Ý nghĩa sâu sắc trong bức họa nổi tiếng nhất thời Phục Hưng ‘Bữa tối cuối cùng’ của thiên tài Da Vincie

19 Tháng Hai 20201:16 CH(Xem: 493)

blankblank
blank

ừ khoảng năm 1495, Da Vinci đã dành hết tâm huyết cho việc sáng tạo bức “Bữa tối cuối cùng” (The Last Supper). Đây là một trong những tác phẩm hoàn hảo nhất của Da Vinci, được đặt trong phòng ăn của Tu viện Santa Maria ở Milan, nước Ý. Với ý tưởng tuyệt diệu, ngôn ngữ cơ thể của nhân vật rất sinh động, tựa như một vở hí kịch trong đó mỗi người có một trạng thái nội tâm khác biệt.



Chủ đề bức tranh

Bức “Bữa tối cuối cùng” ban đầu thuộc về đề tài “Jesus gặp nạn” trong các bức tranh thời Trung cổ. Nó cũng trở thành chủ đề của bức tranh độc lập trong thời Phục Hưng. Trong các phiên bản khác nhau của sách Phúc Âm (ghi lại lời dạy của Jesus), trong phần mô tả “Bữa tối cuối cùng” có một vài điểm chính như sau: Thứ nhất, Chúa Jesus tuyên bố rằng ông sẽ bị một trong các môn đồ có mặt tại đây phản bội. Các môn đồ đã bị sốc và tự hỏi liệu có phải là họ không; thứ hai, hình ảnh chia bánh mỳ và rượu của Jesus trong bữa ăn; thứ ba, khi Chúa Jesus tuyên bố rằng mình sẽ bị phản bội, đôi tay của Judas và Chúa Jesus đồng thời đặt trên đĩa, đây như là một tín hiệu là để vạch trần kẻ phản bội.

Da Vinci đã kết hợp các tình tiết trên thành một bức tranh duy nhất. Ông tổng hợp các sự kiện đơn lẻ đan xen với nhau cùng một lúc. Tuy nhiên, điều Leonardo Da Vinci muốn nhấn mạnh nhất là khoảnh khắc kịch tính trong câu chuyện. Đó là khi Chúa Jesus tuyên bố với các môn đồ của mình rằng: “Một trong các ngươi muốn phản bội ta” và những phản ứng khác nhau của mười hai môn đệ.



Kết cấu bức tranh

Chúng ta hãy cùng tham khảo một số bức tranh của các tác giả khác về chủ đề này, được vẽ trước khi bức “Bữa tối cuối cùng” của Da Vinci ra đời:

blank

“Bữa tối cuối cùng” của hoạ sỹ Castagno, được vẽ năm 1450. (Ảnh: Public Domain)

blank

“Bữa tối cuối cùng” của hoạ sỹ Jilanda, được vẽ năm 1480. (Ảnh: 3g.163)

Da Vinci không cô lập Chúa Jesus sang phía đối diện của bàn ăn như những bức tranh trong quá khứ. Ông cũng không sử dụng hào quang để phân biệt giữa các Thánh đồ và kẻ phản bội. Thay vào đó, ông sắp xếp tất cả nhân vật đối mặt với khán giả. Chuyển động và thái độ của các nhân vật phản ánh “niềm vui” của thế giới thực: không thể phân biệt giữa các vị Thánh và nhân vật phản diện khi nhìn từ ngoại hình.

blank

Bức họa “Bữa tối cuối cùng” trong phòng ăn của Tu viện Santa Maria ở Milan: trong thế kỷ 16 một tu sỹ đã vô ý mở cánh cửa giữa phòng ăn này và làm hư hỏng phần hình ảnh bên dưới Chúa Jesus. (Ảnh: Epochtimes)

Để đạt được hiệu quả thực tế, Da Vinci đã tính toán chính xác khiến cho phối cảnh của bức tranh phù hợp với cấu trúc của phòng ăn của tu viện, đồng thời cũng tạo ra nguồn sáng cho bức tranh. Dường như, có một không gian khác được mở ra trong phòng ăn này.

Bức tranh sử dụng sự đối xứng trái và phải; trọng tâm nằm ở Chúa Jesus. Mười hai môn đồ được chia đều cho hai bên, tạo thành một cấu trúc ổn định và khác biệt. Các môn đồ phản ứng dữ dội, thể hiện ở những chuyển động khác nhau của thân thể. Nhưng dưới sự sắp xếp khéo léo của Da Vinci, mỗi nhóm người được kết nối và liên kết bởi các chuyển động của chân tay, tạo thành một sự thay đổi liên tục về mật độ và nhịp điệu thị giác.

Chúa Jesus ở trung tâm dường như bị cô lập. Nhưng các môn đồ và cử chỉ của họ đều hướng về Chúa Jesus, đôi mắt đổ dồn vào Chúa Jesus, tạo thành một loại tập trung vào trung tâm, đảm bảo sự thống nhất của bức tranh và ý nghĩa tổng thể. Đây là tính thẩm mỹ của “sự đa dạng mà thống nhất”. Từ góc nhìn xa, có thể thấy bức tranh ổn định và trang trọng, nhưng phong thái của các nhân vật lại vô cùng sống động.



Vì vậy, vấn đề của Leonardo da Vinci là: Làm thế nào để thể hiện sự khác biệt giữa Judas -kẻ phản bội- với những người còn lại?



Thể hiện trạng thái nội tâm bằng ngôn ngữ cơ thể

Theo ghi chép của Vasari về tiểu sử nghệ sỹ, Da Vinci thường lang thang khắp các quảng trường và đường phố để quan sát hành vi của nhiều người khác nhau. Da Vinci cũng đã viết trong cuốn “Bàn về hội họa” rằng: “Một họa sỹ giỏi nên vẽ được ra hai điều chính: người và ý hướng tâm linh của người… Điều quan trọng nhất trong hội họa là tư thế của nhân vật phải thể hiện được trạng thái bên trong của anh ta, như khao khát, khinh miệt, tức giận và cảm thông…” Vì vậy, mọi nhân vật dưới cây cọ của Da Vinci đều có tình cảm và tư tưởng.

Để đạt được mục tiêu này, ông nhấn mạnh rằng họa sỹ nên luôn mang theo bên mình một quyển phác thảo, để có thể dễ dàng ghi lại biểu cảm và hành động của những người trò chuyện với mình, vẽ chúng lên quyển phác thảo bằng những nét vẽ cực nhanh, giữ lại những bản phác thảo này như một tài liệu tham khảo cho con đường hội họa của bản thân. Trên thực tế, đây cũng là thói quen thường thấy của Leonardo Da Vinci. Có thể hình dung rằng, Da Vinci – người đã nỗ lực quan sát cách cư xử và mối quan hệ tâm lý của mọi người trong một thời gian dài – đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trước khi tạo ra bức tranh tuyệt vời “Bữa tối cuối cùng” này.

Do đó, trong khi Leonardo đang hình dung toàn cục, ông cũng cố gắng tìm ra ngoại hình, dáng vẻ và phản ứng của những người có tính cách và bối cảnh khác nhau, cũng như sự tương tác giữa các nhân vật. Ông đặc biệt nhấn mạnh việc sử dụng các cử chỉ khác nhau để mô tả trạng thái tinh thần của Chúa Jesus và các môn đồ lúc đó.

blank

Các phác thảo của Da Vinci dành cho bức “Bữa tối cuối cùng”. Từ trái qua: Chúa Jesus; Một môn đồ; Nhân vật Judas. (Ảnh: Public Domain/Epochtimes)

Da Vinci tin rằng: các chuyển động khác nhau của bàn tay và cánh tay nên dùng để thể hiện ý đồ trong tư tưởng của họ. Miễn là người xem tranh muốn phán đoán, họ có thể hiểu được ý định bên trong của nhân vật bằng cách quan sát hướng chuyển động của những bàn tay trong bức tranh.

Trong “Bữa tối cuối cùng”, cử chỉ của các nhân vật đóng vai trò định hướng thị giác, cường hóa sự thống nhất của hình ảnh. Quan trọng hơn, những ngôn ngữ cơ thể này thể hiện một cách khéo léo ý định bên trong của các nhân vật. Da Vinci cũng đã sử dụng kỹ thuật này để chỉ ra danh tính của Judas – kẻ phản bội.

blank

Chúa Jesus dang hai tay tạo thành một tư thế hình kim tự tháp, thể hiện một vẻ ngoài điềm tĩnh, khoan dung và tha thứ, trái ngược với các vị môn đồ đang nhiễu động xôn xao từ hai bên.

blank

Môn đồ Peter, người căm ghét sự thù hận, đang nắm lấy vai của John (người ngồi cạnh bên phải Jesus), như yêu cầu anh ta hỏi xem ai là người đã bán đứng Jesus. Kẻ phản bội Judas ở ngay bên cạnh, tay đang cầm túi tiền nghe thế mà giật mình quay đầu lại.

blank

Thomas với ngón tay chỉ lên trời như thể hỏi Jesus về manh mối tìm ra kẻ phản bội. James Major (James “Lớn”) trong tâm trạng khá sốc với hai tay dang ra hai bên. Philip thì tự chỉ vào bản thân như muốn hỏi: “Liệu đó có phải là con không?”.

blank

Cụm nhân vật Bartholomew, James Minor (James “Nhỏ”) và Andrew; họ đều tỏ vẻ kinh sợ. Andrew giơ tay lên như biểu thị cho hai người kia: “Bình tĩnh! Bình tĩnh nào!”.

blank

Ba người ở bên trái xa nhất là Matthew, Thaddeus và Simon đang nói chuyện với cử chỉ rất mãnh liệt. Với đôi tay chỉ vào Chúa Jesus ở trung tâm bức tranh, họ như đang tranh luận xem ai là kẻ mà Jesus đang nói tới.



Trong bức tranh này, Da Vinci đã chỉ ra danh tính của kẻ phản bội Judas theo những cách khác nhau:

Thứ nhất Judas là người duy nhất trong bức tranh không tương tác với người khác, ở trong một trạng thái bị cô lập. Vì cảm giác tội lỗi và tâm lý tự bảo vệ, cơ thể hắn rút lui, tạo thành một sự tương phản với những người khác. Các môn đồ khác đều hướng đến trung tâm là Chúa Jesus, mà Judas lại không quan tâm. Thứ hai là hành động cầm giữ bằng chứng tội ác – chiếc túi đựng tiền. Mặt khác, hắn đang vươn tay ra đĩa giống Chúa Jesus. Ngoài ra, khuôn mặt của Judas cũng được cố ý vẽ để cho thấy ông ta là một người tội lỗi (mặt nghiêng 1/2 và cau có, đen đúa với chiếc cằm nhọn hoắt). Với những manh mối này, không khó để khán giả có thể phán xét được ai là kẻ phản bội.

Trước Leonardo Da Vinci, không họa sỹ nào có thể miêu tả thành công mối liên hệ giữa tư tưởng bên trong và ngôn ngữ cơ thể bên ngoài của con người. Quan niệm hoàn hảo từ cấu trúc không gian, sự sắp xếp các nhân vật, sự tương tác của các chuyển động cơ thể, nhân vật cùng biểu cảm… Toàn bộ bố cục đều được xem xét cẩn thận và hoàn hảo. Leonardo da Vinci cũng không coi nhẹ chủ nghĩa hiện thực. Theo mô tả của Vasari: “Mọi chi tiết trong bức tranh đều tinh tế đến mức khó tin, kể cả kết cấu của tấm khăn trải bàn”.

blank

Chân dung danh họa Leonardo Da Vinci. (Ảnh: Fæ on VisualHunt.com / CC BY)

Thái độ làm việc của Da Vinci

Tinh thần nghiên cứu của Da Vinci – tìm kiếm và theo đuổi sự hoàn hảo – đều được mọi người biết đến. Để tái tạo cảnh “Bữa tối cuối cùng” vào thời điểm đó, Da Vinci đã nghiên cứu các thói quen trong cuộc sống, bộ đồ ăn thời Chúa Jesus và hỏi ý kiến các học giả có liên quan về tôn giáo.

Vào thời điểm sáng tạo bức tranh, Da Vinci đã dốc hết trái tim của mình. Trong hồi ký của Stewalog, có một mô tả sống động như sau: “Da Vinci thường trèo lên giàn giáo vào sáng sớm, từ mặt trời đến đêm, cây cọ không bao giờ rời khỏi thân, thậm chí đến quên cả ngủ. Đôi khi ông không đi đâu trong ba hoặc bốn ngày, đối mặt với những bức tranh tường trong sự bàng hoàng, đứng trong một hoặc hai giờ, suy nghĩ về hình ảnh trong một thời gian dài. Thỉnh thoảng vào buổi trưa, khi mặt trời đang chói chang, tôi cũng thấy ông chạy ra khỏi tòa nhà quốc hội, đi thẳng đến tu viện, trèo lên giàn giáo, chỉ để thêm một hoặc hai nét vẽ vào một phần nào đó”.

blank

Toàn bộ các nhân vật trong “Bữa tối cuối cùng”. (Ảnh: Wikipedia Commons)



Phương pháp vẽ tranh

Vì theo đuổi sự hoàn hảo mà Da Vinci đã nhiều lần thay đổi thói quen vẽ tranh. Những bức bích họa ướt truyền thống (Fresco, Pháp) được vẽ trực tiếp trên bùn khô, phải được sơn nhanh chóng theo một khu vực nhất định. Nhưng một khi chúng đã được hoàn thành, rất khó để có thể sửa đổi. Điều này rất bất tiện cho Leonardo Da Vinci, vì vậy khi tạo ra “Bữa tối cuối cùng”, ông muốn cải thiện công thức và kỹ thuật của tranh tường, để những bức tranh tường có thể dễ dàng sửa đổi, kể cả sau khi được hoàn thành. Ông đã sử dụng phương pháp pha trộn dung môi mới cho bức tranh tường trên nền vữa khô, giống như áp dụng cho vẽ tranh trên nền gỗ thông thường. Tiếc rằng phương pháp này không phù hợp khi được sử dụng để vẽ tranh tường. Đó cũng chính là lý do tại sao bức tranh tường “Bữa tối cuối cùng” nhanh chóng bị bong tróc ra.

blank

“Bữa tối cuối cùng”, sơn dầu năm 1520, của hoạ sỹ Giampietrino (1495-1549), hiện đang nằm trong bộ sưu tập của Học viện Nghệ thuật Hoàng gia, London. Đây là bản sao tác phẩm của Da Vinci, phục chế lại bản gốc khi tác phẩm vĩ đại này đang bị thời gian tàn phá: (Ảnh: Wikipedia Commons)

Cũng có thể vì sự ẩm ướt của bức tường, bức “Bữa tối cuối cùng” đã bị hư hại kể từ năm 1500. Sau 20 năm, các bức tranh tường bắt đầu bong tróc mạnh. Từ đó, các thế hệ sau đã phải đau đầu để suy ngẫm về kho báu nghệ thuật mong manh mà vĩ đại này.

“Bữa tối cuối cùng” chắc chắn là một trong những kiệt tác nổi tiếng và quan trọng nhất trong lịch sử hội họa của nhân loại. Sau khi tác phẩm ra đời, đã lập tức giành được sự tán thưởng và khen ngợi. Da Vinci một lần nữa trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới. Với cấu trúc hoàn hảo, miêu tả nhân văn sắc sảo và hiệu ứng kịch tính sống động, tác phẩm này đã trở thành mẫu hình cho các thế hệ sau học hỏi.

Trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ hai vào năm 1943, phòng ăn của Tu viện này đã bị trúng bom và sụp đổ, nhưng bức tường trên đó vẽ bức “Bữa tối cuối cùng” may mắn thoát nạn nhờ sự che chắn của bao cát và màn trướng. Giống như nhiều di tích nghệ thuật hoàn hảo khác của các nền văn minh cổ đại, Thượng Đế dường như luôn cố ý bảo hộ những di sản nghệ thuật quý giá này, để các thế hệ sau có thể tham khảo các chuẩn mực nghệ thuật cổ xưa và quay trở lại với con đường nghệ thuật chính thống.

Bài viết: Epochtimes.com
Biên dịch: Uyển Vân
Ảnh bìa: Wikipedia Commons
Thiết kế: Tự Minh

Theo ĐKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
22 Tháng Mười Một 2018 (Xem: 1124) Ngày Lễ Tạ Ơn đã trở thành một phần không thể thiếu đối với người dân Mỹ. Hằng năm , cứ tới ngày này người Mỹ lại háo hức chuẩn bị mọi thứ để đón một ngày lễ thật long trọng. Vậy các bạn biết bao nhiêu về ngày lễ này. Một chuyến khám phá nho nhỏ về ngày lễ này nhé.
Người Mỹ tạ ơn Chúa vì người đã đem tới một mùa màng bội thu. Ngày lễ này ở Mỹ có thể được so sánh với Tết ta ở Việt Nam. Ngày Lễ Tạ Ơn ở nước Mỹ vẫn được giữ nguyên như truyền thống; đó là thứ 5 tuần thứ 4 của tháng 11. Nếu ở Mỹ bạn sẽ có liền tù tì 4 ngày nghỉ từ thứ 5 tới chủ nhật đấy nhé; khá là tiện phải không nào, sau ngày Thanksgiving sẽ có dư thời gian để chiến đấu cùng Black Friday. Do đây cũng là thời gian thu hoạch cây việt quất nên người dân ở Massachusetts, vùng Tây Nam nước Mỹ còn tổ chức các cuộc thi làm bánh việt quất nữa nhé. Lễ Tạ Ơn ở Canada Người Canada kỉ niệm ngày Lễ Tạ Ơn vào thứ hai tuần thứ hai của tháng 10; dù ban đầu họ kỉ niệm ngày này vào thứ 5 trong tháng 11. Thay vì thưởng thức món gà tây như người Mỹ, họ ăn thịt xông khói hoặc cừu và bánh La tourtiere – một loại bánh nướng được làm từ khoai tây nghiền, thịt thỏ/bò xay nhuyễn
Những điểm du ngoạn như Hoyt Arboreturm, International Rose Test Garden ở đây nổi tiếng đến nỗi người ta đã đặt biệt danh cho Portland là “Thành phố Hoa Hồng.” Ngoài ra, gần đó còn có ngôi vườn Nhật với tên Portland Japanese Garden cũng là một thắng cảnh bốn mùa thơ mộng và tuyệt đẹp mà du khách không thể nào bỏ qua được, nhất là vào mùa Thu với cảnh sắc lá thu phong rực rỡ hớp hồn lữ khách.
Xe sinh tố. Là danh từ bình dân gọi mấy xe bán nước trái cây xay. Rất thịnh hành trong những năm 60-70. Các loại trái cây như mãng cầu xiêm, sa-po-che, mít, đu đủ, và rau má. Trái cây xay với nước, thêm một muỗng sữa đặc, đường, đá bào cho ta hương vị thơm tho, ngọt ngào, tươi mát của trái cây tươi. Có xe bán thêm sữa chua (yogurt). Những hủ yogurt được làm tại nhà. Có hai cách ăn yogurt: 1) Ăn nguyên chất. 2) Trộn đá bào vào yogurt, thêm đường: chúng ta có ly sữa chua ngon lành.
Lệnh phong tỏa kéo dài đã khiến cho giới thương gia ở Pháp thêm lo lắng. Hầu như mọi người đều mong rằng các hoạt động mua sắm nhân mùa Noël sẽ không bị hy sinh. Về điểm này, chính phủ Pháp cho phép buôn bán cây thông Giáng Sinh kể từ cuối tuần này, tạo thêm hy vọng cho việc mở lại các cửa hàng kinh doanh tại Pháp vào đầu tháng 12/2020. QUẢNG CÁO Theo thông báo chính thức của Bộ Nông Nghiệp : việc mua bán cây thông có thể bắt đầu vào thứ Sáu tuần này, 20 tháng 11. Quyết định này đã trấn an phần nào nhiều hộ gia đình cũng như giới kinh doanh phân phối các sản phẩm liên quan tới mùa Noël. Nhìn chung, dân Pháp đang có tâm lý bi quan về việc tổ chức đón Noël năm nay, nếu lệnh phong tỏa được triển hạn, thì rất nhiều người Pháp sẽ không được về quê thăm nhà, quây quần bên bữa tiệc gia đình mừng đón Giáng Sinh.
Nếu đời không có đàn bà thì đàn ông chỉ biết nhậu, coi đá banh rồi … chết. Nếu trên thế giới số lượng đàn bà chỉ bằng một phần mười đàn ông thì mười ông Adam sẽ giành nhau một bà Eva, sẽ đánh nhau rồi cũng … chết. Còn nếu như đàn bà nhiều hơn đàn ông như hiện nay thì đàn ông vẫn tiếp tục lai rai bỏ mạng vì bị đàn bà nó ghen, nó hành cho chết. Nhưng tại sao quý ông cứ lẽo đẽo chạy theo đàn bà? Đó là vì đàn bà có sức quyến rũ. Trước hết sự quyến rũ nằm ở làn da. Dân gian thường ví da cô gái đẹp trắng như tuyết, nhưng dưới con mắt của bác sĩ da liễu thì da trắng như tuyết là da bị bệnh bạch tạng (albinisme), tế bào da không có hắc tố (mélanine). Bệnh này rất khó trị. Vậy làn da đẹp phải trắng hồng, tươi nhuận, săn chắc, lỗ chân lông nhỏ và nếu có một chút lông tơ lại càng hay. Phụ nữ châu Âu da trắng quá nên họ muốn làm cho rám nắng bằng cách phơi nắng trên những bãi biển mùa hè.
BBC giới thiệu một số hình ảnh đẹp nhất được chụp tại lục địa đen trong tuần qua: NGUỒN HÌNH ẢNH, EPA Chụp lại hình ảnh, Người đàn ông dắt chiếc xe đạp đi trên lớp thảm những cánh hoa phượng tím jacaranda rơi xuống ở Johannesburg, Nam Phi, hôm thứ Sáu 6/11/2020. NGUỒN HÌNH ẢNH, REUTERS Chụp lại hình ảnh, Thứ Bảy 7/11, trước ngày bầu cử tại thủ đô Cairo của Ai Cập, mọi người chuẩn bị kê đồ xếp bàn ghế tại một trường học, nơi được dùng làm địa điểm bỏ phiếu cho kỳ bầu cử quốc hội. NGUỒN HÌNH ẢNH, REUTERS
Không biết có phải do hoàn cảnh thiếu ăn thiếu mặc từ xưa, mà người Á đông nói chung, người Việt nói riêng, đặc biệt quan tâm tới miếng ăn. Ăn không phải chỉ để sinh tồn, mà còn để hưởng thụ. Ăn đứng đầu tứ khoái. Ăn cho sướng miệng cái đã, mấy chuyện khác tính sau. Ở đâu lúc nào, một mình hay nhiều mình, cũng thấy ăn. Thui thủi, trơ trọi ở nhà, lục lọi trong bếp coi có cái gì ăn cho đỡ buồn. Ra đường, đi chơi hay lo việc, trước hay sau gì cũng phải kiếm thứ gì dằn bụng. Ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, ăn khuya. Vì vậy, trong kho tàng Việt ngữ có vô số động từ đôi đi chung với "ăn". Điểm này không thấy có trong ngôn ngữ của các dân tộc khác. ❣️Nhưng "ăn" nhiều khi lại không có nghĩa là "ăn", mới lạ! Tụ họp đình đám, lễ lạt giỗ tết, người mình nói "ăn cưới", "ăn tết", "ăn giỗ", "ăn cúng", "ăn đám ma", "ăn đầy tháng", "ăn thôi nôi", …
Đã đến giờ ăn sáng ngày Chủ Nhật, tôi vẩy vài giọt nước lên chảo nóng để xem chúng có xèo xèo chưa. Hoàn hảo. Nhanh chóng, tôi đổ một muỗng đầy hỗn hợp bột nhạt vào lòng giữa chảo, nhẹ nhàng xoay vòng dần lan ra xung quanh. Sau đó, tôi tăng nhiệt độ lò lên, bỏ thêm một muỗng đầy loại bơ trong suốt (gọi là ghee) vòng quanh chiếc bánh tròn mới thành hình, ngay sau đó bánh phồng lên một chút và mép cuộn tròn lại. Giờ đến lúc trở mặt bên kia để làm bánh chín đều.
Với họ là mỗi ngày chân thật, với chúng ta là một cửa sổ mở vào thế giới tuyệt diệu của Nhật Bản xưa. Cuối thế kỷ 19, Nhật Bản đưa ra Hiến pháp Minh Trị, trong đó Thiên hoàng là người đứng đầu nhà nước, nhưng thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Mô hình cai trị thịnh hành này cũng dẫn đến những phát triển mới và lối sống hiện đại hơn. Qua những bức ảnh được tô màu bằng tay từ năm 1890 đến năm 1899, chúng ta thấy được một Nhật Bản giữa lằn ranh của chế độ quân chủ cũ và những thách thức hiện đại mà thế kỷ 19 mang tới.
Bảo Trợ