Chương I

08 Tháng Tư 20204:54 CH(Xem: 85)

I

Những sự kiện kỳ lạ, đề tài của tập ký này, xảy ra năm 194., ở Oran dư luận chung cho rằng đây là những sự kiện xảy ra không đúng chỗ, có phần bình thường. Thật vậy, thoạt nhìn thì Oran là một thành phố bình thường và cũng chỉ là một tỉnh của Pháp trên bờ biển Algérie.

Phải thừa nhận Oran là một thành phố xấu xí. Nó có vẻ yên tĩnh và phải có thời gian mới thấy được cái gì phân biệt nó với biết bao thành phố buôn bán khác ở khắp mọi nơi. Chẳng hạn làm sao khiến người ta hình dung được một thành phố vắng bóng bồ câu, cây cối, vườn tược, một thành phố không nghe thấy tiếng chim vỗ cánh hay tiếng lá cây xào xạc, tóm lại, một nơi hoàn toàn vô thưởng vô phạt? Người ta chỉ nhận thấy bốn mùa thay đổi khi nhìn lên bầu trời. Báo hiệu mùa xuân, chỉ có hương vị của không khí hay những lẵng hoa do những chú bé bán hàng mang từ ngoại ô vào; đấy là một “mùa xuân” người ta đem bán ở chợ. Mùa hè, mặt trời thiêu đốt những ngôi nhà khô khốc và phủ lên các bức tường một lớp tro xám xịt; lúc đó, người ta chỉ còn có thể sống được trong bóng râm của những cánh cửa đóng kín mít. Mùa thu, trái lại, thì ngập ngụa bùn lầy. Thời tiết chỉ dễ chịu vào mùa đông.

Có một cách tiện lợi để tìm hiểu một thành phố, là xem người ta làm ăn thế nào, yêu như thế nào và chết ra sao. Trong cái thành phố nhỏ bé của chúng tôi - phải chăng do ảnh hưởng của khí hậu? - tất cả những cái đó diễn ra đồng thời, vừa cuồng nhiệt vừa âm thầm. Nghĩa là ở đấy, người ta sầu muộn và chăm chút cho mình những thói quen. Đồng bào chúng tôi làm việc nhiều, nhưng bao giờ cũng cốt để làm giàu. Chủ yếu họ quan tâm đến buôn bán và trước hết - theo cách nói của họ - lo làm apphe. Dĩ nhiên, họ cũng ưa thích những thú vui bình thường, họ yêu phụ nữ, thích xem phim và tắm biển. Nhưng một cách rất hợp lý, họ dành những thú vui đó cho tối thứ Bảy và ngày Chủ nhật, còn những ngày khác trong tuần, thì ra sức kiếm cho thật nhiều tiền. Chiều đến, từ công sở ra về, họ tụ tập ở quán cà phê vào những giờ nhất định, đi dạo chơi bao giờ cũng vẫn ở trên một đại lộ ấy - hoặc nữa ra ngồi ở ban công. Ham thích của lớp trẻ thì dữ dội và ngắn ngủi, còn thói tật của lớp người có tuổi thì không vượt qua mấy hội chơi cầu, mấy bữa tiệc của các hội ái hữu và mấy câu lạc bộ đánh bài ăn tiền ra trò.

Chắc hẳn người ta sẽ cho rằng tình hình đó không riêng gì là của thành phố chúng tôi và xét cho cùng, người đương thời đều như vậy cả. Chắc hẳn ngày nay, không có gì tự nhiên hơn là thấy người ta lao động từ sáng đến tối, và sau đó dành hết thì giờ còn lại để chơi bài, đến quán cà phê và nói chuyện phiếm. Nhưng có những thành phố và đất nước mà ở đấy, thỉnh thoảng người ta có nghi vấn chuyện này chuyện nọ. Nói chung, cái đó không làm thay đổi cuộc sống. Nhưng dầu sao vẫn có chuyện nghi hoặc và bao giờ đó cũng là một cái lợi. Trái lại, Oran rõ ràng là một thành phố không có nghi hoặc, nghĩa là một thành phố hoàn toàn hiện đại. Vì vậy không cần thiết phải xác định ở đây người ta yêu đương như thế nào. Đàn ông và đàn bà hoặc nhanh chóng ngốn ngấu nhau trong cái gọi là hành động ái ân hoặc cùng nhau chung sống lâu dài. Giữa hai thái cực ấy, thường không có cái trung dung. Như thế cũng chẳng có gì độc đáo. Ở Oran cũng như ở nơi khác, vì thiếu thì giờ và suy nghĩ, người ta bắt buộc phải yêu đương mà không biết là mình yêu đương.
dichhach

Cái độc đáo trong thành phố chúng tôi là nỗi khó nhọc của người ta khi phải chết. Vả lại, nói “khó nhọc” thì không thỏa đáng lắm, mà đúng hơn thì phải nói “khó chịu”. Đau ốm thì có bao giờ thú vị, nhưng có những thành phố và đất nước ở đó người ta nâng đỡ anh trong khi bệnh tật, ở đó có thể nói anh phó thác cho người khác. Một người bệnh bao giờ cũng cần sự dịu dàng, cũng muốn có một nơi nương tựa, ấy là điều rất tự nhiên. Nhưng ở Oran, cái khắc nghiệt của khí hậu, tầm quan trọng của những apphe phải giải quyết, cái tẻ nhạt của cảnh vật, cái thoáng qua của buổi hoàng hôn và tính chất các thú vui, tất thảy đều đòi hỏi người ta phải khỏe mạnh, ở đây, người ốm đau cảm thấy thật cô đơn. Huống hồ một người hấp hối, mắc kẹt sau hàng trăm bức tường bị đốt nóng như rang, trong lúc cũng vào giờ phút ấy, cả một dân cư, trước máy điện thoại hay trong tiệm cà phê, bàn tán về hối phiếu, về vận đơn, về chiết khấu. Chắc hẳn bạn đọc hiểu được cái khó chịu người ta cảm thấy trong khi chết, dù là cái chết hiện đại, khi nó đến như vậy ở một xứ khô cằn.

Có lẽ mấy lời giới thiệu trên đây làm cho bạn đọc có một khái niệm đầy đủ về thành phố chúng tôi. Vả lại, không nên cường điệu bất cứ cái gì hết. Cái cần nhấn mạnh, là cái vẻ vô vị của thành phố và của cuộc sống ở đây. Nhưng hễ đã có thói quen là người ta có thể sống không khó khăn gì. Khi thành phố chúng tôi khuyến khích người ta tạo lập thói quen, thì có thể nói mọi cái đều tốt đẹp. Dĩ nhiên, dưới góc độ này, cuộc sống không thật say mê. Nhưng ít nhất ở đây không có tình trạng lộn xộn. Và nhân dân chúng tôi, thẳng thắn, thân ái và hoạt bát, luôn luôn được khách du lịch mến mộ một cách đúng mực. Cái thành phố thiếu cảnh đẹp, thiếu cỏ cây và không hồn này, cuối cùng hình như trở nên êm ái và khiến người ta yên tâm. Nhưng phải công bằng mà nói thêm rằng nó được “ghép” vào một cảnh quan vô song, giữa một cao nguyên trơ trụi, bốn phía là những ngọn đồi lấp lánh ánh nắng, trước một vũng đường nét tuyệt vời. Chỉ có điều đáng tiếc là nó được xây dựng, lưng ngoảnh ra vịnh và vì vậy người ta không thể nhìn thấy biển, mà phải luôn luôn đi tìm kiếm.

Đến đây, bạn đọc dễ dàng chấp nhận rằng không gì có thể làm cho đồng bào chúng tôi chờ mong những sự kiện ngẫu nhiên xảy tới mùa xuân năm ấy. Như chúng ta sẽ rõ trong những phần sau, đó là dấu hiệu đầu tiên của một loạt biến cố nghiêm trọng mà chúng tôi muốn tường thuật ở đây. Những sự kiện ấy, người này thì cho là hết sức tự nhiên; người khác, trái lại, cho là không tin được. Nhưng dẫu sao, một ký giả không thể căn cứ vào những sự trái ngược nhau ấy. Nhiệm vụ của anh ta chỉ là nói: “Cái này đã xảy tới” khi anh ta biết quả thật cái đó đã xảy tới, biết nó có quan hệ đến cuộc sống của cả một dân tộc, và bởi lẽ ấy, có hàng nghìn nhân chứng sẽ đánh giá trong thâm tâm họ những điều anh ta nói ra trung thực đến đâu.

Vả lại, người kể chuyện ở đây, mà bao giờ bạn đọc cũng biết lúc cần thiết, không thể lợi dụng một tư cách nào trong một công việc thuộc loại này, nếu như không phải vì một sự ngẫu nhiên, anh ta lượm lặt được một số lời cung khai và nếu như không phải vì tình thế bắt buộc, anh ta phải dính líu tới tất cả những gì anh ta muốn tường thuật. Chính cái đó cho phép anh ta làm công việc của nhà sử học. Đương nhiên, một nhà sử học, dù chỉ là một tay tài tử, bao giờ cũng có tư liệu của mình: trước hết là sự chứng kiến của bản thân; sau nữa là sự chứng kiến của những người khác, vì, với nhiệm vụ của mình, anh ta phải thu lượm những lời gửi gắm của mọi nhân vật trong tập ký, và cuối cùng là những văn bản đã rơi vào tay anh ta. Ý định của anh ta là khai thác khi thấy cần thiết, và sử dụng theo ý thích của mình. Anh ta lại còn muốn... Nhưng có lẽ đã đến lúc gác lại những lời bình luận và những sự rào đón để đi thẳng vào câu chuyện. Việc phản ánh những ngày đầu tiên đòi hỏi phải ít nhiều tỉ mỉ.

Sáng ngày 16 tháng Tư, khi bước ra khỏi phòng làm việc, bác sĩ Rieux đụng phải một con chuột chết ở giữa cầu thang. Ông gạt con vật ra một bên mà không lưu ý và bước xuống dưới nhà. Nhưng ra tới ngoài đường, ông chợt nghĩ con chuột không nằm đúng chỗ và quay lại báo cho người gác cổng. Trước sự phản ứng của lão Michel, ông cảm thấy rõ hơn cái khác thường trong sự phát hiện của mình. Đối với ông, sự có mặt của con chuột chết chỉ là một hiện tượng kỳ cục, nhưng đối với ông lão gác cổng, thì lại là một sự xấu xa đáng căm giận. Ông lão một mực khăng khăng trong khu nhà này không có chuột. Rieux cam đoan là trên thang gác tầng hai có một con và có lẽ là một con chuột chết, nhưng niềm tin của lão Michel là không có chuột vẫn cứ như đinh đóng cột. Trong khu nhà không hề có chuột, vậy con chuột này phải từ ngoài mang vào. Tóm lại, đây là một trò nghịch ngợm.

Ngay tối hôm ấy, khi đứng trong hành lang khu nhà, Bernard Rieux đang lục tìm chìa khoá để lên buồng thì bỗng thấy, từ cuối hành lang tối om xuất hiện một con chuột to tướng, chân bước chập choạng và bộ lông ướt nhèm. Con vật dừng lại hình như để lấy thăng bằng, chạy về phía ông, lại dừng lại, rồi vừa quay vòng tròn vừa rít lên một tiếng nhỏ, và cuối cùng ngã vật xuống, máu trào ra từ cái mõm há hốc. Rieux ngắm con vật rồi bước lên cầu thang về nhà.

Không phải ông nghĩ tới con chuột. Dòng máu tuồn ra từ mõm nó khiến ông trở lại mối bận tâm của mình. Vợ ông, ốm từ một năm nay, ngày mai sẽ đi nghỉ ở một nhà điều dưỡng trên núi. Về đến nhà, ông thấy vợ đang nằm, theo lời khuyên của ông: như vậy để có thể chịu đựng cuộc hành trình vất vả sắp tới. Bà mỉm cười :

- Em cảm thấy rất dễ chịu.

Bà quay mặt về phía chồng, trong luồng ánh sáng của cây đèn ngủ. Đối với Rieux, khuôn mặt ở độ tuổi ba mươi ấy, mặc dù những dấu hiệu của bệnh tật, vẫn là khuôn mặt buổi thanh xuân, có lẽ vì nụ cười xóa hết thảy những cái khác.

- Gắng ngủ đi em - Ông bảo - Mười một giờ, cô hộ lý sẽ đến và anh sẽ đưa em ra chuyến tàu mười hai giờ.

Ông khẽ hôn lên một vầng trán dâm dấp mồ hôi. Ra đến cửa, ông vẫn thấy vợ mỉm cười.

Ngày hôm sau, 17 tháng Tư, lúc tám giờ, khi bác sĩ đi qua, ông lão gác cổng giữ ông lại và tố cáo là có những đứa nghịch ác đã vứt ba con chuột chết vào giữa hành lang. Chắc hẳn chúng đánh chuột với những cái bẫy lớn, vì cả ba con đều ướt đẫm máu. Ông lão đứng trên ngưỡng cửa một lát, tay xách mấy con chuột, chờ xem có nghe tiếng cười nhạo báng của thủ phạm hay không. Nhưng không có gì xảy ra cả.

- A! Mấy thằng nhóc, - Lão Michel thốt lên - thế nào tôi cũng tóm được cổ chúng.

Băn khoăn, Rieux quyết định bắt đầu đi một vòng qua các phố ngoại ô, nơi cư trú của những người bệnh nghèo nhất của mình. Ở đấy, người ta đi thu rác muộn; ô-tô của ông chạy dọc những con đường thẳng và bụi bặm, lướt cạnh những chiếc thùng đựng rác bên lề đường. Trên đường xe đi qua, ông đếm được mười hai xác chuột vứt trong những đống rau xanh bỏ đi và giẻ rách bẩn thỉu.

Người bệnh đầu tiên Rieux đến thăm đang nằm trên giường, trong một căn buồng ngoảnh ra đường, vừa là phòng ngủ vừa là phòng ăn. Một ông già Tây Ban Nha, nét mặt khắc khổ, nhăn nheo. Trước mặt ông lão, trên một tấm mền, có hai cái nồi đựng đầy đậu hạt. Lúc bác sĩ bước vào, ông lão, nửa nằm nửa ngồi, ngửa người ra phía sau để lấy lại hơi thở khò khè, mệt nhọc của một người bị suyễn lâu năm. Bà vợ mang tới một chiếc thau :

- Thưa bác sĩ, - Người bệnh nói trong lúc tiêm thuốc - chúng chạy ra ngoài, bác sĩ thấy không?

- Vâng, - Bà vợ tiếp lời - nhà bên cạnh nhặt được những ba con.

Ông già xoa xoa hai tay vào nhau :

- Chúng chạy ra, ở thùng rác nào cũng có, chắc là đói đến nơi!

Sau này, Rieux nghe cả khu phố xôn xao về chuột. Đi thăm bệnh xong, ông trở về nhà.

- Bác sĩ có một bức điện, ở trên nhà ấy. - Ông lão Michel báo với ông.

Ông hỏi lão có thấy thêm chuột nữa không.

- A! Không, - Ông lão đáp - tôi rình đấy, bác sĩ hiểu chứ? Và những đứa khốn nạn không dám nữa.

Bức điện báo tin là bà cụ thân sinh Rieux ngày mai sẽ tới. Cụ đến chăm sóc nhà cửa cho con trai, trong lúc con dâu ông đi vắng. Khi bác sĩ về đến nhà, cô hộ lý đã có mặt. Rieux thấy vợ đang đứng, áo váy cùng màu, mặt thoa tí phấn. Ông mỉm cười :

- Tốt, - Ông nói - tốt lắm.

Một lát sau, ra đến ga, ông đưa vợ vào toa có giường nằm. Bà nhìn toa tàu :

- Nhiều tiền quá đối với chúng ta, phải không anh?

- Cần phải thế. - Rieux đáp.

- Cái chuyện chuột ấy là thế nào hở anh?

- Anh không rõ. Lạ đây, nhưng rồi sẽ qua đi thôi.

Rồi ông nói nhanh với vợ là ông xin lỗi, nhẽ ra ông phải chăm sóc bà, thế mà ông đã trễ nải. Bà lắc đầu, như thể muốn bảo ông đừng nói. Nhưng ông nói thêm :

- Khi em trở về thì mọi cái sẽ yên ổn hơn. Chúng ta lại sẽ bắt đầu.

- Vâng, - Bà đáp, mắt sáng long lanh - chúng ta lại sẽ bắt đầu.

Một lát sau, bà quay lưng lại và nhìn qua cửa kính. Trên sân ga, người ta chen chúc, xô lấn nhau. Tiếng đầu máy phì phò vang đến tận tai họ. Rieux gọi vợ bằng tên riêng và khi bà quay lại, ông thấy bà đầm đìa nước mắt.

- Thôi em. - Ông nói dịu dàng.

Nụ cười nở lại, nhưng đôi môi hơi mím, trên khuôn mặt chưa ráo nước mắt. Bà thở dài hơi sâu :

- Thôi, anh về đi, mọi cái rồi sẽ tốt đẹp thôi.

Ông ôm hôn vợ, và bây giờ, đứng trên sân ga, ông chỉ thấy thấp thoáng nụ cười của bà phía sau cửa kính.

- Anh van em, - Ông bảo - em phải lo chăm sóc sức khỏe.

Nhưng bà không nghe tiếng.

Trên sân ga, gần cửa ra vào, Rieux gặp Othon, dự thẩm, tay dắt đứa con trai nhỏ. Ông hỏi có phải ông ta đi du lịch không. Othon, người cao lớn, mặc quần áo đen, vừa có vẻ thuộc giới thượng lưu như ngày trước người ta vẫn nói - nhưng lại vừa giống một người phu đám ma. Với giọng nói dịu dàng, ông ta đáp vắn tắt :

- Tôi ra đón bà Othon đi thăm gia đình trở về.

Đầu máy huýt còi.

- Đám chuột...? - Othon hỏi.

Rieux nhìn theo hướng xe lửa rồi quay trở lại phía cửa ra vào.

- Vâng, - Ông đáp - chẳng sao đâu.

Ông nhớ lại là lúc đó một người phu quét rác đi qua, xách một cái thùng đựng đầy chuột chết.

Chiều hôm ấy, vào đầu giờ khám, Rieux tiếp một người trẻ tuổi mà ông được biết là nhà báo và buổi sáng đã đến tìm ông một lần. Anh ta tên là Raymond Rambert. Người thấp, vai hở, nét mặt cương nghị, mắt sáng và thông minh, Rambert mặc quần áo thể thao và có vẻ sống phong lưu. Anh đi thẳng vào vấn đề. Một tờ báo lớn ở Paris giao cho anh điều tra về đời sống của người Ả Rập và anh muốn thu lượm tin tức về tình hình sức khỏe của họ. Rieux cho biết tình hình không lấy gì làm tốt. Nhưng trước khi nói kỹ hơn, ông muốn biết nhà báo có được phép nói sự thật không?

- Dĩ nhiên. - Rambert đáp.

- Tôi muốn nói là ông có thể thẳng tay chỉ trích không?

- Thẳng tay thì không, phải nói rõ như thế. Nhưng tôi cho rằng chỉ trích như thế sẽ không có cơ sở.

Rieux dịu dàng đáp là quả vậy, một sự chỉ trích như thế thì không có cơ sở, nhưng đặt câu hỏi như trên, ông chỉ muốn biết trong khi xác nhận sự thật, Rambert có phải dè chừng gì không.

- Tôi chỉ chấp nhận những lời xác nhận không phải dè chừng. Vì vậy tôi sẽ không dùng thông tin của mình để làm chỗ dựa cho lời xác nhận của ông đâu.

- Ông nói chẳng khác nào Saint-Just 1. - Tay nhà báo mỉm cười đáp.

Không nâng cao giọng, Rieux bảo là ông không hay biết gì về lời lẽ Saint-Just, nhưng lời lẽ của ông là lời lẽ của một người đã chán ngán cái xã hội mình đang sống, tuy ông yêu đồng loại và quyết không chấp nhận bất công và nhượng bộ. Rambert rụt cổ nhìn ông :

- Tôi nghĩ là tôi đã hiểu ông. - Cuối cùng anh nói và đứng dậy.

Bác sĩ tiễn anh ra cửa :

- Tôi cảm ơn ông có cách nhìn nhận tình hình như vậy.

Rambert có vẻ sốt ruột :

- Vâng, - Anh đáp - tôi hiểu, xin lỗi ông là tôi đã làm phiền ông.

Bác sĩ bắt tay anh và bảo là anh có thể viết một thiên phóng sự thú vị về số chuột chết lúc này trong thành phố.

- A! - Rambert vội thốt lên - Cái đó làm tôi thích thú.

Lúc mười bảy giờ, khi ra đi thăm những người bệnh khác, bác sĩ Rieux gặp ở giữa cầu thang một người còn trẻ, mập mạp, mặt to ụ, má hóp, lông mày rậm. Thỉnh thoảng, ông có gặp anh ta ở nhà những người Tây Ban Nha làm nghề nhảy múa và ở tầng trên cùng trong khu nhà. Jean Tarrou vừa mải miết hút thuốc vừa chăm chú nhìn một con chuột giãy chết trên một bậc cầu thang, dưới chân mình. Anh ngước đôi mắt màu tro nhìn bác sĩ, vẻ điềm tĩnh và có phần chăm chú, chào ông và nói thêm là sự xuất hiện của chuột là điều kỳ lạ.

- Đúng - Rieux đáp - nhưng cuối cùng nó sẽ làm chúng ta khó chịu.

- Ở một mặt nào đó, thưa bác sĩ, và chỉ ở một mặt nào đó thôi. Chưa bao giờ chúng ta thấy như thế này, chỉ có vậy thôi. Nhưng đối với tôi, điều đó rất thú vị, vâng, thực sự thú vị.

Tarrou lấy tay hất ngược mái tóc ra sau, nhìn con chuột bây giờ đã bất động - một lần nữa, rồi mỉm cười với Rieux :

- Nhưng, thưa bác sĩ, đấy chủ yếu là công việc của ông lão gác cổng.

Đúng vào lúc đó, bác sĩ gặp ông lão đứng trước nhà, tựa lưng vào tường cạnh cửa ra vào, bộ mặt vốn ngày thường đã sung huyết, lúc này tỏ ra mệt mỏi.

- Vâng, tôi biết - Lão Michel đáp lời bác sĩ khi ông nói với lão về một phát hiện mới - Bây giờ thì nhặt được một lúc hai ba con. Nhưng ở các khu nhà khác cũng thế cả.

Ông lão tỏ vẻ chán nản và lo lắng. Bất giác lão lấy tay xoa xoa cổ. Rieux hỏi lão sức khỏe ra sao. Dĩ nhiên, lão không thể nói là không tốt. Nhưng lão cảm thấy bứt rứt khó chịu. Theo lão, cái chủ yếu là tinh thần bị xáo động. Đám chuột đã cho lão một đòn và tình hình phải tốt hơn nhiều khi chúng không còn nữa.

Nhưng sáng hôm sau, ngày 18 tháng Tư, khi đón mẹ từ ga về, Rieux thấy lão Michel, bộ mặt thiểu não hơn: từ hầm nhà lên gác xép, trên các bậc thang, có cả một chục xác chuột. Thùng rác các nhà xung quanh cũng đầy xác chuột. Bà cụ, mẹ Rieux, khi nghe tin, không tỏ vẻ ngạc nhiên :

- Đó là những điều vẫn xảy ra thôi.

Bà cụ là một phụ nữ nhỏ nhắn, tóc bạc, mắt đen láy hiền từ.

- Mẹ sung sướng được gặp con, Bernard ạ - Cụ bảo - Lũ chuột chẳng sao ngăn cản được.

Rieux đồng tình; quả là đối với cụ, cái gì cũng có vẻ dễ dàng.

Nhưng ông vẫn gọi điện cho cơ quan diệt chuột của thị xã mà ông quen tay giám đốc. Liệu ông này đã nghe người ta nói là chuột đến chết hàng đàn ở ngoài trời không? Giám đốc Mercier đã có nghe nói, và ngay trong cơ quan ông ta, không cách xa bến tàu, cũng có đến năm chục con. Nhưng ông ta nghĩ bụng không biết tình hình có nghiêm trọng không. Rieux không có ý kiến dứt khoát, song ông nghĩ phải có sự can thiệp của cơ quan diệt chuột.

- Được, - Mercier bảo - nhưng phải có lệnh. Nếu ông cho là nên làm thì tôi có thể xin lệnh.

- Cứ nên làm. - Rieux đáp.

Người đàn bà giúp việc nhà đến báo với ông là người ta nhặt được mấy trăm con chuột chết trong khu nhà máy lớn, nơi chồng chị làm việc.

Dẫu sao thì cũng đâu vào thời kỳ này, người ta bắt đầu lo sợ. Vì, quả là từ ngày 18, các nhà máy, kho tàng đầy rẫy hàng trăm xác chuột. Có những trường hợp người ta buộc phải giết chết những con hấp hối kéo dài. Nhưng từ ngoại ô vào đến trung tâm thành phố, bất kỳ chỗ nào Rieux đi qua, bất kỳ chỗ nào đồng bào chúng tôi tụ tập, chuột cũng lúc nhúc hàng đống, trong thùng rác, hay xếp hàng dài, dọc các con khe. Ngay ngày hôm đó, báo chí buổi chiều nắm lấy tình hình và đặt câu hỏi là tòa thị chính có ý định hoạt động hay không và đã dự kiến những biện pháp khẩn cấp gì để trừ khử cho dân chúng cái nạn xâm nhập kinh tởm này. Hội đồng thị chính chưa có ý định và dự kiến gì cả, mà chỉ mới bắt đầu nhóm họp để bàn bạc. Cơ quan diệt chuột nhận được lệnh nhặt xác chuột chết vào các buổi sáng, lúc bình minh. Khi nhặt xong, hai chiếc xe của cơ quan này phải chở xác chuột đến nhà máy đốt rác để thiêu hủy.

Nhưng những ngày sau đó, tình hình nghiêm trọng thêm. Số chuột nhặt được ngày một tăng. Từ ngày thứ tư, chuột bắt đầu kéo ra chết hàng đàn. Từ các xó xỉnh, công trình ngầm, hầm nhà, cống rãnh, chúng loạng choạng leo thành những đàn dài để đến lảo đảo ngoài trời, quay vòng tròn và chết bên cạnh người. Ban đêm, trong các hành lang hay trên các đường hẻm, nghe rõ tiếng kêu chít chít của chúng trong cơn hấp hối. Buổi sáng, ở các cửa ô, người ta thấy chúng lăn ra ngay bên suối, một vệt máu nhỏ trên mõm nhọn hoắt, con thì trương lên, hôi thối, con thì cứng đờ, bộ ria còn dựng đứng. Ngay trong nội thành, người ta cũng gặp chúng hàng đống, trên các bậc thang hay trong sân. Chúng cũng đến chết lẻ tẻ trong hành lang các công sở, trong sân chơi trường học và đôi khi cả trên hiên các quán cà phê. Đồng bào chúng tôi kinh hoàng khi đụng phải chúng ở những nơi đông người qua lại nhất trong thành phố. Quảng trường duyệt binh, các đại lộ, vườn hoa ngoài bãi biển từng quãng một đều có xác chuột. Sáng sớm, người ta đi nhặt hết xác, nhưng sau đó, trong ngày, xác chúng mỗi lúc một nhiều thêm. Trên vỉa hè, nhiều người đi dạo buổi tối cảm thấy dưới chân mình cái khối mềm nhũn của một xác chuột mới chết. Người ta tưởng như dưới các ngôi nhà, mặt đất tẩy hết ra ngoài cái lượng thể dịch của nó và cho nổi lên trên những cái mụn nhọt từ trước đến nay âm ỉ cào xé lòng đất. Bạn đọc thử hình dung không thôi nỗi kinh hoàng của cái thành phố nhỏ bé chúng tôi, từ trước đến nay yên tĩnh là thế mà chỉ sau vài ngày là xáo động cả lên như thể một con người khỏe mạnh máu đang đặc sánh bỗng nhiên sôi sục lên.

Tình hình tiến triển tới mức trong một buổi phát những tin tức mà họ không bảo đảm, hãng Ransdoc (cung cấp tư liệu thông tin về mọi đề tài) tuyên bố là chỉ riêng một ngày 25, người ta đã nhặt và thiêu 6.231 con chuột. Con số này nêu lên rõ ràng cái quang cảnh hàng ngày trước mắt của thành phố và làm tăng thêm không khí hoang mang. Cho đến lúc bấy giờ, người ta chỉ phàn nàn về một sự kiện hơi ghê tởm. Gần đây, cái hiện tượng không thể xác định phạm vi và tìm ra cội nguồn này có một cái gì uy hiếp người ta. Chỉ riêng ông lão bị hen suyễn người Tây Ban Nha là tiếp tục xoa xoa tay và nhắc đi nhắc lại: “Chúng ra chúng ra” với một niềm vui già nua.

Nhưng đến ngày 28 tháng tư, khi hãng Ransdoc thông báo người ta lượm được khoảng tám nghìn xác chuột thì nỗi lo sợ trong thành phố lên đến tột đỉnh. Người ta yêu cầu những biện pháp triệt để, người ta buộc tội nhà chức trách, và một số ít gia đình có nhà trên bờ biển đã nói tới việc di chuyển ra đấy. Nhưng ngày hôm sau, hãng thông tấn lại báo là hiện tượng nói trên chấm dứt một cách đột ngột và cơ quan diệt chuột chỉ nhặt được một số lượng chuột không đáng kể. Thành phố thở phào.

Thế nhưng cũng chính ngày hôm đó, lúc mười hai giờ trưa, khi đỗ xe trước nhà, bác sĩ Rieux bỗng thấy ông lão gác cổng từ phía cuối đường cất bước khó nhọc, đầu cúi thấp, tay chân dang rộng, dáng điệu như con rối. Ông lão vịn cánh tay một linh mục mà bác sĩ nhận ra ngay. Một đôi lần, ông đã gặp cha Paneloux, một giáo sĩ đạo Thiên Chúa, uyên bác và hăng hái, được mọi người trong thành phố mến yêu, kể cả những người thờ ơ với tôn giáo. Ông chờ hai người đi tới. Ông lão Michel, hai mắt long lanh và hơi thở như rít lên. Lão cảm thấy khó ở và muốn ra ngoài hít thở không khí. Nhưng nghe đau dữ dội ở cổ, ở nách và ở bẹn, lão buộc phải quay trở về và nhờ cha Paneloux dìu đi.

- Đấy là những cục u - Lão nói - Tôi phải cố gắng mới lê chân nổi.

Thò cánh tay ra ngoài cửa xe, bác sĩ sờ vào phía dưới cổ lão Michel, ở đây nổi lên một cục u như một cái mắt gỗ.

- Lão đi nằm đi, và cặp nhiệt độ; chiều nay tôi sẽ đến thăm.

Ông lão gác cổng đi rồi, Rieux hỏi cha Paneloux nghĩ thế nào về cái chuyện chuột này.

- Ồ! - Paneloux đáp - Chắc hẳn là một bệnh dịch - Và mắt ông ta nheo lại như mỉm cười phía sau đôi mắt kính tròn.

Sau bữa ăn trưa, Rieux đang đọc lại bức điện của nhà điều dưỡng báo vợ ông đã tới nơi thì bỗng nghe chuông điện thoại. Một bệnh nhân cũ, nhân viên tòa thị chính gọi điện cho ông. Anh ta tự chứng thắt động mạch chủ từ lâu, nhưng vì anh nghèo, Rieux chữa không lấy tiền.

- Vâng, - Anh ta nói - bác sĩ còn nhớ ra tôi. Nhưng hôm nay là một người bệnh khác. Mời bác sĩ tới nhanh, ở nhà người hàng xóm tôi đã xảy ra chuyện gì đó.

Anh ta nói như đứt hơi. Rieux nghĩ tới ông lão gác cổng và quyết định sẽ đến thăm luôn. Mấy phút sau, ông gõ cửa một căn phòng nhỏ trên đường Faidherbe, ở ngoại ô. Đến giữa cầu thang ẩm và hôi, ông gặp Joseph Grand đi xuống đón ông. Một người đàn ông tuổi khoảng năm mươi, râu mép màu hung, người cao và gù, vai hẹp, tay chân gầy guộc.

- Bây giờ đã khá hơn, - Anh nói khi bước tới gặp Rieux - nhưng vừa qua, tôi tưởng hắn chết mất.

Anh hỉ mũi. Lên đến tầng ba, tầng cuối cùng, Rieux thấy trên cánh cửa bên trái, dòng chữ viết bằng phấn đỏ: “Mời vào, tôi đã treo cổ”.

Hai người vào nhà. Sợi dây thòng lọng trên một chiếc ghế tựa lật ngửa, còn một cái bàn thì bị đẩy vào góc nhà. Sợi dây lủng lẳng trong khoảng không.

- Tôi gỡ hắn ra kịp thời - Grand như vừa nói vừa tìm từ, mặc dù anh dùng lời lẽ hết sức đơn giản - Đúng vào lúc tôi ra khỏi nhà và nghe tiếng động. Lúc thấy mấy chữ viết trên cửa - không biết nói với ông thế nào nhỉ? - Tôi ngờ là một trò đùa. Nhưng hắn rên rỉ một cách khác thường và thậm chí có thể nói là bi thảm. - Anh gãi gãi đầu - Tôi nghĩ rằng hắn thắt cổ như vậy chắc phải đau đớn lắm. Dĩ nhiên tôi đã đi vào.

Hai người đẩy một cánh cửa và đứng trước một căn buồng sáng sủa nhưng đồ đạc sơ sài. Một người bé nhỏ và mập nằm trên một chiếc giường sắt mạ đồng. Hắn thở dốc và nhìn họ với đôi mắt sung huyết. Bác sĩ Rieux đứng lại. Giữa hai nhịp thở, ông như nghe tiếng chuột chin chít. Nhưng trong bốn góc buồng, không hề có gì động đậy. Rieux đi lại bên giường. Hắn không bị ngã từ quá cao xuống và cũng không đột ngột, các đốt xương sống vẫn không sao. Dĩ nhiên có ngạt thở chút đỉnh. Hắn sẽ phải chụp X quang. Bác sĩ chích cho hắn một mũi dầu long não và bảo trong vài ngày mọi cái sẽ ổn.

- Cảm ơn bác sĩ. - Hắn nói, giọng khó thở.

Rieux hỏi Grand đã báo sở cảnh sát chưa. Anh đáp, vẻ bối rối.

- Không, ồ không! Tôi tưởng cái gấp nhất là...

- Dĩ nhiên - Rieux cắt lời anh ta - tôi sẽ báo vậy.

Nhưng lúc đó người bệnh cựa quậy và ngồi dậy, hắn nói hắn khỏe mạnh và không cần phải báo.

- Ông cứ yên tâm - Rieux bảo - không thành vấn đề gì cả đâu, ông hãy tin tôi, còn tôi, tôi phải khai báo.

- Ôi! - Hắn thốt lên.

Rồi ngửa người ra sau và khóc thút thít. Đập đập bộ râu mép một lúc, Grand đi lại gần hắn và bảo :

- Ông Cottard này, ông thông cảm cho. Bác sĩ phải chịu trách nhiệm đây. Nếu chẳng hạn ông lại có ý làm lại...

Nhưng Cottard vừa khóc vừa nói hắn sẽ không làm lại nữa, đây chỉ là một phút điên dại và hắn chỉ muốn người ta để hắn yên. Rieux ghi đơn thuốc.

- Thôi được - Ông bảo - Gác cái đó lại; trong vài ngày, tôi sẽ trở lại. Nhưng ông chớ làm điều dại dột nữa.

Trên cầu thang, Rieux bảo Grand là ông bắt buộc phải khai báo, nhưng sẽ yêu cầu sở cảnh sát hai ngày sau mới mở cuộc điều tra.

- Đêm nay, phải theo dõi ông ta. Ông ta có gia đình không?

- Tôi không biết gia đình hắn. Nhưng tôi có thể trông coi được.

Anh lắc đầu nói tiếp :

- Bản thân hắn, bác sĩ thấy đấy, tôi cũng không thể nói là tôi quen biết. Nhưng vẫn phải giúp đỡ lẫn nhau.

Đang đi trong hành lang, bất giác Rieux nhìn vào các ngóc ngách và hỏi Grand trong khu phố anh chuột đã biến hết chưa. Anh không hay biết gì hết. Quả là người ta có nói chuyện chuột, nhưng anh ít chú ý đến dư luận trong phố.

- Tôi có những mối quan tâm khác. - Anh nói.

Rieux chia tay anh. Ông vội về thăm ông lão gác cổng trước khi viết thư cho vợ.

Trẻ bán báo buổi chiều rao là nạn chuột đã bị chặn lại. Nhưng Rieux thấy người bệnh nửa người nhoài ra khỏi giường, một tay đặt lên bụng, một tay ôm lấy cổ, nôn thốc nôn tháo vào trong một cái thùng đựng rác một thứ nước mật lờ nhờ. Cố mãi đến hụt hơi, cuối cùng, ông lão gác cổng nằm xuống. Nhiệt độ lên tới ba chín rưỡi, hạch ở cổ và tay chân sưng tấy, hai bên mạn sườn có hai chấm đen ngày một loang rộng ra. Bây giờ ông lão kêu đau trong nội tạng.

- Nóng quá, con vật khốn nạn nó đốt tôi như lửa ấy.

Những nhớt đen trong miệng khiến lão nói lúng búng. Lão quay về phía Rieux cặp mắt lồi ướt đầm nước mắt vì cơn đau đầu. Bà vợ lo lắng nhìn bác sĩ lúc đó đứng lặng im.

- Thưa bác sĩ, - Bà ta hỏi - bệnh gì thế ạ?

- Có thể là bất cứ cái gì. Nhưng chưa có gì thật chắc cả. Từ nay đến tối, nhịn đói và uống thuốc lọc huyết. Phải cho uống nhiều vào.

Đúng vào lúc ông lão khát đến cháy họng.

Về đến nhà, Rieux gọi điện cho Richard, bạn đồng nghiệp, một trong những thầy thuốc có uy tín nhất trong thành phố.

- Không - Richard đáp - tôi không hề thấy có gì đặc biệt cả.

- Không có cơn sốt với viêm cục bộ sao?

- A! Có, có hai ca, với hạch bị sưng nóng lắm.

- Một cách bất bình thường à?

- Ồ, - Richard đáp - cái bình thường, ông biết đấy...

Tối hôm đó, ông lão gác cổng mê sảng và khi nhiệt độ lên tới bốn mươi, ông lão kêu la về chuột. Rieux cố gây một ca apxe kết tụ. Bị nhựa thông đốt nóng, ông lão rú lên: “A! Những con vật khốn nạn!”.

Những cái hạch ngày mỗi lớn thêm, sờ thấy cứng và ráp. Bà lão hốt hoảng.

- Bà hãy thức trông ông lão. - Bác sĩ bảo - Và nếu cần thì gọi tôi.

Ngày hôm sau, 30 tháng Tư, bầu trời xanh và ẩm, gió ấm bắt đầu thổi tới, mang theo mùi hoa từ các vùng ngoại ô xa nhất. Tiếng động ban mai trên đường phố hình như mạnh và vui hơn thường ngày. Trong thành phố nhỏ bé của chúng tôi - thoát khỏi nỗi lo sợ âm ỉ trong suốt tuần qua, - ngày hôm ấy là một ngày xuân mới. Bản thân Rieux yên tâm khi nhận được thư vợ, bước xuống nhà ông lão gác cổng, lòng nhẹ nhõm. Và quả thật, sáng nay, nhiệt độ ông lão tụt xuống ba tám. Người bệnh ngồi trên giường mỉm cười, nom có yếu đi.

- Tình hình có khá hơn phải không, thưa bác sĩ? - Bà lão hỏi.

- Chúng ta cứ phải chờ đã.

Nhưng đến trưa, cơn sốt đột ngột lên tới bốn mươi độ. Người bệnh liên tục mê sảng và nôn trở lại. Hạch ở cổ sờ vào thì đau và ông lão muốn tìm cách xoay đầu ra thật xa thân mình. Bà vợ ngồi dưới chân giường, hai tay đặt trên nền, khẽ sờ chân người bệnh. Bà ta nhìn Rieux.

- Bà này - Rieux bảo - phải cách ly ông lão và cố gắng tiến hành một cách điều trị đặc biệt. Tôi gọi điện cho bệnh viện và chúng ta sẽ chở ông lão đi bằng xe cứu thương.

Hai tiếng sau, trong xe, bác sĩ và bà lão cúi nhìn người bệnh. Ông lão, miệng phủ đầy những vết sùi, lẩm bẩm mấy từ rời rạc: “Đàn chuột!” Da xanh xao, môi màu sáp, mí mắt màu chì, hơi thở không đều và gấp gáp bị những cái hạch giày vò, lão cuộn tròn lại trên chiếc ghế dài như thể muốn gập nó lại bó lấy thân hình mình, hay như thể có một cái gì từ dưới lòng đất kêu gọi ông ta không ngừng. Ông lão ngạt thở dưới một sức nặng vô hình. Bà vợ ngồi khóc.

- Không còn hy vọng nữa phải không, thưa bác sĩ?

- Ông ấy mất rồi. - Rieux đáp.

Cái chết của ông lão gác cổng có thể nói là đánh dấu sự kết thúc một thời kỳ đầy rẫy những dấu hiệu khiến người ta ngạc nhiên và sự mở đầu một thời kỳ khác, tương đối khó khăn hơn, trong đó nỗi kinh ngạc những buổi đầu biến dần thành nỗi kinh hoàng thực sự. Đồng bào chúng tôi chưa bao giờ nghĩ cái thành phố nhỏ bé này có thể là một nơi đặc biệt thuận lợi cho họ hàng nhà chuột đến chết dưới ánh nắng mặt trời và những người gác cổng bỏ mạng vì những bệnh tật kỳ cục. Bây giờ thì họ thấy rõ điều đó. Tóm lại, về phương diện này, họ đã nhầm lẫn và ý nghĩ của họ, cần phải xem xét lại. Giá như tình hình chỉ dừng lại ở đấy thì chắc hẳn thói quen sẽ làm người ta quên đi. Nhưng những đồng bào khác của chúng tôi, và không phải chỉ là những người gác cổng hay những kẻ nghèo khổ, đã phải nối gót ông lão Michel. Từ đó, người ta bắt đầu sợ hãi và suy tư.

Tuy nhiên, trước khi kể chi tiết những sự kiện mới này, người tường thuật thấy cần nhắc đến quan điểm của một nhân chứng khác về thời kỳ vừa được mô tả này. Jean Tarrou - mà bạn đọc đã bắt gặp ở phần đầu câu chuyện - đến Oran trước đây vài tuần lễ và ở trong một khách sạn lớn ở trung tâm thành phố. Bề ngoài, anh ta sống khá thoải mái với nguồn lợi tức của mình. Nhưng không ai biết anh từ đâu tới và tới với mục đích gì, mặc dầu dần dần anh không còn xa lạ với thành phố nữa. Người ta gặp anh ở tất cả những nơi công cộng. Từ đầu mùa xuân, người ta thường gặp anh trên bãi biển: anh thường bơi lội với một niềm vui thích rõ rệt. Nhân hậu, luôn luôn tươi cười, hình như anh là bạn của mọi thú vui bình thường, mà không trở thành nô lệ của chúng. Thực ra, thói quen duy nhất người ta tìm thấy ở anh là việc anh gặp gỡ đều đặn các nhạc công và vũ đạo người Tây Ban Nha cư trú nhiều trong thành phố.

Dẫu sao, những cuốn sổ tay của anh cũng là một thứ ký sự về thời kỳ gian khổ này. Nhưng đây là một tập ký rất đặc biệt hình như tuân theo một định kiến vô nghĩa lý. Thoạt đầu, tưởng như Tarrou coi thường mọi người mọi vật, không lấy gì làm điều hết. Tóm lại, trong lúc mọi người hoang mang, thì anh chăm chú làm một sử gia của những cái không hề có lịch sử. Dĩ nhiên người ta có thể phàn nàn cái định kiến ấy và cho đó là biểu hiện của một con tim khô cằn. Nhưng không phải vì vậy mà những cuốn sổ tay ấy không thể cung cấp cho một tập ký sự về thời kỳ này vô số những chi tiết tuy thứ yếu song vẫn có tầm quan trọng, và chính tính chất kỳ cục của chúng không cho phép chúng ta đánh giá quá sớm nhân vật hay hay này.

Jean Tarrou bắt tay vào ghi chép ngay sau khi tới Oran. Ngay từ đầu, anh tỏ ra mãn nguyện một cách kỳ lạ khi đến một thành phố tự bản thân nó xấu xí đến thế. Anh miêu tả chi tiết hai tượng sư tử bằng đồng đen trước tòa thị chính và có những nhận xét rộng lượng đối với tình hình không có cây cối, đối với những ngôi nhà thiếu duyên dáng và cách bố trí phi lý của thành phố. Tarrou cũng ghi lại những mẩu đối thoại anh nghe được trong tàu điện và trên đường phố, mà không bình luận gì thêm cả, trừ phi về sau một chút, đối với những lời trò chuyện liên quan đến một anh chàng Camps nào đó. Tarrou nghe hai người thu tiền vé tàu điện trao đổi với nhau :

- Cậu biết rõ Camps chứ? - Một người hỏi.

- Camps à? Người cao lớn, có bộ râu mép đen sì phải không?

- Đúng thế. Hắn phụ trách bẻ ghi mà.

- Đúng, đúng thế.

- Nhưng hắn chết rồi.

- A! Chết bao giờ thế?

- Sau cái chuyện chuột ấy.

- Thế à? Hắn bị cái gì thế?

- Tớ không rõ, đâu bị sốt hay sao ấy. Vả lại, hắn vốn không khỏe. Hắn bị apxe dưới nách và không chống chọi nổi.

- Nhưng hắn trông cũng như mọi người khác.

- Không, hắn yếu phổi, và lại chơi nhạc trong hội Đồng ca. Luôn luôn thổi kèn pittông, cái đó có hại lắm.

- A! khi có bệnh, thì không nên thổi kèn pittông.

Sau khi ghi lại mấy lời kể chuyện ấy, Tarrou đặt câu hỏi vì sao Camps lại vào hội Đồng ca, ngược lại quyền lợi hiển nhiên nhất của mình, và vì những lý do sâu xa nào hắn đã phó mặc cả tính mệnh cho những buổi rước lễ Thánh như vậy.

Tiếp đấy, Tarrou hình như bị cuốn hút một cách thú vị vào một cảnh tượng thường diễn ra ở cái ban công đối diện với cửa sổ phòng anh. Thật vậy, phòng anh trông ra một con đường ngang nhỏ, nơi những chú mèo đến ngủ dưới bóng những bức tường. Ngày nào cũng như ngày nào, sau bữa ăn trưa, trong lúc toàn thành phố đang mơ mơ màng màng trong cơn nóng bức, thì một ông già nhỏ nhắn xuất hiện trên ban công, phía bên kia đường. Tóc bạc và chải cẩn thận, bộ điệu nghiêm trang và người thẳng đơ trong bộ quần áo cắt theo kiểu nhà binh, ông già gọi “Meo, meo”, giọng vừa cao đạo vừa dịu dàng. Lũ mèo ngửng những cặp mắt còn ngái ngủ lên nhìn, nhưng vẫn không nhúc nhích. Ông già bèn xé nhỏ những mành giấy ném xuống đường. Thế là bị thu hút bởi những mẩu giấy rơi lả tả như những cánh bướm trắng, đàn mèo liền bước ra giữa lòng đường, ngập ngừng giơ chân về phía những mảnh giấy cuối cùng. Lúc đó, ông già nhổ mạnh và chính xác nước bọt lên đám mèo. Hễ nhổ trúng mèo, là ông ta cười vang.

Cuối cùng, Tarrou tỏ ra thực sự thú vị về tính cách buôn bán của cái thành phố mà vẻ bề ngoài, không khí náo nhiệt và ngay cả những thú vui đều như là do nhu cầu thương mại chỉ đạo. Tarrou hoan nghênh tính khác thường ấy (từ “khác thường” này do chính anh ta dùng trong sổ tay) và hơn nữa còn kết thúc một Lời ca ngợi của mình bằng thán từ “Thế chứ!” Đây là những chỗ duy nhất mà những lời ghi chép của vị du khách này, vào thời kỳ ấy, có vẻ mang dấu ấn cá nhân. Nhưng có điều là khó có thể đánh giá ý nghĩa và tính chất nghiêm túc của chúng. Chẳng hạn, sau khi kể lại là việc tìm ra một con chuột chết đã khiến cho anh chàng thủ quỹ khách sạn nhầm lẫn trong tính toán, Tarrou viết thêm, với những nét bút không rõ ràng như thường ngày: “Hỏi: làm thế nào để khỏi mất thì giờ? Trả lời: cảm nhận thời gian trong suốt chiều dài của nó. Cách thức: chờ đợi ngày này qua ngày khác trong tiền sảnh của một thầy thuốc nha khoa, trên một chiếc ghế chẳng lấy gì làm êm ái; chiều Chủ nhật, phải ngồi thúc thủ trên ban công; nghe những buổi nói chuyện bằng một ngôn ngữ mình không hiểu; chọn những cuộc hành trình dài nhất và thiếu tiện nghi nhất bằng xe lửa và dĩ nhiên là phải đứng xếp hàng lấy vé đi xem biểu diễn sân khấu và không lấy được vé v.v...” Nhưng ngay sau khi có những suy nghĩ hay lời lẽ ra ngoài đề như vậy, những đoạn ghi chép lại miêu tả tỉ mỉ tàu điện trong thành phố, miêu tả hình dạng giống như một chiếc thuyền, màu sắc mờ nhạt, tình trạng dơ bẩn quen thuộc của chúng, và kết thúc những nhận xét ấy bằng một “thật đáng chú ý” chẳng giải thích được gì hết.

Dẫu sao, sau đây là những điều ghi chép của Tarrou về chuyện đàn chuột:

“Hôm nay, ông già nhỏ người ở nhà trước mặt, bối rối. Không thấy mèo đâu nữa. Quả thật chúng đã biến mất và được kích thích bởi những con chuột chết người ta tìm thấy rất nhiều trên đường phố. Theo ý tôi, không có vấn đề mèo ăn chuột chết. Tôi nhớ là mèo của chúng tôi ghét chuột chết. Nhưng không phải vì vậy mà chúng không sục sạo trong các hầm nhà, khiến ông lão bối rối. Bây giờ ông ta chải tóc ít cẩn thận hơn, có vẻ ít tráng kiện hơn. Tôi cảm thấy ông ta lo lắng. Được một lát, ông trở vào nhà. Nhưng trước đó, ông có nhổ nước bọt một lần, vào khoảng không.

Hôm nay, trong thành phố, một chuyến tàu điện bị chặn lại vì một con chuột không biết bằng cách nào đến chết trong toa tàu. Hai ba phụ nữ rời khỏi tàu. Người ta vứt xác chuột đi. Và tàu lại tiếp tục chạy.

Ở khách sạn, người gác đêm - một người đáng tin cậy - bảo tôi là ông ta cho rằng một tai họa sẽ ập tới với tất cả lũ chuột ấy. ‘Khi chuột rời khỏi con tàu biển...’ Tôi trả lời là cái đó đúng trong trường hợp tàu biển, nhưng chưa bao giờ được kiểm nghiệm đối với các thành phố. Tuy nhiên niềm tin của ông ta không thay đổi. Tôi hỏi ông tai họa gì sẽ xảy tới. Ông không rõ vì cho rằng tai họa thì không thể dự kiến được. Nhưng giá như một vụ động đất xảy tới thì ông ta cũng không ngạc nhiên. Tôi thừa nhận điều đó có thể xảy ra và ông ta hỏi tôi nếu vậy thì tôi có lo lắng không.

Điều duy nhất làm tôi quan tâm, tôi trả lời, là làm sao có được sự yên tĩnh nội tâm”.

“Ông ta hoàn toàn hiểu tôi”.

“Ở phòng ăn khách sạn, có trọn vẹn một gia đình rất đáng chú ý. Ông bố là một người đàn ông cao gầy, mặc quần áo màu đen, sơ-mi cổ cứng. Đỉnh đầu thì hói và hai bên chùm tóc đã ngả muối tiêu. Với đôi mắt tròn xoe và nghiêm khắc, cái mũi mỏng, hai môi mím chặt, ông ta giống như một con cú mèo được nuôi dưỡng cẩn thận. Bao giờ lão cũng đến đầu tiên và đứng trước cửa khách sạn, nép ra một bên nhường chỗ cho vợ, một phụ nữ nhỏ bé như con chuột nhắt đen, rồi mới đi vào, theo sau là hai con, một trai, một gái, cả hai đều ăn mặc kệch cỡm 2. Đi đến bàn ăn, lão chờ cho vợ ngồi xong mới ngồi, và cuối cùng mới đến lượt hai ‘cún con’ leo tót lên ghế. Lão dùng ngôi thứ hai số nhiều 3 khi nói với vợ con. Với vợ, lão tuôn ra những điều nanh nọc nhưng với lời lẽ lịch sự; còn với con, thì lão dùng những lời thật dứt khoát :

- Nicole, con tỏ ra dễ ghét hết chỗ nói!

Và con bé chỉ chực òa khóc. Lão ta lại cứ muốn như thế.

Sáng nay, câu chuyện lũ chuột kích động hết sức mạnh mẽ thằng bé. Ngồi ở bàn ăn, nó muốn nói một chút về chuyện đó :

- Philippe, đang ăn, không được nói chuyện chuột. Bố cấm từ nay không được thốt ra cái từ ấy nữa.

- Bố con nói đúng đấy. - ‘Chuột đen’ tiếp lời.

Hai ‘cún con’ chúi mũi vào đĩa xúp và ‘Cú mèo’ cảm ơn vợ bằng một cái gật đầu hầu như vô nghĩa.

Mặc dù tấm gương tốt ấy, trong thành phố, người ta bàn tán nhiều về chuyện chuột. Cả báo chí cũng nói tới. Những tờ báo địa phương, thường ngày vốn rất đa dạng, nay hoàn toàn dành cho chiến dịch phản đối tòa thị chính: ‘Liệu các quan chức ở tòa thị chính có nhận thấy cái hiểm họa mà xác chuột chết thối có thể gây ra không?’ Lão chủ khách sạn chỉ có nói tới cái đó. Và cũng vì tức giận nữa. Tìm thấy chuột trên thang máy một khách sạn có danh tiếng, cái đó, đối với lão, không sao có thể tưởng tượng nổi. Nhằm an ủi lão, tôi bảo: ‘Nhưng mọi người cũng đều trong tình trạng này cả’.

Đúng thế, lão đáp, bây giờ chúng ta cũng như mọi người thôi.

Chính lão nói với tôi về mấy ca đầu tiên của cái bệnh kỳ lạ khiến người ta bắt đầu lo lắng này. Một chị hầu phòng đã bị bệnh.

Nhưng chắc chắn là không lây, lão vội vã khẳng định.

Tôi bảo lão là tôi không lấy cái đó làm điều.

A! Tôi rõ. Ngài cũng như tôi. Ngài là người theo thuyết định mệnh.

Tôi không hề nói gì tương tự, vả lại, tôi không phải là người định mệnh chủ nghĩa. Tôi bảo lão như vậy...”

Từ đây, sổ tay của Tarrou bắt đầu nói với ít nhiều chi tiết về cái bệnh sốt lạ lùng này khiến công chúng đã phải lo lắng. Anh ta ghi là ông già nhỏ bé, cuối cùng đã tìm thấy lại đàn mèo khi lũ chuột biến mất, và kiên nhẫn điều chỉnh hướng nhổ nước bọt của mình. Anh nói thêm là có đến một chục ca sốt như thế và phần lớn là tử vong.

Cuối cùng, với tính cách tham khảo, bạn đọc có thể tái hiện chân dung bác sĩ Rieux qua ngòi bút Tarrou. Theo chỗ chúng tôi nhận thức được, bức chân dung khá chân thực:

“Trông chạc ba nhăm tuổi. Người tầm thước. Vai lực lưỡng. Mặt gần vuông chữ điền. Cặp mắt mầu sẫm và kẻ thẳng, nhưng hàm thì bạnh ra. Mũi to, nở đều. Tóc đen cắt rất cao. Miệng uốn cong với đôi môi dày và hầu như luôn luôn mím chặt. Ông ta hơi có dáng dấp một nông dân vùng Sicilia với nước da rám, mái tóc đen và quần áo bao giờ cũng mầu sẫm nhưng rất hợp với ông.

Ông ta đi nhanh. Từ vỉa hè bước xuống đường vẫn không thay đổi dáng đi, nhưng khi bước lên vỉa hè phía bên kia đường thì thường nhảy nhẹ lên. Đãng trí khi cầm lái ô-tô và thường để mũi tên chỉ đường rẽ vẫn dựng lên mặc dù xe đã quặt sang đường. Bao giờ cũng đầu trần. Có vẻ nắm vững tình hình”.

Những con số của Tarrou đều chính xác. Bác sĩ Rieux ít nhiều hiểu ý nghĩa của chúng. Sau khi cách ly xác ông lão gác cổng, ông gọi điện cho Richard để hỏi về mấy ca sốt do hạch ở bẹn gây nên.

- Tôi chẳng hiểu gì hết - Richard bảo - Hai người chết, một sau bốn mươi tám tiếng, một sau ba ngày. Trước đó, một buổi sáng, người thứ hai này có mọi dấu hiệu bề ngoài là đã khỏi bệnh.

- Ông cho tôi biết, nếu có những ca khác. - Rieux nói.

Ông gọi điện thêm cho mấy thầy thuốc khác nữa, và trong mấy ngày được biết thêm vài chục ca tương tự. Hầu như tất cả bệnh nhân đều tử vong. Ông liền yêu cầu Richard, chủ tịch tổ chức các thầy thuốc ở Oran, cách ly những bệnh nhân mới.

- Nhưng tôi chẳng làm gì được - Richard bảo - Phải có những biện pháp của quận. Vả lại, ai nói với ông là có nguy cơ truyền nhiễm?

- Không có gì nói với tôi cả, nhưng các triệu chứng rất đáng lo ngại.

Song Richard cho là “ông ta không có đủ tư cách”. Ông ta chỉ có thể báo cáo lên thành phố.

Nhưng trong lúc đó, thời tiết ngày mỗi xấu thêm. Sau khi ông lão gác cổng chết được một hôm, mây mù che kín bầu trời. Những cơn mưa ngắn xối xả đổ ập xuống thành phố; tiếp theo sau là cơn nóng bức báo hiệu giông bão. Biển cũng mất đi cái mầu xanh biếc, và dưới bầu trời âm u, nó lóe lên những ánh bạc hoặc thép sáng chói. Cái nóng bức ẩm ướt của mùa xuân khiến người ta mong ước mặt trời mùa hạ. Một không khí buồn đến tê tái bao phủ Oran, cái thành phố xây theo hình trôn ốc trên cao nguyên và chỉ hơi ngoảnh ra biển. Giữa những bức tường dài lở lói, trên những đường phố với những tủ kính bày hàng bụi bặm, trên những toa tàu điện một mầu vàng cáu bẩn, người ta cảm thấy ít nhiều bị bầu trời cầm tù. Riêng chỉ có ông lão bệnh nhân của Rieux là chiến thắng được cơn suyễn để thích thú với cái thời tiết này.

- Trời như thiêu ấy, - Lão nói - thế là tốt cho cuống phổi lắm.

Quả là trời như thiêu, nhưng không hơn không kém một cơn sốt. Cả thành phố lên cơn sốt, chí ít đó cũng là cái ấn tượng nó đeo đuổi bác sĩ Rieux, vào cái buổi sáng ông đến phố Faidherbe dự cuộc điều tra về ý đồ tự tử của Cottard. Nhưng ông cảm thấy ấn tượng ấy là phi lý. Ông cho nguyên nhân là trạng thái bực bõ, và công việc bận rộn túi bụi của mình và ông thấy phải cấp thiết chỉnh đốn lại chút ít những ý tưởng trong đầu.

Khi ông đến thì cảnh sát trưởng chưa có mặt. Grand chờ ông trên thang gác và hai người quyết định vào nhà anh ta trước và cứ để cửa mở. Người nhân viên tòa thị chính này ở hai buồng, đồ đạc sơ sài. Chỉ thấy có một giá sách bằng gỗ thông với hai ba cuốn từ điển, và một cái bảng đen trên đó còn mấy từ “lối đi đầy hoa” lau xóa dở dang. Theo Grand, Cottard đã ngủ một đêm ngon. Nhưng sáng dậy, kêu đau đầu và không có được một phản ứng nào hết. Grand có vẻ mệt mỏi và bồn chồn đi lui đi tới, mở ra, gập lại một tập hồ sơ dày đầy những trang bản thảo đặt trên mặt bàn.

Tuy nhiên anh cũng kể với bác sĩ là anh không biết rõ Cottard nhưng anh nghĩ là hắn có ít nhiều của cải. Cottard là một con người kỳ cục. Trong một thời gian dài, quan hệ giữa họ chỉ là mấy câu chào hỏi nhau trên cầu thang.

- Tôi chỉ nói chuyện với hắn có hai lần. Cách đây vài hôm, khi mang một hộp phấn về nhà, tôi làm đổ trên cầu thang. Cả những viên phấn đỏ lẫn phấn xanh. Lúc đó, Cottard bước ra cầu thang và giúp tôi nhặt phấn. Hắn hỏi tôi những viên phấn màu sắc khác nhau ấy dùng để làm gì.

Grand giải thích với hắn là anh thử học lại tiếng latinh. Tri thức của anh đã mờ nhạt hết từ sau khi rời nhà trường trung học.

- Vâng, - Anh nói với bác sĩ - người ta bảo tôi học tiếng latinh có lợi cho việc hiểu rõ hơn nghĩa của từ trong tiếng Pháp.

Anh viết các từ latinh lên bảng. Bộ phận nào của từ biến đổi theo biến cách và biến ngôi, thì anh chép bằng phấn xanh; còn bộ phận nào không bao giờ biến đổi, thì bằng phấn đỏ.

- Tôi không rõ Cottard có thật hiểu không, nhưng hắn tỏ ra chú ý và hỏi xin tôi một viên phấn đỏ. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng dẫu sao... Dĩ nhiên tôi không thể đoán được là cái đó có thể phục vụ cho dự định của hắn.

Rieux hỏi trong buổi gặp nhau lần thứ hai, hai người nói chuyện gì. Nhưng cảnh sát trưởng, có thư ký đi theo, đã tới. Trước hết, ông ta muốn nghe lời khai của Grand. Bác sĩ Rieux nhận thấy khi nói về Cottard, bao giờ Grand cũng gọi hắn là “anh chàng tuyệt vọng”. Có lúc, anh ta còn dùng ngữ đoạn “quyết định bất hạnh”. Họ thảo luận về lý do tự sát và Grand tỏ ra rất tỉ mẩn trong việc chọn từ. Cuối cùng họ thỏa thuận dùng mấy từ “nỗi buồn thầm kín”. Cảnh sát trưởng hỏi trong thái độ của Cottard có gì cho thấy cái mà hắn gọi là “quyết định” của hắn không.

- Hôm qua, hắn gõ cửa xin tôi diêm. - Grand đáp - Tôi đưa hắn bao diêm. Hắn xin lỗi và nói hàng xóm với nhau... Rồi cặn kẽ bảo tôi là hắn sẽ trả lại. Tôi bảo hắn cứ giữ lấy.

Cảnh sát trưởng hỏi Grand có thấy Cottard là người kỳ cục không.

- Điều tôi thấy kỳ cục là hắn có vẻ muốn bắt chuyện. Nhưng tôi, tôi đang bận việc.

Grand quay về phía bác sĩ và, vẻ lúng túng, nói thêm :

- Một công việc riêng.

Cảnh sát trưởng muốn gặp người bệnh. Nhưng Rieux cho là nên chuẩn bị tinh thần cho hắn đối với buổi tiếp xúc. Khi ông bước vào phòng hắn, thì hắn mặc bộ flanen màu xám, ngồi nhổm dậy trên giường và quay ra phía cửa, bộ mặt lo âu.

- Cảnh sát hả?

- Đúng. - Rieux đáp - Và ông đừng băn khoăn. Một vài thủ tục và người ta để ông yên thôi.

Nhưng Cottard đáp là cái đó chẳng để làm gì hết và hắn không ưa cảnh sát. Rieux tỏ vẻ sốt ruột.

- Tôi cũng chẳng ưa. Vấn đề là trả lời nhanh và đúng đắn những câu hỏi của họ, để không bao giờ phải lặp lại nữa.

Cottard lặng im và bác sĩ quay ra cửa. Nhưng anh chàng bé nhỏ gọi ông trở lại và nắm lấy tay ông khi ông đến bên giường :

- Không ai được đụng đến một người bệnh, một người vừa mới treo cổ, có phải thế không, bác sĩ?

Rieux nhìn hắn một lúc và cuối cùng bảo đảm với hắn là không hề có vấn đề như vậy, vả lại, ông có mặt ở đây là để bảo vệ người bệnh. Hắn có vẻ bớt lo lắng và Rieux đưa cảnh sát trưởng vào.

Người ta đọc cho Cottard nghe lời khai của Grand và hỏi hắn có thể nói rõ nguyên nhân việc hắn tự sát không. Không nhìn cảnh sát trưởng, hắn chỉ trả lời “nỗi buồn thầm kín thế là rất đúng”. Cảnh sát trưởng vội hỏi hắn có ý định làm lại nữa không. Cottard hăng lên trả lời “không” và bảo hắn chỉ muốn người ta để hắn yên.

- Tôi lưu ý ông, - Cảnh sát trưởng đáp, giọng bực bội - là hiện nay, chính ông là người không để người khác yên.

Nhưng Rieux ra hiệu và cảnh sát trưởng không nói gì thêm.

- Ông nghĩ xem, - Cảnh sát trưởng thở dài và nói khi đi ra - từ khi người ta bàn tán về cái bệnh sốt ấy, chúng ta còn những công việc khác quan trọng hơn phải lo...

Ông ta hỏi bác sĩ tình hình có nghiêm trọng không và Rieux trả lời là ông không hay biết gì hết

- Vì thời tiết đấy, chỉ có thế thôi. - Viên cẩm kết luận.

Dĩ nhiên, vì thời tiết thôi. Càng về trưa, mọi cái sờ vào càng thấy nhớp nháp và Rieux cảm thấy mỗi lần đi thăm người bệnh là một lần nỗi lo ngại của mình tăng thêm. Cũng tối hôm đó, ở ngoại thành, gần nhà ông lão bị hen suyễn, một người bỗng thấy đau nhói ở bẹn và nôn ọe trong cơn mê sảng. Những cục hạch nổi lên, lớn hơn nhiều hạch của ông lão gác cổng. Một cái bắt đầu làm mủ, và sau đó, vỡ ra như một trái cây thối rữa. Về tới nhà, Rieux gọi điện cho kho thuốc của tỉnh, sổ tay nghiệp vụ của ông vào thời điểm ấy chỉ ghi: “Trả lời không có thuốc”. Vả lại, những nơi khác cũng đã mời ông vì những ca tương tự. Hiển nhiên là phải mổ apxe. Hai nhát dao mổ chéo nhau, thế là máu mủ từ hạch tuôn ra. Người bệnh mất máu quằn quại, ở bụng và chân xuất hiện những nốt lấm chấm, một cái hạch thôi không chảy mủ nữa, rồi sưng trở lại. Thường thì người bệnh chết, mùi hôi thối xông lên nồng nặc.

Báo chí, mấy lúc xôn xao bàn tán về chuyện chuột, thế mà nay lại im hơi lặng tiếng. Như vậy là vì chuột thì chết ngoài đường phố còn người ta thì chết trong nhà. Và báo chí chỉ lo việc ngoài đường phố. Nhưng quận và thị chính bắt đầu lo lắng. Chừng nào mỗi thầy thuốc chỉ mới biết có hai ba ca thì chưa một ai nhúc nhích. Nhưng cuối cùng chỉ cần một ai đó nghĩ tới làm một phép cộng. Con số thu được thật hãi hùng. Chỉ mới vài ngày mà đã không biết bao ca tử vong và những ai quan tâm đến cái tai họa kỳ quái này đều thấy hiển nhiên đây là một bệnh dịch thực sự. Chính đó là lúc Castel, một đồng nghiệp lớn tuổi hơn Rieux nhiều, đến thăm ông.

- Này Rieux, - Castel nói - dĩ nhiên ông biết đây là cái gì rồi chứ?

- Tôi còn chờ kết quả phân tích.

- Tôi, thì tôi biết. Và tôi không cần phân tích. Tôi đã hành nghề một thời gian ở Trung Quốc, và tôi đã gặp mấy ca ở Paris, cách đây vài chục năm. Chỉ có điều là hiện nay, người ta chưa dám đặt tên cho chúng. Dư luận công chúng là thiêng liêng: đừng hốt hoảng, nhất là đừng hốt hoảng. Và như một bạn đồng nghiệp đã nói: “Không thể được, ai cũng biết là nó đã biến khỏi phương Tây”. Đúng, ai cũng biết điều đó, trừ người chết. Này ông Rieux, ông cũng biết như tôi đó là cái gì rồi.

Rieux trầm tư. Từ ô cửa sổ phòng làm việc, ông nhìn vách đá dốc khép lại ở vùng biển xa xa. Bầu trời tuy màu xanh nhưng lại tỏa ra một thứ ánh sáng mờ nhạt và càng về chiều càng thêm mờ nhạt.

- Đúng, ông Castel ạ. - Rieux nói - Khó có thể tin được. Nhưng chắc là dịch hạch thôi.

Castel đứng dậy, đi ra cửa, nói thêm :

- Ông biết người ta sẽ trả lời chúng ta thế nào chứ? “Nó đã biến khỏi các nước ôn đới từ nhiều năm nay rồi”.

- Biến khỏi, thế nghĩa là thế nào? - Rieux nhún vai đáp.

- Đúng. Và ông đừng quên là: ở cả Paris nữa, chỉ mới cách đây chưa tới hai chục năm.

- Được. Chúng ta hy vọng bây giờ không đến nỗi nghiêm trọng hơn lúc đó. Nhưng quả thật không sao có thể tin được.

Cái từ “dịch hạch” lần đầu tiên được người ta gọi tên. Đến lúc này, trong khi Bernard Rieux đang trầm ngâm sau ô cửa sổ, xin bạn đọc cho phép người kể chuyện biện hộ cho thái độ nghi hoặc và kinh ngạc của ông, vì tuy với những sắc thái khác nhau, sự phản ứng của ông cũng là sự phản ứng của số đông đồng bào chúng tôi. Quả vậy tai họa là điều thường xảy tới, nhưng người ta khó tin là tai họa khi nó đổ ập xuống đầu mình. Trên thế giới, dịch hạch cũng nhiều như chiến tranh. Thế nhưng đứng trước dịch hạch và chiến tranh, người ta vẫn luôn luôn bất ngờ. Bác sĩ Rieux cũng bất ngờ như đồng bào của chúng tôi, và vì vậy chúng tôi hiểu vì sao ông phân vân giữa lo âu và tin tưởng. Khi chiến tranh nổ ra, người ta bảo nhau: “Không lâu đâu, vì thật là quá ngu dại!” Và dĩ nhiên chiến tranh là quá ngu dại, nhưng không phải vì vậy mà chiến tranh không kéo dài. Sự ngu dại vẫn dai dẳng, người ta sẽ thấy điều đó nếu như người ta không luôn luôn nghĩ tới bản thân mình, về phương diện này, đồng bào chúng tôi cũng như thiên hạ, họ nghĩ đến bản thân họ, nói cách khác, họ là những người nhân văn chủ nghĩa: họ không tin là có tai họa. Tai họa không hợp với con người, bởi vậy người ta đinh ninh tai họa là không có thật, mà chỉ là một giấc mơ xấu và sẽ qua đi. Nhưng không phải bao giờ nó cũng qua đi, và từ giấc mơ xấu này đến giấc mơ xấu khác, chính là con người “qua đi”, và trước hết là những người nhân văn chủ nghĩa, vì họ không đề phòng. Đồng bào chúng tôi không có tội hơn những người khác, chỉ có điều là họ không còn khiêm tốn nữa, họ nghĩ rằng cái gì họ cũng có thể làm được, và như vậy là giả định rằng tai họa không thể xảy ra. Họ tiếp tục làm apphe, chuẩn bị những cuộc du lịch và có ý kiến này nọ. Như thế thì làm sao họ có thể nghĩ tới dịch hạch khi nó làm tiêu tan tương lai, ngăn trở những cuộc hành trình và những buổi tranh luận. Họ cứ tưởng mình được tự do, nhưng chừng nào còn tai họa thì không một ai có tự do.

Ngay khi thừa nhận với bạn là một nhúm người bệnh phân tán vừa mới chết vì dịch hạch mà không hề biết trước, bác sĩ Rieux vẫn cho là hiểm họa không có thực. Nhưng là thầy thuốc, người ta có khái niệm về sự đau đớn và có nhiều trí tưởng tượng hơn một chút. Nhìn qua ô cửa sổ, thành phố quê hương không thay đổi, ông cũng chỉ mới thấy phảng phất một chút đau lòng trước tương lai, cái nỗi đau lòng mà người ta thường gọi là lo âu. Ông cố tập hợp lại trong óc tất cả những gì ông biết về chứng bệnh này. Những con số bồng bềnh trong trí nhớ, ông nhớ lại là ba chục nạn dịch hạch nghiêm trọng xảy ra trong quá trình lịch sử đã giết chết một trăm triệu người. Nhưng một trăm triệu người là cái gì? Khi gây ra chiến tranh, hầu như người ta chưa rõ thế nào là một người chết. Và vì một người chết chỉ có “trọng lượng” khi người ta chứng kiến anh ta chết, nên một trăm triệu xác chết rải rác trong quá trình lịch sử chỉ là một đám khói trong trí tưởng tượng. Rieux nhớ lại vụ dịch hạch ở Constantinople. Theo Procope 4, nó đã giết hại trong một ngày mười nghìn người. Mười nghìn người tức là năm lần số khán giả của một rạp chiếu bóng lớn. Phải chăng nên tính toán theo kiểu đó? Thử tập trung khán giả lại khi họ bước ra khỏi năm rạp chiếu bóng lớn, dẫn họ tới một quảng trường của thành phố và giết chết họ từng đống để thấy rõ hơn một chút. Ít nhất lúc đó cũng có thể nhận ra những khuôn mặt quen thuộc trong cái đống người vô danh ấy. Nhưng dĩ nhiên không thể làm như thế, hơn nữa ai nhận biết được mười nghìn khuôn mặt? Vả lại, những người như Procope không biết tính đếm, ai cũng rõ điều đó. Trước đây bảy mươi năm, ở Quảng Châu, bốn nghìn con chuột bị chết vì dịch hạch trước khi tai họa đụng tới con người. Nhưng năm 1871, người ta chưa có cách tính đếm số chuột. Người ta chỉ ước lượng, trên đại thể, và nhất định có nhầm lẫn. Thế nhưng nếu một con chuột dài tới ba mươi centimét thì bốn nghìn con chuột xếp nối đuôi nhau sẽ thành...

Nhưng bác sĩ Rieux sốt ruột. Ông đâm nản lòng và cũng chẳng nên tính toán như thế làm gì. Một vài trường hợp riêng lẻ đâu tạo thành dịch tễ và chỉ cần đề phòng là đủ. Chỉ nên dừng lại ở những điều mình biết mà thôi: tình trạng sững sờ và liệt nhược, mắt đỏ, miệng thối, đầu đau với những cái hạch xoài, những cơn khát khủng khiếp, những cơn mê sảng, những nốt lấm chấm trên người, nỗi đau đớn trong nội tạng, và sau tất cả những cái đó... Sau tất cả những cái đó, một câu nói trở lại trong óc bác sĩ Rieux, một câu nói kết thúc, trong cuốn sách giáo khoa của ông, bảng liệt kê các triệu chứng: “Mạch lăn tăn và chỉ cần một động tác cỏn con là người bệnh chết”. Đúng, sau tất cả những cái đó, người bệnh như nghìn cân treo sợi tóc và ba phần tư số bệnh nhân - đây là con số chính xác - không kiên nhẫn được đành làm cái động tác hết sức nhỏ nhoi chết người ấy.

Bác sĩ Rieux vẫn nhìn qua cửa sổ. Bên kia tấm kính, là bầu trời mùa xuân mát mẻ, nhưng bên này, trong phòng vẫn vang lên cái từ: dịch hạch. Cái từ ấy không chỉ chứa đựng những điều khoa học muốn đưa vào trong đó, mà còn cả một dãy dài những hình ảnh kỳ lạ không hòa hợp với cái thành phố này, một thành phố vừa màu vàng, vừa màu xám, lúc này nhộn nhịp một cách vừa phải, rì rào hơn là ồn ã, tóm lại là sung sướng, nếu như người ta có thể vừa sung sướng vừa buồn bã. Và một bầu không khí yên tĩnh, thanh bình đến thế và cũng thờ ơ đến thế hầu như chẳng khó khăn gì mà không phủ nhận những hình ảnh tai họa thuở xưa: thành Athènes bị dịch hạch và vắng bóng chim muông, những thành phố Trung Hoa đầy rẫy những người hấp hối im lặng, những người tù khổ sai ở Marseille chất đống những xác chết đang rỉ nước xuống hố, bức tường lớn xây ở Provence 5 để ngăn cản ngọn gió dịch hạch hung hãn, Jaffa 6 với đám hành khất gớm guốc, những chiếc giường ẩm ướt và mục ruỗng thấp lè tè sát nền đất nện trong bệnh viện Constantinople 7 những người bệnh bị lôi đi bằng những chiếc móc, đoàn thầy thuốc, đeo mặt nạ trong thời kỳ nạn Dịch hạch đến, những cuộc giao hợp của người sống trong khu nghĩa địa Milan 8, những cỗ xe bò chở xác chết trong thành phố Luân Đôn kinh hoàng, và những ngày, những đêm vang động, ở mọi nơi, mọi lúc, tiếng kêu vô tận của những con người. Không, tất thảy những cái đó vẫn chưa đủ sức tiêu diệt cái cảnh thanh bình của ngày hôm ấy. Phía bên kia cửa kính, tiếng chuông một đoàn tàu điện không nhìn thấy đâu bỗng vang lên trong giây lát bác bỏ tàn bạo và đau thương. Chỉ có mặt biển, ở cuối những khu nhà bố trí như bàn cờ, là chứng tỏ tình hình đáng lo ngại và không bao giờ yên ổn trên thế gian này. Và nhìn ra vịnh, bác sĩ Rieux nghĩ tới những cái dàn thiêu mà Lucrèce 9 nói tới và do người Athènes - bị bệnh tật hành hạ - dựng lên trên bãi biển. Ban đêm người ta mang người chết tới, nhưng thiếu chỗ nên người sống dùng những bó đuốc đánh nhau để đặt vào dàn thiêu xác những người thân của mình, gây ra những cuộc huyết chiến, chứ không chịu bỏ rơi cái xác chết của họ. Chúng ta có thể hình dung những cái dàn thiêu đỏ rực trước mặt nước sẫm màu và yên tĩnh, những trận kịch chiến bằng đuốc trong đêm tối với tiếng lốp bốp của những tia lửa và những làn hơi dày đặc bị đầu độc bốc thẳng lên tận bầu trời đăm chiêu. Người ta đâm hoảng sợ...

Nhưng cái choáng ngợp ấy không đứng vững trước lý trí. Quả là cái từ “dịch hạch” đã được thốt lên, quả là chính vào giây phút này, tai họa quật ngã một hai nạn nhân. Nhưng chẳng sao, tai họa có thể phải chấm dứt. Điều cần làm là thừa nhận rõ ràng cái cần phải được thừa nhận, cuối cùng xua đuổi những bóng ma vô dụng và thi hành những biện pháp thích hợp. Sau nữa, dịch hạch sẽ chấm dứt vì nó đâu phải là sản phẩm của trí tưởng tượng hay của một sự bày đặt lệch lạc. Nếu nó chấm dứt - và rất có thể như thế - thì tất cả sẽ tốt lành. Nếu không thì người ta sẽ rõ nó là cái gì và sẽ biết có thể lúc đầu thu xếp với nó để về sau đánh bại nó hay không.

Bác sĩ Rieux mở cửa sổ. Đột nhiên vang động tiếng ồn ã trong thành phố. Từ một xưởng thợ bên cạnh nổi lên tiếng rít xoèn xoẹt của một chiếc cưa máy, Rieux quyết hành động. Niềm tin là ở hành động, ở trong công việc hàng ngày. Phần còn lại tùy thuộc vào những đường dây và những động tác vô nghĩa. Không thể dừng bước ở đấy. Cái chủ yếu, là làm tốt nghề nghiệp của mình.

Bác sĩ Rieux đang trong vòng suy tưởng ấy thì được báo là Joseph Grand tới. Là nhân viên ở tòa thị chính, và tuy công việc hết sức đa dạng, anh được sử dụng theo định kỳ ở cơ quan thống kê và hộ tịch. Do vậy anh phải làm những con số cộng về tử vong. Và vốn bản tính ân cần, anh nhận đích thân mang một bản sao kết quả ghi chép đến cho Rieux.

Rieux thấy Grand cùng bước vào với người hàng xóm của anh là Cottard. Grand huơ lên một tờ giấy :

- Thưa bác sĩ, con số đã tăng lên: mười một người chết trong bốn mươi tám tiếng.

Rieux chào Cottard và hỏi hắn thấy trong người thế nào. Grand trình bày là Cottard muốn cảm ơn bác sĩ và xin lỗi đã làm phiền ông. Nhưng Rieux nhìn tờ thống kê :

- Nào, - Ông bảo - có lẽ chúng ta phải bắt đầu gọi cái bệnh này bằng tên gọi của nó đi thôi. Đến nay, chúng ta đã giẫm chân tại chỗ mãi rồi. Nhưng mời ông cùng đi với tôi, tôi phải đến phòng thí nghiệm.

- Vâng, vâng - Grand vừa đáp vừa bước xuống cầu thang theo sau bác sĩ - Phải gọi các sự vật bằng tên gọi của chúng thôi. Nhưng tên gọi đó là gì?

- Tôi không thể nói với ông, vả lại, cái đó chẳng ích lợi gì đối với ông cả.

- Ông thấy đấy - Người nhân viên thị chính mỉm cười đáp - Việc đó không dễ dàng như thế đâu.

Họ đi về phía quảng trường Duyệt binh. Cottard vẫn im lặng. Đường phố bắt đầu đông người. Chút hoàng hôn thoáng qua ở đất nước chúng tôi đã nhường chỗ cho bóng đêm, và những vì sao đầu tiên đã mọc đằng chân trời còn rõ nét. Mấy giây đồng hồ sau, các ngọn đèn đường được thắp sáng làm bầu trời tối om lại và tiếng trò chuyện như vút cao thêm một cung bậc.

- Xin lỗi bác sĩ - Grand nói khi tới chỗ rẽ quảng trường Duyệt binh - Nhưng tôi phải đáp tàu điện. Các buổi tối của tôi là thiêng liêng. Như người ta thường nói ở xứ sở chúng tôi: “Không bao giờ nên để sang ngày mai...”

Rieux biết Grand - sinh trưởng ở Montélimar 10 - có thói quen dùng những thành ngữ của xứ sở mình và đưa thêm vào những công thức vô vị không ở đâu dùng cả như “một thời kỳ mơ mộng” hay “một ánh sáng thần tiên”.

- A! - Cottard thốt lên - Đúng thế. Không bao giờ lôi được anh ta ra khỏi nhà sau bữa ăn tối.

Rieux hỏi Grand có phải anh làm việc cho tòa thị chính không. Grand đáp là không: anh làm việc cho chính mình.

- A! - Rieux nói để cho có nói - Công việc có tiến triển không?

- Tất nhiên là có, từ bao ngày tháng tôi đã bỏ công sức vào đó. Mặc dù, ở một mặt khác, chẳng tiến bộ được bao nhiêu.

- Nhưng, tóm lại, là vấn đề gì vậy? - Bác sĩ dừng bước và hỏi.

Grand lúng búng trong miệng trong lúc sửa lại chiếc mũ tròn trên đôi tai to tướng. Và Rieux hiểu hết sức mơ hồ là có một cái gì đó thuộc phạm vi phát triển một nhân cách. Nhưng anh chàng nhân viên đã từ giã họ và đi ngược đại lộ sông Marnơ, dưới rặng cây vả, dáng đi vội vàng. Đến trước cửa phòng thí nghiệm, Cottard nói với bác sĩ là muốn gặp ông để nhờ ông khuyên giải. Tay mân mê tờ giấy thống kê trong túi, Rieux bảo hắn đến phòng khám, nhưng lại thay đổi ý kiến, nói với hắn ngày mai ông sẽ đến khu phố hắn và vào cuối buổi chiều sẽ đến thăm hắn.

Chia tay Cottard, bác sĩ thấy mình nghĩ tới Grand. Ông hình dung anh ta giữa một nạn dịch hạch, không phải nạn dịch hạch hiện nay - chắc hẳn không nghiêm trọng - mà là giữa một trong những nạn dịch hạch nghiêm trọng nhất của lịch sử. “Đây là loại người được miễn trừ trong những trường hợp ấy”. Ông nhớ có đọc ở đâu đó là dịch hạch không đụng tới những thể chất yếu đuối và chủ yếu hủy hoại những cơ thể cường tráng. Và tiếp tục suy nghĩ về Grand, ông thấy anh chàng nhân viên này có chút ít dáng dấp bí ẩn.

Thật vậy, thoạt nhìn, Joseph Grand chỉ có dáng dấp một tiểu viên chức thị chính. Người cao và gầy, anh như “bơi” giữa đám quần áo mà bao giờ anh cũng chọn thật rộng, với cái ảo tưởng như thế thì dùng được bền hơn. Răng hàm dưới hầu như con nguyên, nhưng răng hàm trên thì mất hết. Bởi vậy khi cười - nụ cười chủ yếu nâng môi trên lên - miệng anh trở thành như một cái lỗ hang tối om. Nếu thêm vào bức chân dung ấy dáng dấp của một anh chàng học sinh chủng viện, cái lối đi nép sát vào tường và lọt thỏm vào cửa, cái mùi vị hầm nhà và ám khói, tất cả cái điệu bộ vô thưởng vô phạt, thì người ta phải thừa nhận là chỉ có thể hình dung anh ta ngồi trước bàn giấy, chăm chú soát lại giá tiền những buổi tắm công cộng trong thành phố hoặc tập hợp lại cho một người biên soạn trẻ tuổi những yếu tố của một bản báo cáo về khoản lệ phí thu dọn rác bẩn trong nhà. Một người dù không có thiên kiến cũng sẽ nghĩ anh ta hình như sinh ra để làm nhiệm vụ âm thầm nhưng cần thiết của người phụ việc ở tòa thị chính, công ngày bảy mươi hai frăng ba mươi xu.

Grand kể lại là anh đã ghi như thế trên các tờ chấm công, sau cái từ “đánh giá”. Hai mươi hai năm về trước, sau khi đỗ xong bằng cử nhân và vì không có tiền để học tiếp, anh phải nhận làm công việc này, và người ta hứa sẽ nhanh chóng đưa anh vào “chính ngạch”. Anh chỉ cần trong một thời gian, tỏ rõ năng lực trong những vấn đề khó khăn đặt ra trong công việc quản lý thành phố chúng tôi. Về sau, anh không thể không với tới - người ta bảo đảm với anh như vậy - cái chân biên soạn khiến anh có thể sống thoải mái. Dĩ nhiên, không phải vì tham vọng mà Joseph Grand đã hành động - anh cam đoan điều đó với một nụ cười rầu rĩ - Nhưng anh rất thú vị viễn cảnh một cuộc sống vật chất được bảo đảm bằng những phương kế lương thiện, nó có thể giúp anh làm những công việc mình ưa thích mà không bị lương tâm cắn rứt. Sở dĩ anh nhận điều người ta đề nghị, là vì những lý do thích đáng, và có thể nói là vì lòng trung thành với một lý tưởng.

Tình trạng tạm thời này đã kéo dài biết bao năm tháng, giá cả đã tăng lên không biết bao nhiêu, nhưng tiền công của Grand vẫn ít ỏi mặc dù một vài lần tăng lương nói chung. Anh có lần phàn nàn với Rieux, nhưng không một ai lưu ý. Đây chính là nét độc đáo, hay chí ít cũng là dấu hiệu nét độc đáo của Grand. Thật vậy, nếu không đòi những cái quyền không lấy gì làm chắc chắn lắm, thì ít nhất anh cũng có thể viện những lời cam đoan người ta đã nói với anh. Nhưng trước hết, viên chủ sự tuyển dụng anh đã chết từ lâu, vả lại, anh cũng không nhớ chính xác những lời người ta hứa hẹn. Cuối cùng, và nhất, Grand không tìm được từ để diễn đạt.

Đấy là đặc điểm nổi bật nhất trong chân dung anh chàng đồng bang chúng tôi, như Rieux đã từng nhận thấy. Thật vậy, chính cái đặc điểm ấy đã ngăn cản mãi, không cho anh viết bức thư khiếu nại mà anh từng suy ngẫm, hoặc chạy vạy khi cần thiết. Theo lời anh, thì đặc biệt anh thấy mình không được phép dùng cái từ “quyền” mà anh không tin chắc, cũng như cái từ “lời hứa”, từ này bao hàm là anh đòi nợ và vì vậy có tính chất táo bạo, ít thích hợp với công việc hèn mọn anh được giao. Mặt khác, anh không chịu dùng những từ “hảo tâm”, “khẩn nguyện”, “tri âm”, mà anh cho là không phù hợp với nhân cách của mình. Cứ như thế, vì không tìm được cái từ chính xác, anh chàng đồng bang chúng tôi tiếp tục làm cái chức trách vô danh tiểu tốt của mình cho đến lúc tuổi đã khá lớn. Vả lại - và vẫn theo lời anh ta nói với bác sĩ Rieux, - dẫu sao, do thói quen, anh thấy đời sống vật chất của mình vẫn được bảo đảm, vì xét cho cùng, chỉ cần khả năng của mình có được tới đâu thì mình giới hạn nhu cầu của mình tới đó. Vì vậy anh thừa nhận sự đúng đắn của một trong những từ ưa dùng của ông thị trưởng, một nhà công nghiệp lớn trong thành phố chúng tôi. Ông ta cương quyết khẳng định rằng cuối cùng (và ông ta nhấn mạnh cái từ mang toàn bộ sức nặng của lập luận này), chưa bao giờ người ta thấy một ai chết đói cả. Thật vậy, dẫu sao, cuối cùng, cuộc sống hầu như khổ hạnh của Joseph Grand cũng giải thoát anh khỏi mọi lo toan thuộc phạm vi ấy. Anh tiếp tục tìm kiếm các từ cho mình.

Ở một mặt nào đó, có thể khẳng định cuộc sống của anh là gương mẫu. Anh thuộc lớp người - hiếm thấy trong thành phố chúng tôi cũng như ở chỗ khác - luôn luôn dám bày tỏ những tình cảm tốt đẹp của mình. Thật vậy, chút ít những điều anh tâm sự về mình chứng tỏ tấm lòng nhân hậu và những tình cảm yêu thương mà ngày nay không ai dám tỏ bày. Anh không hề hổ thẹn khi thú nhận anh yêu thương mấy đứa cháu họ và người chị gái, người thân duy nhất còn lại và cứ hai năm một lần anh về thăm trên đất Pháp. Anh thừa nhận kỷ niệm về bố mẹ anh, mất khi anh còn ấu thơ, làm anh phiền muộn. Anh không chối cãi việc anh cho là anh yêu mến hơn hết một cái chuông trong khu phố mình, cái chuông cứ khoảng năm giờ chiều là lảnh lót ngân vang. Nhưng để gợi lại những cảm xúc hết sức đơn sơ như vậy, anh phải vất vả, không biết bao nhiêu khi đi tìm một từ. Cuối cùng, nỗi vất vả ấy là mối quan tâm lớn nhất của anh. “A! Thưa bác sĩ, anh nói, tôi thiết tha muốn tập cách diễn đạt biết chừng nào”. Mỗi lần gặp Rieux là một lần anh lại nói điều đó.

Tối hôm ấy, nhìn anh bước đi, bác sĩ Rieux bỗng hiểu Grand muốn nói gì: chắc hẳn anh chàng viết một cuốn sách hay một cái gì tương tự. Điều đó làm Rieux yên tâm trên suốt đoạn đường đi tới phòng thí nghiệm. Ông hiểu cái ấn tượng ấy là ngốc nghếch nhưng không sao có thể tin là dịch hạch có thể xảy ra thực sự ở một thành phố có những viên chức khiêm tốn theo đuổi những thói quen tốt đẹp. Quả là ông không hình dung những thói quen ấy tồn tại giữa lúc dịch bệnh, và vì vậy, phán đoán rằng trên thực tiễn, dịch hạch không thể xảy ra đối với đồng bào chúng tôi.

Ngày hôm sau, do Rieux khẩn thiết yêu cầu - một yêu cầu bị coi là không thỏa đáng, - một hội đồng y tế được triệu tập ở tỉnh.

- Quả là dân chúng có lo lắng - Richard thừa nhận - Và trong những lúc chuyện phiếm, người ta cường điệu đủ mọi thứ. Ông thị trưởng bảo tôi: “Nếu các ngài muốn thì làm nhanh lên, nhưng trong im lặng”. Vả lại, rõ ràng đây là một trường hợp báo động sai lầm.

Bernard Rieux lái xe đưa Castel cùng đi lên thành phố.

- Ông có biết là tỉnh ta không có huyết thanh không? - Castel hỏi.

- Tôi biết - Rieux đáp - Tôi đã gọi điện cho kho thuốc. Tay giám đốc như từ trên mây rơi xuống. Cần phải đưa huyết thanh từ Paris về.

- Tôi hy vọng sẽ có sớm.

- Tôi đã đánh điện. - Rieux đáp.

Ông thị trưởng tỏ ra lịch sự nhưng có vẻ nôn nóng.

- Mời các ngài, chúng ta bắt đầu - Ông ta tuyên bố - Tôi có phải tóm tắt lại tình hình không?

Richard cho là không cần thiết. Các thầy thuốc đều đã nắm được tình hình. Chỉ cần đặt vấn đề phải thi hành những biện pháp gì.

- Vấn đề là tìm hiểu có phải là dịch hạch hay không. - Ông già Castel gay gắt nói.

Hai ba thầy thuốc kêu lên. Những người khác hình như ngập ngừng. Còn ngài thị trưởng thì giật nẩy người lên và bất giác quay mặt ra cửa, như để kiểm tra xem cửa có ngăn cản được cái tin gớm ghiếc này lan ra ngoài hành lang không. Richard tuyên bố là không nên hốt hoảng; đây chỉ là bệnh sốt với những biến chứng về bẹn. Chỉ có thể nói thế thôi, vì lẽ trong khoa học cũng như trong đời sống, giả thuyết bao giờ cũng nguy hiểm. Ông già Castel điềm tĩnh nhay nhay bộ ria mép vàng hoe, ngước cặp mắt trong trẻo lên nhìn Rieux. Rồi, với thái độ khoan dung, quay về phía cử tọa và tuyên bố ông biết rất rõ đây là dịch hạch, nhưng dĩ nhiên nếu chính thức thừa nhận điều đó thì bắt buộc phải thi hành những biện pháp tàn nhẫn. Ông biết là xét cho cùng, chính điều đó làm cho đồng nghiệp của ông lùi bước, và do vậy, để cho họ yên tâm, ông sẵn sàng thừa nhận đây không phải là dịch hạch. Ông tỉnh trưởng lo lắng và tuyên bố dẫu sao đó cũng không phải là một cách lập luận thỏa đáng.

- Điều quan trọng, - Castel đáp - không phải ở chỗ lập luận có thỏa đáng hay không, mà là ở chỗ nó có khiến chúng ta suy nghĩ hay không.

- Đây là bệnh sốt mang tính chất thương hàn nhưng kèm theo hạch xoài và nôn mửa. Tôi đã rạch hạch, cho tiến hành phân tích và phòng thí nghiệm cho rằng đã nhận ra trực khuẩn dịch hạch hình mập. Nhưng muốn đầy đủ thì phải nói rằng một vài sự biến đổi đặc trưng của vi khuẩn này không ăn khớp với sự miêu tả kinh điển.

Richard nhấn mạnh rằng điều đó cho phép người ta phân vân và ít nhất phải chờ kết quả thống kê của một loạt công trình phân tích bắt đầu đã mấy hôm nay.

- Khi một vi sinh vật, - Rieux nói - sau một thời gian ngắn nằm im, có thể chỉ trong ba ngày làm khối lượng lá lách tăng lên bốn lần làm cho các hạch màng ruột lớn lên bằng quả cam và đặc sánh lại như một món xúp, thì không còn có thể phân vân nữa. Các ổ nhiễm khuẩn ngày càng tăng lên. Theo tốc độ tiến triển hiện nay, nếu không ngăn chặn lại, thì không đầy hai tháng nữa, nó sẽ giết chết một nửa thành phố. Vì vậy, gọi nó là dịch hạch hay bệnh sốt rét vỡ da của lứa tuổi đang lớn, là không quan trọng. Điều quan trọng duy nhất là chúng ta ngăn chặn không cho nó tiêu diệt một nửa thành phố.

Richard cho là không nên quá bi quan, vả lại chưa có gì xác nhận khả năng truyền nhiễm vì thân nhân người bệnh vẫn vô sự.

- Nhưng những người khác đã chết - Rieux lưu ý cử tọa - Vả lại, truyền nhiễm dĩ nhiên không bao giờ tuyệt đối, vì nếu không thì chúng ta đã đứng trước một sự gia tăng toán học vô tận và tình trạng giảm sút dân số khủng khiếp. Vấn đề không phải là bi quan hay không mà là tiến hành những biện pháp đề phòng.

Tuy nhiên, Richard cho rằng muốn ngăn chặn căn bệnh này nếu như tự nó không chấm dứt, thì phải thi hành những biện pháp phòng bệnh nghiêm ngặt theo luật định. Muốn vậy, phải chính thức thừa nhận là dịch hạch nhưng chưa có gì có thể tin một cách tuyệt đối cả. Vì thế, cần phải tiếp tục suy nghĩ.

- Vấn đề, - Rieux nhấn mạnh - không phải là xét xem các biện pháp theo luật định có nghiêm ngặt hay không, mà xét xem chúng có cần thiết để ngăn chặn cho nửa thành phố khỏi bị chết hay không. Phần còn lại là công việc hành chính, và chính xác thể chế của chúng ta đặt ra một ngài thị trưởng để giải quyết những vấn đề đó.

- Dĩ nhiên, - Ông thị trưởng đáp - nhưng tôi cần các ngài chính thức thừa nhận đây là bệnh dịch hạch mang tính chất dịch tễ.

- Dù chúng tôi không thừa nhận đi nữa, - Rieux đáp - thì nó vẫn có nguy cơ giết chết một nửa thành phố.

Richard can thiệp vào, vẻ ít nhiều bực bội :

- Sự thực là ông bạn đồng nghiệp của chúng tôi tin là dịch hạch. Việc ông ta miêu tả hội chứng chứng minh điều đó.

Rieux đáp ông không miêu tả một hội chứng, mà miêu tả cái chính mắt ông nhìn thấy. Và cái ông nhìn thấy, là những cái hạch xoài, những vết trên cơ thể người bệnh, những cơn sốt mê sảng chỉ trong bốn mươi tám tiếng là gây tử vong. Ông Richard có thể nhận lấy trách nhiệm khẳng định rằng không cần những biện pháp phòng bệnh nghiêm ngặt, dịch hạch cũng có thể chấm dứt không?

Richard lưỡng lự và nhìn Rieux :

- Ông hãy thành thực nói cho biết suy nghĩ của ông, ông có tin chắc là dịch hạch không?

- Ông đặt không đúng vấn đề. Đây không phải là chuyện chữ nghĩa, mà là chuyện thời gian.

- Ông cho rằng dù không phải là dịch hạch chăng nữa, ông thị trưởng hỏi, thì những biện pháp phòng bệnh trong thời kỳ dịch hạch cũng vẫn phải thi hành phải không?

- Nếu nhất thiết tôi phải có ý kiến, thì quả đây là ý kiến của tôi.

Các thầy thuốc bàn bạc và cuối cùng Richard tuyên bố :

- Vậy chúng ta phải có trách nhiệm hành động như thể bệnh trạng hiện nay là dịch hạch.

Công thức đó được nhiệt liệt tán thành.

- Ý kiến ông cũng như vậy phải không, ông bạn đồng nghiệp thân mến? - Richard hỏi.

- Công thức đối với tôi không quan trọng. - Rieux đáp - Tôi chỉ xin nói là chúng ta không được hành động như thể một nửa thành phố không có nguy cơ bị chết, vì nếu vậy thì nó sẽ bị chết.

Giữa cái không khí bực bội chung, Rieux ra về. Một lát sau, trong vùng ngoại ô sực mùi chiên rán và mùi nước giải, một người đàn bà đang gào lên trong chết chóc, bẹn đẫm máu, quay mặt về phía ông.

Sau cuộc họp một hôm, bệnh sốt lại tiến triển. Báo chí cũng phải nói tới, nhưng một cách nhẹ nhàng, bóng gió. Dẫu sao, hai ngày sau, Rieux cũng nhìn thấy những bản cáo thị nhỏ trên giấy trắng mà tỉnh đã vội vàng cho dân ở những góc phố kín đáo nhất. Khó có thể từ những bản cáo thị này kết luận rằng nhà chức trách đã nhìn thẳng vào tình hình. Các biện pháp không thật nghiêm ngặt và hình như người ta chỉ muốn làm cho dư luận công chúng không hoảng sợ. Thật vậy, trong phần mở đầu, bản quyết định thông báo là ở Oran đã xuất hiện mấy ca sốt ác tính mà đến nay chưa thể nói được là có truyền nhiễm hay không. Mấy ca ấy chưa đủ những triệu chứng đặc trưng để gây lo lắng thực sự và chắc chắn là dân chúng biết giữ bình tĩnh. Tuy nhiên, và với tinh thần thận trọng mà mọi người đều có thể hiểu, ngài thị trưởng thi hành một vài biện pháp đề phòng. Nếu được hiểu và áp dụng đúng, thì những biện pháp ấy có khả năng chặn đứng mọi nguy cơ dịch tễ. Bởi vậy, ngài thị trưởng không một chút nghi ngờ là dân chúng không hết lòng tận tụy công tác với nỗ lực cá nhân của ngài.

Sau đó, bản cáo thị nêu lên những biện pháp đại cương, trong đó có việc diệt chuột một cách khoa học bằng cách phun hơi độc vào cống rãnh và kiểm tra chặt chẽ việc cung cấp nước. Cáo thị khuyên dân chúng phải hết sức giữ vệ sinh và cuối cùng yêu cầu những người trong mình có bọ chét đến trình diện ở các phòng chữa bệnh trong thành phố. Mặt khác, các gia đình bắt buộc phải khai báo những trường hợp thầy thuốc đã chẩn đoán và bằng lòng để bệnh nhân cách ly trong những phòng riêng của bệnh viện. Vả lại, những phòng này được trang bị để săn sóc người bệnh trong thời gian tối thiểu với những khả năng chữa lành bệnh tối đa. Trong mấy điều khoản bổ sung, cáo thị yêu cầu bắt buộc tẩy uế buồng bệnh và xe chở người bệnh. Cuối cùng, cáo thị chỉ căn dặn thân nhân bệnh nhân đi khám bệnh.

Bác sĩ Rieux đột ngột rời mắt khỏi tờ cáo thị và trở về phòng làm việc. Joseph Grand, đang chờ ông, lại một lần nữa giơ cánh tay lên khi thấy ông trở về.

- Có, - Rieux nói - tôi biết, con số tăng thêm.

Ngày hôm trước, một chục người bệnh đã chết trong thành phố. Bác sĩ bảo Grand là có lẽ ông sẽ gặp anh vào buổi tối vì ông sắp phải đến thăm Cottard.

- Ông làm thế là phải - Grand đáp - Ông sẽ mang điều lành đến cho hắn, vì tôi thấy hắn thay đổi.

- Thay đổi thế nào?

- Hắn trở nên lễ độ.

- Thế trước kia hắn không lễ độ sao?

Grand ngập ngừng. Anh không thể nói là Cottard vô lễ, từ ngữ ấy có lẽ không đúng. Hắn là một con người khép kín và lặng lẽ, phần nào có dáng dấp hoang dã 11. Buồng ngủ, một quán ăn bình thường và những buổi ra ngoài khá bí mật, đấy là toàn bộ cuộc đời Cottard. Công khai thì hắn làm đại lý rượu vang và nước ngọt. Thỉnh thoảng, hắn tiếp vài ba người đàn ông - chắc hẳn là khách hàng. - Buổi tối, đôi khi hắn đi xem chiếu bóng ở rạp trước cửa nhà. Grand còn nhận xét thêm là Cottard thích xem những phim găngxtơ. Trong mọi trường hợp, anh chàng đại lý này đều sống cô độc và đa nghi.

Tất cả cái đó, theo Grand, đã thay đổi nhiều :

- Tôi không biết nói thế nào, nhưng tôi có cảm tưởng - ông biết không? - là hắn tìm cách tranh thủ mọi người, lôi kéo mọi người về phía mình. Hắn thường nói chuyện với tôi, mời tôi đi dạo chơi và không phải bao giờ tôi cũng khước từ được cả. Hơn nữa, tôi chú ý tới hắn và tóm lại, tôi đã cứu mạng hắn.

Từ sau khi định tự sát, Cottard không còn tiếp một người khách nào nữa. Trên đường phố, ở các cửa hiệu, hắn tìm cách tranh thủ tình cảm mọi người. Chưa bao giờ hắn tỏ ra dịu dàng đến thế trong khi nói với những người bán tạp hóa, chăm chú lắng nghe đến thế lời của một bà bán thuốc lá.

- Mụ bán thuốc ấy, - Grand nhận xét - là một con rắn độc thực sự. Tôi nói điều đó với Cottard, nhưng hắn đáp là tôi nhầm và mụ ta có những mặt tốt mà người ta phải biết tìm ra.

Cuối cùng, có đến hai ba lần Cottard dẫn Grand đến những khách sạn và phòng trà sang trọng trong thành phố. Quả là hắn bắt đầu lui tới những chốn đó.

- Ở đây chúng ta thoải mái, - Hắn bảo - vả lại những người ở đây đều tử tế cả.

Grand nhận thấy đám nhân viên ở đây trọng vọng anh chàng đại lý một cách đặc biệt, và anh hiểu vì sao như vậy khi thấy hắn cho họ những khoản puôbboa hậu hĩ. Cottard tỏ ra rất nhạy cảm đối với thái độ ân cần mà người ta bày tỏ để đền đáp hắn. Một hôm, anh chàng phụ trách đám bồi bàn ở khách sạn tiễn chân hắn và giúp hắn mặc áo khoác. Hắn bảo Grand :

- Hắn ta là một chàng trai tốt bụng, hắn có thể làm nhân chứng.

- Làm nhân chứng về cái gì?

Cottard ngập ngừng :

- Ồ, làm nhân chứng chứng nhận rằng tôi không phải là một người xấu.

Hơn nữa, Cottard có lúc thay đổi tính nết đột ngột. Một hôm, khi người bán tạp hóa tỏ ra ít thân tình hơn, hắn quay trở về nhà trong trạng thái phẫn nộ cực độ.

- Cái đồ bất lương ấy rồi cũng chết tiệt như những đứa khác thôi, hắn nhắc đi nhắc lại.

- Những đứa khác nào?

- Tất thảy những đứa khác.

Grand cũng lại từng chứng kiến một cảnh tượng kỳ lạ ở nhà mụ bán thuốc lá. Giữa một buổi chuyện trò sôi nổi, mụ này nói về một vụ bắt bớ mới đây làm xôn xao dư luận ở Alger. Vụ một nhân viên bán hàng trẻ tuổi giết chết một người Ả Rập trên bãi biển.

- Nếu tống tất cả cái đồ cặn bã ấy vào tù, - Mụ bán hàng nói - thì những người lương thiện có thể sống được.

Nhưng mụ ta phải ngừng lời trước sự dao động đột ngột của Cottard: hắn lao ra khỏi quán hàng mà không nói nửa lời xin lỗi. Grand và mụ nhà hàng, sững sờ nhìn hắn bỏ chạy.

Về sau, Grand kể lại với Rieux những sự thay đổi khác trong tính nết Cottard. Hắn luôn luôn phát biểu những quan điểm rất tự do. Cái câu hắn rất ưa thích: “Bao giờ cá lớn cũng nuốt cá bé” chứng minh rõ điều đó. Nhưng lâu nay, hắn chỉ còn mua tờ báo chính thống của Oran và người ta không thể không nghĩ rằng hắn cố tình phô trương việc đọc tờ báo đó ở những nơi công cộng. Cũng như vậy, mấy ngày sau khi khỏi bệnh, hắn nhờ Grand - trên đường đi ra bưu điện - gửi giúp hắn một cái măngđa một trăm frăng mà tháng nào hắn cũng dành cho một người chị gái ở xa. Nhưng vào lúc Grand ra đi thì Cottard bảo :

- Ông gửi giúp cho chị ấy hai trăm frăng, nó sẽ gây một sự ngạc nhiên lý thú cho chị. Chị ấy cứ nghĩ là không bao giờ tôi nghĩ tới chị. Nhưng sự thực là tôi yêu mến chị ấy lắm.

Cuối cùng hắn có lần chuyện trò một cách kỳ lạ với Grand. Anh bắt buộc phải trả lời những câu hỏi của hắn vì hắn băn khoăn về cái công việc riêng mỗi buổi tối của anh.

- Được, - Cottard nói - ông viết sách.

- Ông nói vậy cũng được, nhưng thực ra phức tạp hơn thế nhiều!

- A! - Cottard vội thốt lên - Tôi rất muốn làm như ông.

Grand tỏ vẻ ngạc nhiên và Cottard ấp úng nói rằng khi người ta là nghệ sĩ thì người ta có thể thu xếp được nhiều chuyện.

- Vì sao vậy? - Grand hỏi.

- Ồ, vì một người nghệ sĩ có nhiều quyền hơn một người khác, ai cũng biết như vậy. Người ta bỏ qua cho anh ta nhiều chuyện hơn.

- Này, - Rieux bảo Grand vào buổi sáng bắt đầu có bản cáo thị - cái chuyện chuột làm hắn cũng như nhiều người khác choáng váng, chỉ có thế thôi. Hoặc nữa hắn sợ bệnh sốt.

Grand trả lời :

- Thưa bác sĩ, tôi không tin, và nếu bác sĩ muốn hỏi ý kiến tôi...

Chiếc xe của cơ quan diệt chuột chạy phía ngoài cửa sổ, tiếng ống xả vang lên. Rieux lặng im cho tới khi Grand có thể nghe ông nói, và một cách lơ đãng hỏi ý kiến anh. Grand trịnh trọng nhìn ông :

- Hắn có điều gì phải tự trách mình hay sao ấy. - Anh nói.

Rieux nhún vai. Như viên cảnh sát trưởng đã nói, có những công việc khác cần quan tâm hơn.

Buổi chiều, Rieux nói chuyện với Castel. Huyết thanh vẫn không về.

- Vả lại, - Rieux hỏi - liệu chúng còn có ích nữa không? Con trực khuẩn thật kỳ lạ.

- Ồ, - Castel đáp - tôi không đồng ý với ông. Những con vật này bao giờ cũng có một vẻ độc đáo. Nhưng kỳ thực, cũng thế cả thôi.

- Ít ra ông cũng giả định như vậy. Nhưng mọi người cũng đều nghĩ thế.

Cái trạng thái hơi chóng mặt mỗi khi Rieux nghĩ tới dịch hạch, suốt ngày hôm đó, ông cảm thấy cứ tăng thêm. Cuối cùng, ông thừa nhận là ông sợ hãi. Hai lần ông bước vào mấy quán cà phê chật ních người. Cũng như Cottard, ông cảm thấy cần hơi ấm con người. Rieux thấy như vậy là ngốc nghếch, nhưng điều đó giúp ông nhớ lại là ông có hứa đến thăm anh chàng đại lý.

Tối hôm đó, khi ông đến, Cottard đang ngồi trước bàn trong phòng ăn. Trên bàn là một cuốn tiểu thuyết trinh thám để mở. Nhưng chiều đã muộn và chắc hẳn khó có thể đọc sách trong bóng tối hoàng hôn. Chắc hẳn, một phút trước đây, Cottard ngồi trầm tư trong cảnh tranh tối tranh sáng thì đúng hơn. Rieux hỏi hắn sức khỏe ra sao. Cottard vừa ngồi xuống ghế vừa lầm bầm là hắn mạnh khỏe và sẽ còn mạnh khỏe hơn nếu hắn có thể tin chắc rằng không có ai bận tâm về hắn. Rieux lưu ý hắn là không một ai có thể lúc nào cũng sống một mình cả.

- Ồ, không phải thế. Tôi, tôi muốn nói đến những người gây những nỗi phiền hà cho người khác.

Rieux im lặng.

- Đấy không phải là trường hợp của tôi, xin ông chú ý điều đó cho. Nhưng tôi đang đọc cuốn tiểu thuyết này. Một kẻ khốn khổ bỗng nhiên bị người ta bắt vào một buổi sáng. Trước đó, người ta bận tâm đến hắn mà hắn không hay biết gì hết. Người ta nói về hắn trong các công sở, người ta ghi tên hắn vào những tờ phiếu. Ông cho như thế là đúng sao? Ông cho là người ta có quyền làm như vậy đối với một con người sao?

- Cái đó còn tùy - Rieux đáp - Quả là ở một mặt nào đó, người ta không bao giờ có quyền. Nhưng tất cả cái đó là thứ yếu. Không nên ở im ỉm mãi trong nhà. Ông cần phải đi dạo ngoài trời.

Cottard hình như có vẻ bực bội, nói hắn chỉ làm có thế, và nếu cần, cả khu phố có thể làm chứng cho hắn. Ngay cả ngoài phạm vi khu phố, hắn cũng không thiếu bạn bè.

- Ông biết ông Rigaud, kiến trúc sư chứ? Là bạn tôi đấy.

Trong buồng, bóng tối ngày càng dày đặc. Đường phố ngoại ô mỗi lúc một náo nhiệt và ở bên ngoài, có tiếng rao lên âm vang và khoan khoái chào mừng những ngọn đèn đường bật sáng. Rieux đi ra ban công và Cottard bước theo. Cũng như mọi tối khác trong thành phố, từ tất cả các khu phố lân cận, một làn gió nhẹ mang tới những tiếng ồn ào, mùi thịt nướng, tiếng rì rầm vui vẻ và ngọt ngào của cuộc sống tự do; đường phố ngày càng nhộn nhịp, đám thanh niên ồn ã kéo cả ra đường. Ban đêm, tiếng hú của những con tàu biển vô hình, tiếng xôn xao cất lên từ biển cả và từ đám đông cuồn cuộn, cái giờ phút quen thuộc mà ngày trước Rieux ưa thích này, giờ đây đối với ông trở nên ngột ngạt vì tất cả những điều ông biết được.

- Đốt đèn lên được chứ? - Ông hỏi Cottard.

Đèn được đốt lên, anh chàng bé nhỏ này, mắt hấp háy nhìn ông :

- Thưa bác sĩ, bác sĩ cho biết là nếu tôi bị ốm thì bác sĩ có nhận tôi vào bệnh viện không?

- Sao lại không?

Cottard liền hỏi đã có trường hợp người ta bắt giữ một người đang nằm trong bệnh viện không. Rieux đáp là trường hợp đã có xảy ra, nhưng tất thảy đều tùy thuộc vào tình hình người bệnh.

- Tôi, - Cottard nói - tôi tin vào bác sĩ.

Rồi hỏi Rieux có vui lòng đưa hắn đi phố bằng ô-tô không.

Ở trung tâm thành phố, đường sá đã bớt người và cả ánh sáng cũng ít đi. Có những đám trẻ con chơi trước cả nhà. Theo yêu cầu của Cottard, Rieux dừng xe lại trước một nhóm trẻ. Chúng vừa chí chóe vừa chơi nhảy ô. Nhưng một đứa, mớ tóc đen miết sát vào đầu, đường ngôi thẳng tắp, mặt mũi lem luốc, chằm chằm nhìn Rieux với đôi mắt màu sáng và ra vẻ dọa dẫm, ông quay mặt đi. Đứng trên hè đường, Cottard bắt tay ông. Hắn nói giọng khàn khàn, lúng túng; hai ba lần, hắn nhìn ra phía sau.

- Người ta nói về dịch tễ. Có đúng thế không, thưa bác sĩ?

- Bao giờ người ta chẳng nói, đó là điều tự nhiên. - Rieux đáp.

- Bác sĩ nói đúng. Và khi có đến một chục người chết, thì mọi sự sẽ chấm dứt. Chúng ta không hề muốn cái đó.

Động cơ đã nổ. Rieux đặt tay lên cần tốc độ. Nhưng ông lại nhìn đứa trẻ: nó vẫn trân trân nhìn ông với vẻ nghiêm trang và điềm tĩnh. Và bỗng nhiên, hết sức đột ngột, nó toét miệng cười với ông.

- Chúng ta phải làm gì nào? - Ông vừa hỏi vừa mỉm cười với đứa bé.

Bỗng nhiên Cottard níu lấy cửa xe, và trước lúc bỏ chạy, kêu toáng lên, giọng đầy nước mắt và phẫn nộ :

- Động đất. Một vụ động đất thực sự!

Động đất không hề xảy ra và ngày hôm sau, Rieux chỉ phải lui tới khắp thành phố để thương lượng với các gia đình người bệnh và bàn cãi với cả chính bản thân người bệnh. Chưa bao giờ ông cảm thấy nghề nghiệp vất vả đến thế này. Từ trước đến nay, người bệnh tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ của ông, phó thác cho ông. Lần đầu tiên, ông thấy họ e dè giấu mình đằng sau bệnh tật với một thái độ ngạc nhiên, nghi kỵ. Ông chưa quen với cuộc chiến đấu như thế này. Đến mười giờ tối, sau khi dừng xe trước nhà ông già bị hen suyễn mà ông thăm cuối cùng trong ngày, bác sĩ Rieux khó nhọc lắm mới rời khỏi được ghế ngồi. Ông nán lại nhìn đường phố tối om và những vì sao mọc và lặn trên bầu trời u ám.

Ông già bị suyễn ngồi dậy trong giường. Hình như ông lão thở dễ dàng hơn và đếm những hạt đậu mà ông ta chuyển từ nồi này sang nồi nọ. Ông ta hớn hở chào đón Rieux :

- Thế nào, thưa bác sĩ, dịch tả à?

- Ông nhặt được cái tin ấy ở đâu thế?

- Trong báo, và đài phát thanh cũng nói vậy.

- Không, không phải dịch tả.

- Dầu sao, - Ông lão nói, vẻ rất kích động - cũng thật quá đáng, mấy cái đầu óc ngu ngốc ấy!

- Ông đừng tin. - Bác sĩ Rieux bảo.

Ông khám bệnh xong cho ông già và giờ đây ngồi giữa cái phòng ăn tồi tàn này. Đúng, ông sợ. Ông biết rằng ngay trong xóm ngoại ô này, sáng mai, một chục người bệnh có thể chờ ông, người cúi gập xuống những cái hạch xoài. Chỉ có hai ba trường hợp việc rạch hạch có làm bệnh thuyên giảm. Còn nữa thì đâu phải đến bệnh viện và ông biết bệnh viện là thế nào đối với người nghèo. “Tôi không muốn nhà tôi dùng làm vật thí nghiệm cho họ”, vợ một người bệnh đã nói với ông như vậy. Người bệnh đó sẽ không dùng làm vật thí nghiệm, hắn sẽ chết và chỉ có thế thôi. Những biện pháp được thi hành không đủ hiệu lực, điều đó thật rõ ràng. Còn những cái buồng “được trang bị đặc biệt”, thì ông biết lắm: hai ngôi nhà nhỏ vừa vội vã cho các bệnh nhân khác dời đi, cửa sổ bịt kín, xung quanh có hàng rào chống dịch. Nếu bản thân bệnh dịch không tự nó dừng lại, thì những biện pháp do cơ quan hành chính đặt ra không thể đánh bại nó.

Thế nhưng, buổi tối, các thông báo chính thức vẫn lạc quan. Ngày hôm sau, hãng Ransdoc thông báo là các biện pháp của tỉnh được đón nhận một cách bình tĩnh và ba chục người bệnh đã tự khai báo. Castel gọi điện cho Rieux :

- Các phòng bệnh nhân chứa được bao nhiêu giường?

- Tám mươi.

- Chắc chắn là trong thành phố có hơn ba chục người bệnh phải không?

- Còn có những người sợ không dám khai báo và cả những người khác - số này đông nhất - những người không có thì giờ.

- Những vụ chôn cất không được kiểm soát phải không?

- Không. Tôi đã gọi điện cho Richard là cần những biện pháp hoàn chỉnh, chứ không phải những lời nói, và cần dựng lên chống lại bệnh dịch một cái hàng rào thực sự, hoặc không gì hết thảy.

- Thế rồi thế nào?

- Ông ta trả lời là ông ta không có quyền. Theo tôi, tình hình sẽ nghiêm trọng thêm.

Thật vậy, chỉ trong ba ngày, hai ngôi nhà dành cho bệnh nhân đã chật ních. Richard nghe nói là người ta sẽ lấy một trường học và dự kiến một bệnh viện phụ. Richard chờ vacxin và vẫn chích hạch. Castel nghiên cứu lại các cuốn sách cũ của mình và thường dừng lại lâu ở thư viện.

- Chuột chết vì dịch hạch hay vì một bệnh gì rất giống dịch hạch - Ông kết luận - Chúng tung ra hàng chục nghìn con bọ chét và lũ bọ chét này sẽ làm bệnh lây lan theo cấp số nhân nếu chúng ta không ngăn chặn lại kịp thời.

Rieux im lặng.

Vào thời kỳ này, thời gian như ngưng đọng lại. Mặt trời hút nước ở những vũng còn lại sau những trận mưa rào cuối cùng. Những mảng trời xanh tràn ngập ánh sáng màu vàng, tiếng máy bay ầm ĩ trong nắng sớm, tất cả cảnh vật như muốn làm cho người ta yên lòng. Nhưng trong bốn ngày, bệnh dịch nhảy vọt bốn bước kinh hồn: mười sáu người chết, rồi hai mươi bốn, hai mươi tám và ba mươi hai. Ngày thứ tư, người ta thông báo việc mở bệnh viện phụ trong một ngôi trường mẫu giáo. Đồng bào chúng tôi cho đến lúc bấy giờ che giấu nỗi lo lắng sau những lời bông đùa, giờ đây, trên đường phố, tỏ ra rầu rĩ hơn, lặng lẽ hơn.

Rieux quyết định gọi điện lên thị trưởng.

- Các biện pháp chúng ta áp dụng không đủ hiệu lực. - Ông nói.

- Tôi nắm được số liệu, - Viên thị trưởng đáp - quả là những con số đáng lo ngại.

- Không phải chỉ đáng lo ngại, mà là đã rõ ràng.

- Tôi sẽ xin lệnh của Phủ toàn quyền.

Castel đến và Rieux đặt máy xuống :

- Lệnh! Và phải có cả trí tưởng tượng nữa kia.

- Còn huyết thanh?

- Trong tuần này sẽ có.

Qua vai trò trung gian của Richard, tỉnh yêu cầu Rieux viết báo cáo gửi về thủ đô Angic để xin lệnh. Rieux miêu tả về mặt lâm sàng và nêu lên những con số. Cũng ngày hôm đó, có bốn chục người chết. Ông thị trưởng nhận trách nhiệm - theo lời ông ta - ngay từ ngày hôm sau tăng cường những biện pháp cần thi hành. Biện pháp khai báo bắt buộc và cách ly bệnh nhân được duy trì. Nhà người bệnh phải đóng cửa và tẩy uế, thân nhân phải cách ly kiểm dịch, việc chôn cất người chết do thành phố tổ chức theo những điều kiện sẽ nói tới sau. Một ngày sau, máy bay chở huyết thanh tới. Vừa đủ cho những ca đang điều trị. Sẽ thiếu nếu bệnh dịch lan rộng. Trả lời bức điện của Rieux, người ta bảo kho dự trữ đã cạn và những đợt sản xuất mới đã bắt đầu.

Trong thời gian ấy, và ở tất cả các vùng ngoại ô lân cận, mùa xuân đã tới trên chợ búa. Hàng nghìn bông hồng bị tàn lụi trong giỏ của người bán hoa, dọc hè phố, và hương vị ngọt ngào của chúng phảng phất trong khắp phố phường. Bề ngoài, không thấy có gì thay đổi. Các chuyến tàu điện những giờ cao điểm thì đầy ắp, còn trống không và nhớp nhúa. Tarrou vẫn quan sát cái ông già nhỏ người, và ông già này vẫn nhổ nước bọt lên đám mèo. Tối nào Grand cũng về nhà để làm cái công việc bí mật của mình. Cottard vẫn trong vòng lẩn quẩn và ông dự thẩm Othon vẫn chăm sóc đàn gia súc. Ông già bị hen suyễn vẫn chuyền những hạt đậu và thỉnh thoảng người ta gặp nhà báo Rambert, vẻ điềm tĩnh và chăm chú. Buổi tối, vẫn cái đám đông người trên đường phố và người ta vẫn nối đuôi nhau trước các rạp chiếu bóng. Vả lại, bệnh dịch hình như đã lùi bước, và trong mấy ngày, người ta chỉ đếm được vài chục người chết. Rồi bỗng nhiên dịch tăng vụt lên. Hôm số người chết lại lên tới ba mươi, Bernard Rieux đọc bức công điện viên tỉnh trưởng vừa đưa ông xem vừa nói: Họ sợ: Bức điện ghi: “Hãy tuyên bố tình trạng dịch hạch. Đóng cửa thành phố lại”.

--------------------------------
1 Saint-Just (1767 - 1794), chính quyền Pháp, thành viên Ủy ban cứu quốc trong Cách mạng 1789, nổi tiếng về thái độ cố chấp, không nhân nhượng (ND). Các chú thích từ nay về sau là của người dịch.
2 Nguyên văn: Ăn mặc như những con chó được luyện tập để làm trò.
3 Trong sinh hoạt của người Pháp, thông thường, khi nói với vợ con và những người thân thiết, người ta dùng ngôi thứ hai số ít.
4 Nhà sử học xứ Bidăngxơ (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) thế kỷ VI, viết về nạn dịch hạch ở thủ đô nước Thổ (542) trong cuốn Chiến tranh chống người Ba Tư.
5 Một tỉnh ở miền Nam nước Pháp.
6 Thành phố Palestine.
7 Tên ngày xưa của thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ.
8 Thành phố Italia.
9 Tên nhà thơ La Mã trước C.N.
10 Một vùng Đông nam nước Pháp.
11 Nguyên văn: Dáng dấp một con lợn rừng.



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nhà Xuất Bản Sống Mới 1957 Giới thiệu ngắn Người viết văn thành danh trước khi đất nước bị chia cắt, sau sự hụt hẩn về những đổi thay của chánh trị và văn nghệ mà cầm bút lại sớm nhất và viết với chủ đề mang tính cách xây dựng là Thẩm Thệ Hà. Cùng thời với Hoa Trinh Nữ người khác viết Rừng Thẳm Bể Khơi, Tiếng Suối Sao Leng… đầy rẫy cảnh trai gái tình tứ nhạy cảm thì Thẩm Thệ Hà chọn đề tài nói lên điều xấu của giới trẻ trong trường nội trú: tình cảm đồng phái tính. Ông dùng tệ trạng đó làm nền để nói điều cần nói là phải chửa lại cái tâm lý tình cảm lệch lạc khiến thành vô cảm của những người trẻ nầy, hướng dẫn họ đi vào con đường ích lợi cho xã hội. Thời đó những nhóm nữ sinh CTY, YTC bắt cặp với nhau đã thành bệnh, tiếng nói nhẹ nhàng của Hoa Trinh Nữ có thể coi là một trong những nguyên nhân làm xẹp đi phong trào nầy. Văn trao chuốt, gợi cảm, quyển sách sẽ có giá trị hơn nếu phần đầu không qua kéo dài đến thành loãng.. (NVS-2008)
TỦ SÁCH TUỔI HOA LOẠI HOA ĐỎ : truyện phiêu lưu, mạo hiểm, trinh thám /post 29 Tháng Chín 2015 (Xem: 1054)/
Albert Camus Dịch Hạch - Người dịch: Nguyễn Trọng Định Lời giới thiệu Albert Camus (1913 - 1960) là một trong những tên tuổi nổi bật trên văn đàn Pháp trong những thập kỷ giữa và sau chiến tranh thế giới thứ hai. Tác phẩm của Camus - tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, tùy bút và tiểu luận - gây nên những cuộc tranh luận sôi nổi ở Pháp và nhiều nước trên thế giới. Camus được giải thưởng Nobel về văn học năm 1957 vì sáng tác văn học của ông đã “đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt ra cho lương tâm loài người ở thời đại chúng ta”.
03 Tháng Năm 2013 (Xem: 1518) Mùa xuân năm 1871, một thành niên may mắn đọc được một câu văn ảnh hưởng sâu xa tới tương lai của chàng. Hồi ấy còn là sinh viên y khoa ở trường Montreal, chàng lo đủ thứ: lo thi ra cho đậu, đậu rồi sẽ làm gì, làm ở đâu, sap cho có đủ thân chủ, kiếm cho đủ ăn? Nhờ câu văn đọc được trong sách của Thomas Carlyle mà chàng trở nên một ý sẽ có danh nhất thời đó. Chính chàng đã tổ chức trường y khoa tại Đại học Oxford, một danh dự cao nhất trong y giới Anh.
0 Tháng Năm 2013 (Xem: 1561)...* LOẠI HOA XANH: tình cảm nhẹ nhàng (gia đình, bạn bè). * Tác giả: THỤY Ý * Nhà xuất bản Tuổi Hoa - 1971 * Nguồn: ĐÈN BIỂN sưu tầm và đánh máy
16 Tháng Tám 2013 (Xem: 1430) MInh Quân & Mỹ Lan Lữ Quán Giết Người Vào một ngày cuối tháng 11, trời lạnh và u ám. Thời tiết thay đổi từ đêm qua: gió dữ dội, bầu trời xám xịt, rồi một cơn mưa phùn. Mới vào khoảng hai giờ chiều mà khắp các ngọn đồi đều bị bao phủ trong ủ dột của một chiều đông. Sương mù giăng cùng khắp. Và chỉ 4 giờ chiều trời đã tối sầm lại. -TỦ SÁCH TUỔI HOA - LOẠI HOA TÍM : dành cho lứa tuổi 16 - 18.-
Thảo im lặng chờ bạn giải nốt bài toán, mắt lơ đãng nhìn ra khung cửa sổ . Tấm màn cửa bay bay trong gió làm cho hình ảnh bên ngoài khi ẩn khi hiện . Tuy nhiên, Thảo cũng nhận ra buổi chiều nay thật đẹp, một buổi chiều hiếm có ở Sài Gòn . Mấy hôm nay trời nắng gắt như lửa đổ . Trẻ con, người lớn thi nhau ốm lăn lóc, người nào cũng thấy như tay chân bải hoải, không muốn làm việc . Thành phố chói chang ánh sáng khiến người ta nhức đầu, lóa mắt . Thảo nghe hoài câu thành ngữ : « Nắng lửa, mưa dầu », mưa dầu không biết làm sao, chứ nắng như thế này đúng là nắng lửa
01 Tháng Hai 2013 (Xem: 3897) Hương Đồng Quê - Đặng Xuân Hường - Bình Giã cũng là một vùng quê yên bình, với ruộng đồng lúa bắp ngô khoai, với bao người chung sống ôn hoà. Và một trong những nét đẹp của quê hương Bình Giã mình là những cô gái vui tươi, dù chân lấm tay bùn nhưng vẫn có nụ cười rạng rỡ, dù dãi nắng dầm sương nhưng vẫn có vẻ đẹp hồn nhiên của tuổi thanh xuân.
Phép Lịch Sự....24 Tháng Giêng 2013 (Xem: 2680)
Dương Thu Hương - Bên Kia Bờ Ẳo Vọng....24 Tháng Giêng 2013 (Xem: 928) - Vietmessenger
Bảo Trợ