Tháng các linh hồn, nghĩ về thân phận phải chết

06 Tháng Mười Một 201911:49 SA(Xem: 800)

thang_linh_hon“Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi,

Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,

Một cơn gió thoảng là xong

Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.” (Tv 103, 15-16)

Trời chiều nghĩa địa sương dầy buông phủ. Không gian tờ mờ trong làn khói trắng toả lan khắp cả một cõi dường như càng tô thêm vẻ cô tịch bình lặng của chốn này. Đây là nơi an nghỉ của những người đã kinh qua cuộc sống trần gian, những người đã trải qua mọi cảnh đời nhộn nhịp, nay thân xác bất động nơi thinh không. Đứng trước ngôi mộ rêu phong của các bậc tiền nhân, tôi chợt thấy vẩn vơ trong mình trầm sâu suy nghĩ về sự mong manh, vắn vỏi của kiếp người. Chốn này đây, một chốn nghỉ chân, nhưng người ta vẫn sẽ bước tiếp. Bước vào cái chết là tất yếu, nhưng sẽ là hy vọng nếu đây là cánh cửa dẫn vào một con đường, để tiếp tục bước đi… tôi biết rằng mình cũng đang trong hành trình ấy, rằng, một ngày kia tôi cũng phải chết.

Người ta hiện hữu trên đời vốn phó mình cho sự chuyển vận của thời gian. Thời gian đón nhận con người bước vào cuộc đời; nó chứng kiến người ta lớn lên; và nó đưa con người ta trở lại cõi vô định.  Thời gian chẳng chờ một ai, người ta bước một bước, thời gian ngắn lại một khắc, người ta buông một hơi thở, thời gian như thu vào mình một chút lực sống. Cứ thế, thời gian đã đem người ta vào sự hữu hạn thì cũng đẩy đưa họ vào cõi vô hạn. Đứng trước những con người đã từng đi vào thời gian và ra khỏi thời gian, tôi cảm thấy sự gần gũi giữa những phận người hữu hạn. Tôi đây, cũng như họ, nay còn mai mất trên thế gian. Tôi chỉ còn nỗ lực trong thời gian hạn hẹp này, khi chết rồi, mọi sự tồn tại chỉ là một lịch sử nhỏ bé trong vũ trụ nghìn năm tuổi. Sự mong manh của phận người, tính hữu hạn của thời gian mời gọi tôi sống trọn vẹn giây phút hiện tại. Thật vậy, tôi không thể níu giữ thời gian, nhưng tôi có khả năng làm cho những giá trị trong thời gian chóng qua này mang ý nghĩa vĩnh cửu.

Với con người, cái chết có lẽ là một thực tại nghiệt ngã. Chết cũng là quy luật thách đố mọi quy luật tồn tại trong nhân loại. Lớp lang các nấm mộ, người trẻ người già, kẻ Bắc người Nam không phân biệt nói với tôi rằng, dầu là ai đi nữa thì người ta sinh ra, có một thời để lớn lên, có một thời để sống và sẽ đến một thời mà mọi thứ trên thế gian này sẽ qua đi. Không biết lúc nào và ở đâu, tôi cũng sẽ phải chết. Với cuộc sống thế gian, chết là chấm dứt tất cả. Cái chết không tha một ai và lấy đi mọi sự thuộc thế giới vật chất này. Bạn giàu có ư, bạn đạt được mọi danh vọng, quyền lực…hay bạn nghèo khó, thất bại, thiếu thốn ư? Tất cả sẽ cùng đối diện với một tương lai là cái chết. Thời gian vốn mong manh mà ước vọng con người luôn to lớn. Vì vậy, như thường thấy, cái chết là mối đe doạ và nguồn của sự sợ hãi của nhân loại. Đã từng có những người không thể chấp nhận được quy luật này, có những tham vọng lật ngược quy luật ấy hay cũng có những người sống mà quên đi mất quy luật này… nhưng tất cả giờ đây “ba tấc đất mới thực là nhà” của họ. Trước cái chết, thấy được sự chóng qua của tất cả những gì tồn tại trong kiếp nhân sinh, tôi thấy mình được mời gọi để yêu mến và trân trọng cuộc sống này, nhưng không quá dính bén vào nó. Ý thức một ngày kia tôi sẽ chết cũng dạy tôi cách sống, biết sử dụng những gì chóng qua để đạt được điều vĩnh cửu. Tôi tin rằng, chết chỉ nghiệt ngã với những ai thất vọng và không tin vào một sự sống đời sau.

Có lẽ không ai chắc về trạng thái đằng sau cái chết sẽ thế nào, chỉ biết rằng chết là một thực tại hiển nhiên sẽ đến với mình. Cái chết là một thách đố với những người đang sống; và với người đã chết, sẽ không còn một sự hiện hữu trên trái đất này nữa. Đối với người ra đi, chết là sự giã biệt hay là trang kết của một cuốn sách lịch sử đời người. Đối với người còn sống, cái chết của người kia mang tới cảm nhận mất mát, tiếc thương. Sẽ là đau đớn tột cùng khi không còn gì sau chết. Nhưng, tâm thức về sự hiện hữu nói với tôi rằng, chết là đi vào một sự sống mới chứ không phải mất đi tất cả. Tin vào Đức Kitô Phục sinh đã mang lại cho tôi niềm hy vọng ấy.  Chính niềm xác tín này khơi lên trong tôi một cảm nhận nối kết thiêng liêng với người đã khuất. Ấy là cảm thức về một sự thông hiệp tâm hồn giữa người ra đi và ở lại, đó là “người chết nối linh thiêng vào đời”. Cảm thức ấy làm nên giá trị và ý nghĩa của những giây phút tôi tưởng nhớ về họ, tôi cầu nguyện cho họ, và cùng với họ, tôi hy vọng về một sự sống mới.

Nghe bên mình tiếng khóc thút thít…tôi chợt thấy xúc động…đám trẻ con cũng hoà vào bầu khí thành kính sốt sắng lấy nhang cắm…tôi hiểu rằng, người ta khóc cho phận người, nhưng cũng khóc cho phận mình, họ đang đối diện với thực tại của chính mình trong tương lai. Nhưng đối với người Công giáo, tương lai ấy có có hy vọng, và cái chết như cánh cửa mở ra niềm hy vọng mới ấy. …Một mai tôi cũng trở về bụi tro nhưng với niềm tin, tôi sống trong tâm thế  của kẻ mang niềm hy vọng sẽ sống lại.

…Những nén nhang được đốt sáng như những ánh đèn đom đóm le lói giữa vùng trời đã khuất bóng dần sau hàng cây cả bóng…trên đường tôi về.

Joseph Trần Ngọc Huynh, S.J.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tiếp tục loạt bài giáo lý về cầu nguyện, trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến vào sáng thứ Tư 05/05, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày về đề tài chiêm niệm. Theo ngài, không có đối nghịch giữa cầu nguyện và hành động. Trong Tin mừng chỉ có một tiếng gọi duy nhất, đó là theo Chúa trên con đường tình yêu. Bác ái và chiêm niệm đồng nghĩa với nhau. Hồng Thủy - Vatican News
Trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng ngày 14/4/2021, tiếp tục bài giáo lý về việc cầu nguyện của người Kitô hữu, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích rằng lời cầu nguyện thuộc về chính bản chất của Giáo hội;nếu thiếu cầu nguyện thì Giáo hội không thể thực hiện sứ mệnh truyền giáo và phục vụ người khác. Hồng Thủy - Vatican News Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng thứ Tư 14/04 Đức Thánh Cha suy tư về vai trò của Giáo hội như trường học tuyệt vời của việc cầu nguyện. Bắt đầu từ cha mẹ chúng ta, những người dạy chúng ta cầu nguyện, gieo vào tâm hồn chúng ta hạt giống được chín mùi qua đời sống của Ki-tô hữu. Bên cạnh đó, gương sáng của những tín hữu sống đức tin, việc tham dự vào đời sống của giáo xứ và Thánh lễ, giúp chúng ta không chỉ phát triển đời sống cầu nguyện ở mức độ cá nhân nhưng còn được đón nhận di sản cầu nguyện và tu đức phong phú của Giáo hội.
Chợt Ngài bỗng kêu lên một tiếng lớn rồi tắt thở! Thân xác Ngài rũ xuống, thập giá rung lên nhè nhẹ! Chiều đang dần tàn, cảnh hoàng hôn thật thê lương trong ráng chiều màu tím thẫm ảm đạm! Post 30 Tháng Ba 2013(Xem: 3284)/10 Tháng Tư 202011:00 SA(Xem: 4361)
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao. Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra gì. Không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đã kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
“Thì giờ hay đời sống là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho mỗi người chúng ta. Đời sống quý vì nó đến từ chính Chúa là Đấng Tạo Hóa.” Đời sống thật mong manh và ngắn ngủi. Con người sống đó rồi chết đó cũng mấy hồi. Bởi vậy, con người quy về Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc. Tiền bạc quan trọng nhưng không là tất cả. Quyền lực, thú vui rồi cũng chỉ là cát bụi mà thôi. Vì thế, một nhạc sĩ đã từng cảm nhận: “Làm con người trong cuộc đời được bấy nhiêu năm. Ai vốn giàu sang, ai vốn kiếp bần hàn, ai giãi dầu một nắng hai sương, mai lìa đời nhắm mắt xuôi tay. Đua đòi nhiều chỉ khổ thêm thôi”. /post 19 Tháng Tám 2012(Xem: 7000) Tâm Thương - TgpSaigonnet/
Nếu vào một ngày nào đó tôi không còn sống nơi trần gian này nữa, thì những đứa trẻ vẫn lần lượt lớn lên, người thân người thương của tôi họ vẫn ăn, vẫn uống và làm việc theo lẽ sinh tồn, những ngôi nhà, con đường tôi quen thuộc bỗng chốc trở nên xa lạ, mặt trời vẫn giải nắng trên đồng cỏ xanh và cơn mưa vẫn tưới mát trên những thửa ruộng khô cằn… Không gian yên tĩnh ngày nào chẳng còn, khi người viếng, kẻ thăm, người khóc, kẻ cười,… tạo nên khung cảnh bi đát, chua xót và đau thương. Thân xác tôi vẫn nằm đó chẳng cử động hay nhúc nhích, chẳng thở than hay kêu gào mặc cho lũ ruồi muỗi đậu bay. Người ta thức cố thức tôi dậy sau giấc ngủ dài nhưng kết quả nhận được là sự thinh lặng chẳng một lời hồi âm phát ra. Tôi biết và tôi cố gồng mình ngồi dậy để an ủi những người thân đang ngồi than khóc, nhưng bàng hoàng chợt nhận ra tôi đã chết rồi!
Bảo Trợ