở một số vùng và tàn phá quân đội La Mã.

Cái Chết Đen là tên gọi của một đại dịch xảy ra ở châu Á và châu Âu trong thế kỷ XIV, mà đỉnh điểm là ở châu Âu từ năm 1346 đến năm 1351, với số lượng người chết ở châu Âu và châu Á từ 75-200 triệu người.

Sốt xuất huyết
Bệnh sốt xuất huyết gây ra bởi một số họ virus sau: Arenavirus, Filoviridae, Bunyaviridae và Flavivirus. Một số loài virus có thể gây bệnh nhẹ như sốt Nephropathia Scandinavia, trong khi đó một số loài khác có thể gây bệnh tương đối nặng, thậm chí có thể gây tử vong, chẳng hạn như sốt Lassa, virus Marburg, virus Ebola, sốt xuất huyết Bolivia, Hantavirus (sốt xuất huyết Triều Tiên), sốt xuất huyết Crimea-Congo, và sốt xuất huyết Dengue. Đây là bệnh sốt cao có xuất huyết, có thể quy vào các chứng ôn dịch, thời độc, thử táo dịch hoặc thấp nhiệt. Sốt xuất huyết được truyền qua muỗi, đặc biệt là muỗi vằn.

SARS (2002 -2004)
SARS hay Hội chứng hô hấp cấp tính nặng là một chứng bệnh hô hấp ở con người gây ra bởi virus. Giữa tháng 11 năm 2002 đến tháng 7 năm 2003, bùng phát dịch SARS ở Hồng Kông gần như trở thành một đại dịch, với 8.096 trường hợp và 774 trường hợp tử vong trên toàn thế giới (10,9% tử vong) theo Tổ chức Y tế Thế giới.Trong vòng vài tuần, SARS lây lan từ Hồng Kông sang lây nhiễm các cá nhân khác tại 37 quốc gia vào đầu năm 2003.
SARS không được tuyên bố đã được loại trừ (không giống như bệnh đậu mùa), vì nó vẫn có thể có mặt ở các hồ chứa vật chủ tự nhiên của nó (quần thể động vật) và có khả năng có thể trở lại trong tương lai. Trường hợp tử vong của SARS là ít hơn 1% người ở độ tuổi 24 hoặc trẻ hơn, 6% đối với những người 25 đến 44, 15% đối với những người 45 đến 64, và hơn 50% đối với những người trên 65 tuổi.
***
Dịch novel coronavirus Vũ Hán 2019 này thật sự xảy ra vào thế kỷ 21 khi con người quá đông và phương tiện di chuyển nhanh chóng và virus ủ bệnh rất lâu và người khoẻ mạnh bị nhiễm rồi lây lan sang người khác đã làm dịch bệnh trở nên khủng khiếp. Có bài học rút ra từ các đại dịch cúm coronavirus trong quá khứ là bệnh nhiễm rất nhanh và gây chết nhanh và thường kéo dài khoảng gần 2 năm rồi đột nhiên biến mất mà không phải do con người diệt được nó: dịch cúm Tây Ban Nha H1N1 từ tháng 1-1918 đến 12-1919, dịch cúm Nga 1889-1890, dịch cúm Asian Flu H2N2 1957-1958, dịch cúm Hồng Kông H3N2 1968-1969, swine flu H1N1 2009-2010 và lần này novel coronavirus H1N1. Dịch cúm Tây Ban Nha giết 675000 người Hoa Kỳ và rất nhiều người bị chết không phải vì virus mà vì ngộ độc thuốc aspirin khi bác sĩ cho quá liều.
***
Rất có thể virus gây cúm coronavirus và novel coronavirus cũng như những virus gây chết người hàng loạt gây đại dịch là những "chúng sanh" những sinh vật sống có nền "văn minh" riêng và sự phát triển, tồn tại riêng nhưng tương tự như loài người chúng ta và khi virus phát triển mạnh mẽ, thành công và chúng chuyển ra tấn công, giết hại loài người cách vô ý thức không cố ý nhưng rồi cuối cùng chúng cũng sẽ bị chết hết. Cũng giống như rất có thể loài người chúng ta human beings, homo sapiens có thể đang là những siêu vi trùng trong cơ thể của người khổng lồ và chúng ta có thể bị họ giết nhưng có thể đến 1 ngày kia chúng ta sẽ bị giết hết tất cả.
Trần Minh Hiền Orlando ngày 12 tháng 4 năm 2020
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Covid-19 - một loại virus gây viêm phổi nghiêm trọng bắt nguồn từ Trung Quốc đã lan sang nhiều quốc gia khác, bao gồm cả Anh quốc. Theo số liệu của Ủy ban Y tế quốc gia Trung Quốc ngày 19/02 cho biết đã có 74.185 ca nhiễm và 2.004 ca tử vong ở Trung Quốc đại lục. Triệu chứng của bệnh Thông thường bệnh bắt đầu bằng một cơn sốt, sau đó là ho khan. Sau một tuần, bệnh có thể dẫn đến khó thở và một số bệnh nhân cần được điều trị tại bệnh viện. Đáng lưu ý, virus corona hiếm khi gây chảy nước mũi hoặc hắt hơi.
Dưới đây là những thông tin phổ biến nhưng sai lầm hoặc giả dối nhưng không hề có bằng chứng khoa học, nhiều người lâu nay vẫn tin là thật. 16 sự thật khoa học sai lầm mà chúng ta vẫn nghĩ là thật 1. Chuối có họ hàng với cây cọ - Sai 2. Không trọng lực do không có lực hấp dẫn - Sai 3. Trái cấm trong Kinh thánh là quả táo - Sai 4. Các kim tự tháp Ai Cập do nô lệ xây dựng - Sai 5. Chó sói hú khi thấy Mặt Trăng - Sai 6. Mũi tên la bàn chỉ về Cực Bắc - Sai 7. Người tiền sử sống trong hang - Sai 8. Ketchup là nước sốt cà chua - Sai 9. Mặt Trăng có mặt tối - Sai 10. Bốn mùa xuất hiện do khoảng cách giữa Mặt trời và Trái đất thay đổi trong năm - Sai 11. Charles Darwin nói rằng con người tiến hóa từ khỉ - Sai 12. Rượu làm nóng cơ thể - Sai 13. Không gian vũ trụ là môi trường chân không - Sai 14. Trái đất chỉ có 4 đại dương - Sai 15. Người da đỏ thường cưỡi ngựa - Sai 16. Não nghỉ ngơi khi ngủ - Sai
Vào mùa thu, độ ẩm trong không khí bắt đầu giảm xuống, người nhạy cảm có thể cảm thấy. Theo Đông Y, đây là lúc táo khí thịnh hành, ảnh hưởng trực tiếp đến công năng tạng Phế... Theo Hoàng đế Nội kinh viết: “Tây phương sinh táo, táo sinh kim, kim sinh tân, tân sinh Phế...” - tạm dịch: trời ở phương Tây sinh ra táo khí - khí khô ráo, táo khí sinh ra hành kim, hành kim sinh ra vị tân - vị cay. Con người nhờ vào vị cay mà sinh ra và trưởng dưỡng tạng Phế.
Khi nói đến bầu cử tổng thống Mỹ, người ta thường nghĩ đến sự ganh đua của hai đảng là Cộng hòa và Dân chủ. Vậy sự khác nhau căn bản giữa đảng Cộng hòa và Dân chủ trong chính trị Hoa Kỳ là như thế nào? Đặc biệt là các vấn đề đối nội của chính nước Mỹ. Dưới đây là một số khác biệt cơ bản giữa hai đảng này.
SANTA MONICA, California (NV) – Thông thường khi giảm cân chúng ta thường chỉ chú trọng đến thức ăn nạp vào mà quên mất thức uống cũng rất quan trọng trong việc giúp giảm hay tăng cân. Theo một cuộc nghiên cứu đăng trên tạp chí Obesity năm 2017, trung bình người Mỹ tiêu tốn 340 calories cho thức uống mỗi ngày, tức là trung bình mỗi tuần tiêu tốn khoảng 2,400 calories. Uống nước nhiều luôn được các bác sĩ khuyên làm để duy trì sức khỏe tốt và vóc dáng cân đối. (Hình: Franck Fife/AFP via Getty Images) Dưới đây là những thức uống bạn nên uống và tránh để duy trì một vóc dáng thon gọn mà mình mong muốn, theo trang mạng Livestrong.
Vitamin D là một nhóm các secosteroid hòa tan được trong chất béo, đóng vai trò vô quan trọng trong việc thực hiện các chức năng của hệ miễn dịch, kiểm soát sự tăng trưởng tế bào và xương. Thông thường, Vitamin D được gọi một cách trìu mến là “vitamin ánh sáng” bởi lẽ cơ thể của chúng ta có thể tự tổng hợp và sản xuất ra loại vitamin này sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời. Vitamin D ngoài ra còn giúp cơ thể điều hòa sự phát triển của tế bào và làm giảm các dấu hiệu sưng, tấy. Loại dưỡng chất này bên cạnh đó cũng tham gia vào hoạt động thúc đẩy sự hấp thụ canxi, giúp khung xương thêm vững chắc.
Trong một nghiên cứu hồi cứu về những bệnh nhân được xét nghiệm COVID-19, các nhà nghiên cứu tại Đại học Y khoa Chicago đã tìm thấy mối liên hệ giữa sự thiếu hụt vitamin D và khả năng bị nhiễm coronavirus. “Vitamin D rất quan trọng đối với chức năng của hệ thống miễn dịch và việc bổ sung vitamin D trước đây đã được chứng minh là làm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp do virus”, David Meltzer, MD, Ph.D., Trưởng khoa Y tế Bệnh viện tại UChi Chicago Medicine và tác giả chính của nghiên cứu nói. "Phân tích thống kê của chúng tôi cho thấy điều này có thể đúng với trường hợp lây nhiễm COVID-19".
Làm việc hiệu quả, nhanh chóng và thông minh luôn là một trong những điều ưu tiên hàng đầu mà các công ty tìm kiếm ở nhân viên. Tuy nhiên, không chỉ có công ty mà chính cách làm việc tốt sẽ giúp cho bản thân chúng ta, theo trang mạng The Muse. Thông thường, chúng ta dành trung bình 90,000 giờ trong cuộc đời để làm việc và vì thế, đừng biến 90,000 giờ ấy trở nên vô vị, chán nản, mệt mỏi và áp lực. Với những thói quen nho nhỏ dưới đây, chỉ cần bạn cố gắng thay đổi và duy trì, chắc chắn nó sẽ đem lại những lợi ích vô cùng to lớn. Kỹ năng giải quyết vấn đề, suy nghĩ logic, tinh thần minh mẫn và nhiều thứ khác là các yếu tố mang lại giá trị cho công ty bạn đang làm và cả cá nhân bạn.
Điểm tuyệt đối cho bài kiểm tra này là 200 điểm. Nếu không được nhiều hơn 25 điểm, bạn nên điều chỉnh lại bản thân. Tiến sĩ Daniel Gorman, thuộc khoa Tâm lý học, đại học Harvard đã thực hiện một bài kiểm tra EQ và đúc rút ra được một số vấn đề. Thông qua việc trả lời các câu hỏi, bạn đọc có thể có được những nhận thức cảm tính khái quát về chỉ số trí tuệ cảm xúc (EQ) của bản thân. Tổng cộng có 10 câu hỏi, tiêu chuẩn tính điểm cho các câu hỏi vui lòng xem phía sau. Số điểm cao nhất có thể đạt được là 200. Người bình thường, trung bình đạt 100 điểm. Nếu bạn đạt được dưới 25 điểm, bạn nên dành thời gian thời gian để làm lại bài kiểm tra.
Đức Mẹ Guadalupe là một sự kiện thần kỳ và nổi tiếng ở xứ sở Mexico. Sự kiện và thánh tích đi theo đó (tấm áo choàng Đức Mẹ Guadalupe) trở nên nổi tiếng đến nỗi đã trở thành biểu tượng của quốc gia phần lớn theo Đạo Công giáo này. Sở dĩ gọi là Đức Mẹ Guadalupe vì đây là một tước hiệu của Đức Mẹ Mary, tên gọi này ấn chứng cho sự hiển linh của Đức mẹ ở Guadalupe, Mexico vào năm 1531. Trong suốt thế kỷ 19 đến 20, cái tên và hình tượng Đức mẹ Guadalupe đã trở thành biểu tượng thống nhất của Mexico; thậm chí vị Tổng thống Mexico đầu tiên đã đổi tên từ José Miguel Ramón Adaucto Fernández y Félix sang Guadalupe Victoria để vinh danh Đức mẹ Guadalupe.
Bảo Trợ