Người vô Thần chỉ tin vào khoa học, các nhà khoa học lại tin vào Thần học

08 Tháng Hai 202012:02 SA(Xem: 379)

Hễ đàm luận đến Thần Phật hoặc Thần học, Phật Pháp, liền có người nói là truyền giảng những điều mê tín, không khoa học. Bộ phận những người này đem cái gọi là “khoa học” đối lập một cách tuyệt đối hóa với Thần học, Phật Pháp, rồi đưa ra một định nghĩa vô trách nhiệm cho bản thân và người khác, cũng từ đây phong bế bản thân mình, không muốn đi ra khỏi bức tường bao quanh để nhận thức trời đất rộng lớn hơn.

Thật ra, những nhà khoa học chân chính sẽ không tùy tiện mà đưa ra kết luận, vũ trụ quan của những khoa học gia chân chính là rộng mở, họ sẽ không dùng “những gì đã biết” có hạn của bản thân để phủ nhận “những điều chưa biết” vô hạn. Những người mang danh “khoa học” tùy tiện đưa ra kết luận, thật ra là những “nhân vật chính trị” bụng dạ khó lường.

Một sự thật không cần phải nghi ngờ là: Mãi cho đến tận bây giờ, khoa học vẫn không thể phủ nhận sự tồn tại của Thần, cũng không thể chứng thực thuyết vô Thần là chân lý tuyệt đối. Trái lại, các nhà khoa học vĩ đại của thời kỳ khoa học phát triển cường thịnh trong lịch sử, bao gồm những người như: Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei, Isaac Newton, James Clerk Maxwell, Albert Einstein, v.v… đều thừa nhận bản thân mình là những tín đồ tuyệt đối tin vào Sáng Thế Chủ, cho rằng thế giới này là kiệt tác của Thần và đang chờ đợi các nhà khoa học đi phát hiện và chứng thực…

blank

Từ trái qua: Nicolaus Copernicus, Galileo Galilei, Isaac Newton, James Clerk Maxwell, Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia Commons)

Newton – người được tôn xưng là “cha đẻ của ngành khoa học hiện đại”, vào năm 18 tuổi khi đi vào trường đại học Cambridge đã là một giáo đồ Cơ Đốc thành kính nổi tiếng. Newton thường ghi chép lại lời cầu nguyện của ông trong sách giáo khoa và quyển nhật ký, thậm chí ông đem những tìm tòi nghiên cứu đối với khoa học và lời cầu nguyện đối với Đức Chúa hòa làm một thể. Ông thường ở trong khám phá đối với tín ngưỡng mà nghĩ đến khoa học, trong suy nghĩ tìm tòi đối với khoa học mà nghĩ đến tín ngưỡng.

Vậy nên ông Manuel, giáo sư khoa lịch sử của trường đại học New York trong quyển sách “Newton truyện” của mình đều nói, “khoa học cận đại là bắt nguồn từ mặc tưởng của Newton đối với Thượng Đế”. Newton trước sau tin chắc rằng: “Thần mới chính là chủ nhân thật sự sang tạo nên hệ Mặt Trời vô cùng tinh xảo này”.

blank

(Ảnh: Pixabay/Wikipedia Commons)

Trên thực tế, Newton đã là một nhà khoa học vĩ đại, đồng thời lại vừa là một nhà Thần học thành kính và có kiến giải đặc biệt. Ông một đời đi trong hai điện đường lớn giữa khoa học và Thần học, vừa nghiên cứu khoa học, vừa nghiên cứu Thần học, trước sau chưa từng cảm thấy giữa hai bên có chỗ nào mâu thuẫn lẫn nhau.

Newton tin chắc rằng trong Thánh Kinh có mật mã, thế là đã dùng hết thời gian hơn nửa đời người (gần 50 năm) để chuyên tâm nghiên cứu Thánh Kinh, và đã viết ra cuốn bản thảo nghiên cứu hơn một triệu chữ, mãi đến lúc lâm chung vẫn đang cần mẫn tìm tòi nghiên cứu. Newton thậm chí cho rằng “mật mã Thánh kinh” còn quan trọng hơn cả “lực vạn vật hấp dẫn” – thành quả khoa học mà ông đã từng công bố!

Còn Albert Einstein, nhà khoa học vĩ đại nhất thời cận đại được cả thế giới công nhận, lại nhìn nhận khoa học, Thần học và Phật học như thế nào? Trong một lần phỏng vấn, Einstein nói: “Có người cho rằng tôn giáo không phù hợp với khoa học. Tôi là một người nghiên cứu khoa học, tôi biết sâu sắc rằng, khoa học của hôm nay chỉ có thể chứng minh sự tồn tại của một vật thể nào đó, chứ không thể phán định nó là có tồn tại hay không”.

blank

(Ảnh: Wikipedia Commons)

Einstein đưa ra ví dụ thêm một bước nữa, nói rằng:

“Ví như nếu như vào mấy nghìn năm trước, chúng ta chưa thể chứng minh sự tồn tại của hạt nhân nguyên tử, nếu như lúc đó chúng ta tùy tiện kết luận rằng hạt nhân nguyên tử không tồn tại, và hôm nay đã khám phá ra, nếu vậy không phải chúng ta đã phạm phải một sai lầm to lớn rồi hay sao?”.

Sau cuộc trò chuyện, Einstein khẳng định rằng ông tin vào “Thần”: “Vì vậy, khoa học hôm nay không thể chứng minh được sự tồn tại của Thần, là bởi khoa học vẫn còn chưa có phát triển đến trình độ đó, chứ không phải là Thần không tồn tại”. Còn khi Einstein nghiên cứu kinh Phật, càng cảm khái từ tận đáy lòng mà thốt lên rằng: “Sau này nếu như có điều gì có thể thay thế được khoa học, thì đó chính là chỉ có Phật Pháp”.

Hai nhân vật của giới khoa học nổi tiếng khắp thế giới trên, trong lĩnh vực vật lý học hiện đại mãi cho đến nay vẫn không người nào có thể thay thế được địa vị “Thần thánh” của họ. Vậy nên quan điểm và thái độ của họ đối với khoa học,Thần học và Phật Pháp, thì đối với những người theo “thuyết vô thần” hôm nay chỉ tin vào cái gọi là “khoa học” kia mà nói, đây chẳng phải là khải thị tốt nhất và uy tín nhất hay sao?

Sự thật cũng đã chứng minh, rất nhiều nhà khoa học có thành tựu trước nay không hề che giấu bản thân là người tin vào Thần, và cũng không bởi bản thân vừa là nhà khoa học vừa là người tin vào Thần mà lại cảm thấy có gì đó không ổn.

blank

(Ảnh: Wikipedia Commons)

blank

Tiến sỹ Harriet Zuckerman. (Ảnh: The Scientist)

Theo thống kê trong một cuốn sách có tên “Những thiên tài trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật” xuất bản năm 1977 của tiến sĩ Harriet Zuckerman, giảng viên của trường đại học Columbia: Từ năm 1901 sau khi thành lập giải Nobel đến nay, trong số 286 nhà khoa học giành được giải Nobel trong lĩnh vực này, có 92% người đoạt giải là tin vào Thần (73% người đoạt giải trong đó là tín đồ Cơ Đốc giáo; 19% là tín đồ Do Thái giáo).

Lại dựa theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, gần 3 thế kỷ trở lại đây, trong số 300 nhà khoa học kiệt xuất trên khắp thế giới, có 242 người xác định rõ bản thân là tin vào Thần, còn những người không tin vào Thần thì chỉ có 20 người. Thậm chí 10 nhà khoa học nổi tiếng nhất trên thế giới, trong đó bao gồm: bậc thầy phát minh Thomas Edison, nhà sáng lập vi trùng học Louis Pasteur, nhà phát thuyết bị truyền tin vô tuyến Guglielmo Marconi, Samuel Morse – người phát minh ra tín hiệu Morse, Erwin Schrödinger – người đặt nền tảng cho lý thuyết cơ học lượng tử, cho đến hai là khoa học nổi tiếng thế giới là Isaac Newton và Albert Einstein mà mọi người đều quen thuộc, toàn bộ đều là những người tin vào Thần.

Từ những căn cứ và con số ở trên có thể thấy được rằng, những nhân vật đại biểu kiệt xuất mở đường cho trào lưu khoa học hiện đại, cho đến rất nhiều khoa học gia nổi tiếng khác, tuyệt đại đa số đều là những người có tín ngưỡng vào tôn giáo. Từ đây cũng đã chứng minh được nghiên cứu khoa học và tín ngưỡng đối với Thần, giữa hai điều này vốn không có gì mâu thuẫn với nhau, và tín ngưỡng đối với Thần không phải là là “mê tín”.

Còn điều khiến người ta không thể hiểu nổi và lại cảm thấy tức cười hơn cả là ở đất nước Trung Quốc, nơi mà “Thuyết vô Thần” được tuyên dương, ở khắp các ngõ ngách trên cả nước đều là khẩu hiệu quảng cáo đánh trống reo hò cho cái gọi là “sùng bái khoa học, phản đối mê tín”; suốt mấy chục năm nay chính quyền Trung Quốc luôn gắng sức nhồi nhét, tuyên dương khoa học “vô Thần luận”.

Vậy mà một quốc gia đông dân nhất thế giới với khoảng 1,4 tỷ người dân như vậy mãi cho đến tận hôm nay vẫn vỏn vẹn có một người giành được giải Nobel trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật này.

blank

(Ảnh: Wikipedia Commons)

Những sự thật không thể bác bỏ này, lẽ nào còn không đủ để cho những người đã quên mất văn hóa truyền thống của tổ tiên mình, và một mực theo đuổi cái gọi là “tôn sùng khoa học” phải suy nghĩ và phản tỉnh sâu sắc hay sao?

blank

(Ảnh: Wikipedia Commons)

Lịch sử cũng đã chứng minh, khoa học vốn không phải là vạn năng. Sự không hoàn thiện và tính giới hạn của bản thân khoa học mang đến những nguy cơ nghiêm trọng cho con người ngày nay. Điều này đã khiến cho rất nhiều nhà khoa học nhìn xa trông rộng và những người hiểu biết lo lắng không yên, đồng thời rõ ràng ý thức được rằng:

Khoa học vốn không thể đem đến một tương lai tốt đẹp cho nhân loại; khoa học chỉ là một trong những con đường và biện pháp mà con người tìm kiếm chân tướng của vũ trụ, tìm kiếm phát hiện chân lý mà thôi, chứ không phải là tất cả; càng không phải là bản thân chân lý, nó vốn không thể đại biểu cho chân lý được.

Khoa học trong quá trình phát triển cũng đã không ngừng kiểm chứng, chỉnh lại những sai sót và thành kiến trước đây. Tuy nhiên sự phá hủy về thể hệ đạo đức và môi trường sinh thái mà nó mang đến cho nhân loại hôm nay, lại là điều mà bản thân khoa học căn bản không thể kiểm soát và giải quyết được. Bởi vậy cũng càng hiện lộ ra những chỗ thiếu sót mà bản thân khoa học cố hữu.

Theo ĐKN
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Có hai anh em nọ, bắt trói được thủ phạm sơ ý làm cha của mình chết. Họ đưa tên tội nhân đến trước quan toà và yêu cầu xử theo luật. Kẻ tội nhân vì sơ ý để đá đè chết cha của họ, nên theo luật anh ta phải bị ném đá cho đến chết. Trước mặt quan toà, tên tội nhân đã thú nhận mọi tội lỗi của mình. Nhưng trước khi bị đem ra xử tội, anh ta chỉ xin quan tòa một ân huệ: Đó là được trở về nhà trong vòng ba ngày để giải quyết mọi vấn đề gia đình và gửi gắm đứa trẻ mồ côi mà anh ta ta đã lượm bên vệ đường về chăm sóc và nuôi dưỡng. Rồi, sau đó anh ta trở lại chịu xử tử. Quan toà tỏ vẻ không tin với lời cam kết của kẻ tử tội. Giữa lúc quan toà đang do dự… thì trong đám đông có một anh thanh niên hiểu rõ mọi sự, liền giơ tay nói rằng: "Mặc dù tôi không quen biết anh ta, nhưng tôi hiểu rõ anh ta, tôi xin đứng ra bảo đảm lời cam kết của anh ấy. Nếu sau ba ngày, anh ta không trở lại, tôi sẽ chịu chết thay cho anh ta” Quan tòa đồng ý.
Bò làm mệt, than với chó: " Tao mệt quá ". Chó gặp mèo tâm sự: " Bò nó kêu mệt, chắc làm quá sức, chắc nó đòi nghỉ một chút". Mèo gặp dê tán chuyện: " Bò nó muốn nghỉ một ngày vì công việc làm nó mệt quá, có lẽ ông chủ bắt nó làm quá sức". Dê gặp gà: " Bò nó đòi nghỉ làm, ông chủ bắt nó làm đến kiệt sức thì phải". Gà gặp heo nói: " Biết chuyện gì chưa, bò nó định đổi chủ và bỏ việc đấy". Heo mách bà chủ: " Bò nó định đổi chủ hay sao, nghe nói nó muốn bỏ việc vì công việc quá nặng." Bà chủ nói ông chủ: " Bò nó định tạo phản, nó muốn đổi chủ". Ông chủ tức giận quát: " A con bò này đã lười lại định tạo phản, thịt nó thôi". Kết quả : Bò bị giết thịt
Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già. Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó ! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả (trái) ngắt vội không bao giờ ngọt. Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn.
Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng Đức Tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học. Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris/post 09 Tháng Chín 2012(Xem: 7424)/
Câu chuyện này diễn ra vào thời Thế chiến thứ II, ngay trước lúc Đức quốc xã tiến hành cuộc thảm sát hàng loạt người Do Thái tại các trại tập trung của phát xít… Khi đó, một sĩ quan Đức quốc xã bước ra, cầm cuốn Kinh Thánh ném xuống đất. Hắn đảo mắt nhìn nỗi hoảng sợ đang hiện rõ trên khuôn mặt của những nạn nhân người Do Thái và nói: “Ai trong số các người muốn sống sót thì hãy nhổ nước bọt lên cuốn Kinh Thánh này rồi đứng vào hàng người được phép sống sót ở phía bên phải. Nếu muốn đứng vào chỗ người sẽ bị xử chết ở hàng bên trái thì không cần khạc nhổ lên cuốn sách này!”.
Một người chuyên đóng vai những nhân vật lịch sử quá cố như một nghề để sinh sống. Một ngày, trong vai một nhà chính trị nổi tiếng (đã mất) , ông đến lớp 5 của một trừơng để trả lời những câu hỏi của học sinh. Một học sinh giơ tay và hỏi : - Cháu ngỡ rằng ông đã chết rồi cơ mà ! Câu hỏi này thật không bình thường và ông đã trả lời : - Đúng là tôi đã chết vào năm 1970, lúc 84 tuổi - nhưng tôi chẳng thích việc này chút nào và tôi sẽ không lặp lại nó nữa.
Chuyện xảy ra trên một chuyến bay: Một người đàn ông Nhật đưa tro cốt của vợ về nơi an nghỉ cuối cùng ở quê nhà. Người đàn ông ấy và vợ lấy nhau hơn 50 năm. Họ sinh sống ở Yokohama nhưng quê nhà của họ thì ở Saga, Kyushu. Khi vợ mất ông đã quyết định đem tro cốt của bà về với quê cha đất tổ. Ông biết việc vận chuyển tro cốt của người đã khuất phải làm thủ tục đặc biệt với hàng không. Ông bỏ hũ tro vào một cái hộp nhỏ rất chắc chắn và cũng rất xinh đẹp, và khi làm thủ tục ông cũng trình bày rất rõ ràng với nhân viên hàng không. Đội ngũ nhân viên sân bay đã đồng ý cho ông mang hộp đựng bình tro cốt lên máy bay, nhưng với điều kiện họ phải được phép giữ và bảo quản kỹ càng chiếc hộp trong suốt chuyến bay. Ông đồng ý ngay.
Có một gia đình nọ mời vị linh mục đến nhà của mình ăn tối. Và trong bữa tối đó, họ không tìm thấy tờ 50 đô la mà họ đã đặt trước đó trên bàn ăn. Sau khi vị Linh mục rời khỏi nhà, người vợ nói với chồng mình trong sự tức giận: - Hãy xem, cha xứ chúng ta đã lấy trộm 50 đô la! Người chồng đồng tình trả lời với sự bực tức: - Đúng vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, ông cha đó đã lấy trộm tờ tiền vì không có người lạ nào khác trong nhà mình ngoại trừ ông cha. Cho dù là chúng ta đã chuẩn bị tờ 50 đô là đó để trên bàn để tặng cho ông cha, nhưng việc làm của ông cha là không chấp nhận được. Sau đó, hai vợ chồng đã bỏ đi nhà thờ trong xứ. Hai tháng trôi qua, người vợ tình cờ gặp vị linh mục trên đường phố. Cha xứ đã hỏi bà:
là một trong những ngôi sao điện ảnh Mỹ nổi tiếng và thành công bậc nhất từ trước đến giờ. Nhưng hãy nghe kể về những ngày xa xôi ấy, khi Stallone chỉ là 1 diễn viên vô danh, vật lộn với những vai diễn nhỏ và thường xuyên bị từ chối trong các buổi thử vai. Cuộc sống của ông có lúc ở đỉnh điểm của sự cùng cực khi bị trục xuất khỏi nhà thuê vì không có tiền, phải lang thang trên đường phố.
Ở làng nọ có một người đàn ông thông minh sở hữu một cái giếng nhưng anh ta không dùng gì đến nó nên quyết định bán cho bác nông dân gần nhà. Một hôm, khi đi ngang qua thấy bác nông dân đang múc nước từ giếng lên để nấu ăn, tưới hoa màu, nuôi gia súc…, gã thông minh lập tức ngăn lại và không cho phép bác nông dân múc nước từ giếng lên. “Tôi chỉ bán cho ông cái giếng, tôi không bán nước cho ông. Vì thế, ông không thể lấy nước từ cái giếng này được”, gã thông minh lên tiếng. - Minh Trần st
Bảo Trợ