Nguồn Gốc Chiếc Bàn Làm Việc Của Tổng Thống Mỹ

08 Tháng Mười Một 201911:20 CH(Xem: 572)

NGUỒN GỐC CHIẾC BÀN LÀM VIỆC của TỔNG THỐNG MỸ

blank
NGUỒN GỐC CHIẾC BÀN LÀM VIỆC của TỔNG THỐNG MỸ
Bài Sưu tầm

Được đóng từ những phiến gỗ của con tàu thám hiểm huyền thoại Resolute thuộc Hoàng gia Anh, chiếc bàn làm việc của Tổng thống Mỹ đến nay đã có lịch sử 139 năm.

Ngược dòng thời gian, tháng 4/1852, Hoàng gia Anh phái 5 tàu (trong đó có Resolute), dưới sự chỉ huy của ông Edward Belcher tham gia sứ mệnh tìm con đường tắt để rút ngắn hải hành mậu dịch với phương Đông. Sau 2 năm lang thang, tàu Resolute và 3 tàu khác bị mắc kẹt bởi băng nổi. Ông Belcher ra lệnh thủy thủ trên 4 con tàu bị kẹt rời sang con tàu duy nhất không mắc nạn là North Star. Trước khi rời đi, Kellett (thuyền trưởng tàu Resolute) ra lệnh lau chùi sạch boong, khóa chặt cabin và kéo cao cờ rồi mới cùng thủy thủ trở về Anh trên chiếc North Star chật chội.


Tháng 9/1855, trong một chuyến săn cá voi, thuyền trưởng James Buddington của con tàu săn cá voi George Henry (Mỹ) phát hiện Resolute và mang nó về New London (bang Connecticut).

Với ý định trả lại con tàu cho nước Anh, chính phủ Mỹ bỏ ra 40.000 USD để mua lại và tu sửa gần như tình trạng ban đầu. Tháng 11/1856, con tàu khởi hành từ New York để trở về nơi nó đã ra đi.

Hoạt động tại Anh gần 20 nữa thì Resolute bị tháo rời (chắc do hết hạn sử dụng?). Nữ hoàng Victoria ra lệnh gỗ từ Resolute sẽ được dùng cho mục đích đặc biệt...

Ngày 23/11/1880, một thùng to được gửi đến Nhà Trắng, đề tên người nhận là Tổng thống Rutherford Hayes, bên trong là chiếc bàn gần 160 kg, cùng lời bày tỏ: “... Cái bàn này được làm từ gỗ con tàu Resolute và được nữ hoàng Vương quốc Anh dâng tặng tổng thống Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ như là kỷ vật về tấm lòng chân thật và sự lịch lãm...”.

Bàn Resolute được dùng trong văn phòng tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng từ năm 1902 dưới thời Theodore Roosevelt. Theo yêu cầu của nhà lãnh đạo này, mặt trước của bàn được chạm thêm huy hiệu President. Đến thời Tổng thống Harry Truman, chiếc bàn được đặt trong phòng phát thanh, nơi sau này Tổng thống Dwight Eisenhower dùng để đọc diễn văn radio và truyền hình.


Vào tháng 2/1961, phu nhân Tổng thống John F.Kennedy - bà Jacqueline - phát hiện chiếc bàn ở phòng phát thanh và ra lệnh đưa nó trở về Phòng Bầu dục. Sau khi Kennedy chết, bàn Resolute được chuyển đến Viện Smithsonian trước khi được Tổng thống Jimmy Carter đưa trở lại Phòng Bầu dục năm 1977. Đến thời Tổng thống George H.Bush, chiếc bàn được chuyển về nhà riêng gia đình Bush. Cuối cùng, sau khi nhậm chức năm 1993, Tổng thống Bill Clinton cho mang chiếc bàn trở về Phòng Bầu dục, nơi nó tại vị cho đến ngày nay.

Chỉ là câu chuyện về một chiếc bàn nhưng thật thú vị và thẫm đẫm tinh thần nhân văn. Nước Mỹ "quyến rũ" từ thứ nhỏ nhặt như thế...

(Sưu tầm
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ở Mỹ có một cậu bé sinh ra trong một gia đình nghèo, từ nhỏ đến khi đi học cậu chỉ mang mỗi một đôi giày rách. Cậu bé nghe nói vào lễ Giáng Sinh, khi đến bất cứ cửa hàng nào, chỉ cần nói với Thượng Đế thứ mình muốn thì chủ cửa hàng sẽ thỏa mãn yêu cầu của mình. Vào hôm Giáng Sinh, cậu bé nhìn thấy trong một cửa hàng giày có bày bán những đôi giày rất đẹp nên đã bước vào cửa hàng và nói với ông chủ rằng : - Hôm nay là Giáng Sinh, cháu rất thích đôi giày này, chú có thể giúp cháu nói với Thượng Đế để Ngài cho cháu đôi giày này có được không ạ ?
Nhân sinh tại thế, thông minh chỉ là thiên bẩm nhưng thiện lương lại là lựa chọn. Thiện lương vốn dĩ là một phẩm đức quý giá của con người, cũng là sức mạnh tiềm ẩn vô biên mà bẩm sinh mỗi người khi sinh ra đều có. Trong bất kể hoàn cảnh khó khăn nào, bạn hãy kiên trì thực hiện thiện lương, nhân ái. Bởi chỉ khi biết yêu thương người khác, ta mới có thể được sống trong vòng tay ấm áp của tình người. Và mỗi mầm lành thiện lương gieo xuống ắt sẽ đem lại cho ta quả phúc báo ngọt ngào. Truyện kể rằng: xưa kia có một lão nhân ở vùng nọ vừa qua đời, lão nhân có một người con trai hiền hậu trung thực tuổi ngoài 40. Gia tộc lão nhân vốn dĩ là danh gia vọng tộc, mộ phần tổ tiên theo lệ xưa nay đều được xây dựng rất lớn, vậy nên người con trai cũng muốn tìm một mảnh đất tốt để cất cho cha mình một ngôi mộ lớn.
“Mỗi lần giờ ra chơi nó lại ngồi dưới dốc cây gần cổng lớn của trường để nhìn tụi bạn nhà giàu mua những cây kem lạnh. Chỉ nhìn thôi, vì nhà nó nghèo lắm. Ba nó không biết đang ở đâu, mẹ nó đi làm mướn cho người ta để nuôi nó học đã khó khăn, chứ nói gì đến tiền ăn quà vặt của nó. “Ực”, nó cố nén nước bọt trong miệng lại, hai mắt nhắm nghiền, cái đầu nó cúi xuống lắc qua lắc lại thật mạnh nhiều lần cho thoát khỏi cái cảm giác thèm thuồng. Không ai biết cảm giác của nó, chỉ có ông lão ngồi gần đó đã quan sát nó nhiều lần. "Cháu ơi", ông thò đôi bàn tay gầy gò đầy nếp nhăn vẫy thằng nhỏ lại. “Chuyện gì vậy, mình có quen ông đâu, chắc bảo mua vé số đây mà, mình có tiền đâu mà mua”, trong đầu nó nghĩ thầm. Nhưng vì tò mò nó vẫn quay đầu lại.
Nhiều năm về trước, có một cậu bé mồ côi tên Jim, 12 tuổi, gầy gò. Jim sống lang thang, là đầu mối của mọi trò cười và trêu chọc của mọi người sống trong thị trấn. Không ai đối xử tử tế với Jim. Những nghi ngờ của mọi vụ ăn cắp hay rắc rối đều có tên Jim đầu tiên. Cậu chỉ nhận được những lời nói cay độc, nghi ngờ. Kết quả là Jim luôn lẩn tránh những người xung quanh. Cậu càng lẩn tránh, người ta càng nghi ngờ cậu. Tài sản duy nhất của Jim là chú chó Tige, cũng luôn khép nép và lẫn tránh mọi người như chủ nó. Jim không đối xử thô lỗ với Tige nhưng cậu cũng luôn dùng thứ ngôn ngữ cay độc mà mọi người dùng với cậu. Phần vì cậu đã quen với những ngôn ngữ đó, phần vì để trút đi mọi nỗi uất ức. Một hôm, Jim thấy cô gái phía trước làm rơi một gói nhỏ. Cô cúi xuống nhặt thì một gói khác lại rơi khỏi tay. Jim chạy đến, nhặt hai cái gói lên đưa trả cô gái. - Cảm ơn cậu bé, cậu thật tốt
NHỮNG CHIẾC VỎ SÒ Trong khu chợ ở ngôi làng ven biển, một cậu bé 6 tuổi đi chơi cùng em gái 4 tuổi. Cô bé dừng lại trước một tiệm bán đồ chơi. Cậu bé hỏi em gái: - Em muốn mua gì à? Cô bé chỉ tay vào một con búp bê treo bên ngoài cửa tiệm và ngước đôi mắt trong veo nhìn anh trai. Cậu bé bèn lấy con búp bê và nắm tay em gái đi vào trong cửa hàng. Cô bé hớn hở bước theo anh. Người chủ tiệm mỉm cười chào hai đứa trẻ. Cậu anh trai hỏi: - Thưa ông, con búp bê này bao nhiêu ạ? Người chủ tiệm hỏi lại: - Thế con có thể trả cho ta bao nhiêu nào? Cậu bé cho tay vào túi quần và lấy ra một nắm vỏ sò đưa cho người chủ tiệm. Ông chủ nhận nắm vỏ sò và bắt đầu đếm một cách cẩn thận như thể đang đếm những đồng tiền. Trong lúc đó, cậu bé rất lo lắng, rụt rè hỏi: - Từng ấy có đủ không ạ? Ông chủ tiệm trả lời một cách nghiêm túc: - Đủ con ạ, vẫn còn thừa lại đây này.
Vào đầu tháng Sáu vừa qua, một linh mục ở Ý phát hiện ra đã có ai đó vẽ lên tường nhà thờ của ngài những khẩu hiệu xúc phạm Đức Mẹ và ủng hộ phá thai. Khẩu hiệu viết: “Tự do nạo phá thai (dành cho cả bà Maria nữa)”. Có thể khẩu hiệu ám chỉ đến Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, người mang thai Chúa Giêsu bởi quyền năng Thiên Chúa. Để đáp lại, linh mục Andrea đã viết một bức thư ngỏ cho người phá hoại ấy trên Facebook, và bức thư đã được lan truyền rộng rãi. Bức thư viết Thân gửi người vẽ tường vô danh, Tôi lấy làm tiếc khi bạn không lấy ví dụ từ chính mẹ bạn. Bà ấy đã can đảm khi thụ thai, cưu mạng bạn trong lòng và sinh ra bạn. Bà ấy có thể đã phá thai chính là bạn. Nhưng không. Bà ấy nuôi nấng bạn, mớm cho bạn ăn, tắm rửa và mặc quần áo đẹp cho bạn. Và giờ đây bạn được sống và tự do. Nhưng bạn lại dùng sự tự do ấy, để nói với chúng tôi là, tốt hơn là những con người như bạn không nên hiện diện trên thế giới này.
Câu chuyện giữa tượng gỗ và tượng đồng hé lộ bao điều bí ẩn của đời sống tín ngưỡng và bài học cho con người thời hiện đại... Một sớm mùa hạ, trong một ngôi chùa cổ ở ngoại vi thành phố, không gian thật tĩnh lặng, những giờ phút tĩnh lặng hiếm hoi ở một nơi hương khói ngập tràn. Mới đầu hạ mà nắng sớm đã chói chang, làm nổi bật cái vẻ cổ kính của tường vách rêu phong, mái ngói nâu sồng của ngôi chùa cổ
Một con tàu đang lênh đênh trên biển thì gặp bão to và bị đắm. Chỉ có hai trong số những thủy thủ trên tàu đủ sức bơi đến một hòn đảo gần đó. Họ sống sót nhưng không biết làm gì để sinh tồn nên quyết định cầu nguyện. Tuy nhiên, họ muốn xem ai có lời nguyện cầu thỉnh tới được Đức Chúa Trời nên đã phân chia lãnh thổ, mỗi người ở một nửa hòn đảo. Điều đầu tiên, họ cầu nguyện để có thức ăn. Sáng ngày hôm sau, người đàn ông đầu tiên nhìn thấy một cây đầy trái ngọt ở trên phần đảo của mình, giờ thì anh ta không lo bị đói nữa. Người đàn ông kia lại ở mảnh đất cằn cỗi rất khó khăn để tìm đủ thức ăn cho mình. Sau một tuần, người đàn ông đầu tiên thấy cô đơn. Anh ta quyết định cầu xin một người vợ. Ngày hôm sau, một con thuyền khác bị đắm và chỉ có một người phụ nữ duy nhất sống sót bơi được vào bờ đảo của anh ta. Ở bên kia hòn đảo, vẫn không có gì xảy ra cả.
Cuộc tranh luận có một không hai của EINSTEIN – Nhà khoa học vĩ đại nhất của mọi thời đại đã được ghi lại như sau: Giáo sư : Con trai, con là một người tin có Thiên Chúa phải không?
Một cô gái xinh đẹp cảm thấy mệt mỏi với cuộc sống hôn nhân và muốn giết người bạn đời của mình. Cô ấy chạy đến bên mẹ và nói: "Mẹ ơi, con mệt mỏi với chồng con lắm rồi, con không còn muốn chung sống với anh ấy nữa. Con muốn giết anh ấy nhưng sợ luật pháp bắt con phải chịu trách nhiệm, mẹ có thể giúp được không? " Người mẹ trả lời: - Được, con gái của mẹ, mẹ có thể giúp con, nhưng có một nhiệm vụ nhỏ kèm theo.
Bảo Trợ