Bao giờ nước mắt thôi rơi?!

28 Tháng Mười 201910:50 CH(Xem: 749)

Bao giờ nước mắt thôi rơi?!

Viết từ Sài Gòn
Hình minh họa. Những người tị nạn Việt Nam trên tàu vượt biển ngày 8/7/1979
Hình minh họa. Những người tị nạn Việt Nam trên tàu vượt biển ngày 8/7/1979
blank AFP

“Khi đất nước tôi thanh bình… Tôi sẽ đi thăm… Hà Nội vô Nam, Sài Gòn ra Trung… Khi đất nước tôi thành bình… Tôi sẽ đi thăm…”. Thú thực là tôi không yêu con người chính trị cực kì hổ lốn của Trịnh Công Sơn, nhưng tấm lòng của ông, ước mơ của ông và mối cảm hoài về quê hương, đất nước của ông trải ra trên tác phẩm khiến cho không ít người nghe, qua đó mà chiêm nghiệm, trở nên sâu sắc và biết suy tư về thân phận chiến tranh, thân phận dân tộc và thân phận con người. Có lẽ, cũng chính vì vậy mà hơn bao giờ hết, trong lúc này, khi mà thông tin cho rằng rất có thể 39 người bị chết cóng trong container đông lạnh ở Anh là người Việt. Tự dưng, tôi lại nhớ đến những câu này, và hoài nghi hai chữ “thanh bình” trong ca khúc của ông. Đất nước đã có ngày nào thanh bình chưa? Và đến bao giờ nước mắt thôi rơi?

Đất nước thống nhất hai miền, vĩ tuyến 17 trở thành kỉ niệm của một thời, và người ta có thể ra Bắc, vào Nam mà không cần phải chờ “giờ nhân ái” hay “giờ đình chiến” của bất kì chính thể đối lập nào. Người miền Bắc có thể vào thăm Cà Mau, thăm Cần Thơ, thăm chợ nổi Cái Răng hay xuống Đầm Dơi, Đất Mũi để hiểu rằng rừng ngập mặn Đất Mũi cũng có sú, vẹt, đước giống rừng ngập mặn ở Ninh Bình nhưng ngoài ra, tôm sú và tôm đất ở Cà Mau khác xa Ninh Bình và Cà Mau có nhiều thứ Ninh Bình không có, cũng như Ninh Bình chưa biết rừng dừa nước hay rừng đước giống như cà Mau.

Và có hàng ngàn câu chuyện để biết nhiều hơn, đi nhiều hơn giữa hai đầu đất nước, hàng ngàn người trong Nam ra Bắc tham quan, thăm thú, để biết thế nào là chùa Thầy hay lăng tẩm hoàng cung, cột cờ Hà Nội, hồ Gươm, hồ Tây hay hồ Ba Bể, hồ Núi Cốc… Và người đồng bào thiểu số miền Nam cũng tìm về thăm đồng bào thiểu số miền Bắc, nơi mà rất lâu gia tộc họ đã li tán vì một điều gì đó. Còn người có thể đi khắp mọi miền đất nước và nhìn ra bao điều mới lạ, nhưng có một điều, qua hai thời kỳ, qua bao đau thương, dường như không hề thay đổi, đó là nước mắt, tiếng khóc quê hương vẫn còn chất nặng niềm đau!

Người Bắc có thể vào Nam đi tham quan, du lịch mà không cần xin phép qua cửa khẩu nào, vĩ tuyến nào. Và người Bắc biết thêm được chợ nổi là gì, Đầm Dơi là gì, Thất sơn là gì… hay dinh Độc Lập ở đâu, sao lại gọi Sài Gòn là hòn ngọc viễn đông… Nhưng người Bắc cũng không thể không nhìn thấy những cô gái trên bến Ninh Kiều, trên đường Huyền Trân Công Chúa hay đường Bạch Đằng… và hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn cô gái miền sông nước đang rải rác khắp đất nước với nghề phục vụ karaoke, massage, gội đầu, tiếp thị bia…

Và, người miền Nam có cơ hội ra miền Bắc để thăm thú, lên tận những bản làng xa xôi như Phiêng Đéng, Bắc Kạn, Hoàng Thu Phố, Simacai, Lào Cai hay Hà Giang với những địa danh gần như chỉ biết trong sách vở như cột cờ Lũng Cú, đèo Mã Pí Lèng, các bản làng nơi cao nguyên đá Đồng Văn hay cột cờ Phai Vệ, cầu Kỳ Cùng, núi Mẫu Sơn, ải Chi Lăng, Lạng Sơn… Những địa danh ấy, khi đi rồi mới hiểu đất nước dài, rộng và đẹp nhường nào, người Việt làm lụng vất vả, yêu quê hương, yêu con người ra sao. Và cũng chỉ khi đi rồi mới hiểu rằng nếu như các cô gái miền Tây Nam Bộ đổ xô khắp ba miền đất nước để kiếm cơm thì các chàng trai, cô gái xứ Bắc cũng lang thang khắp nơi, thậm chí bôn tẩu xứ người với thân phận chui nhủi, bất hợp pháp để kiếm từng đồng trả nợ cho đường dây đưa người vượt biên và nuôi hi vọng đổi đời.

Câu chuyện gần đây nhất, mới vài hôm trở lại đây, nói về thân phận 39 người bị chết cóng trong thùng đông lạnh trên đường vượt biên vào Anh để làm thuê (theo đồn đoán là họ trồng cần sa thuê) lại nhắc biết bao nhiêu chuyện khác xoay quanh vấn đề vượt biên ở miền Bắc. Có một điều đặc biệt mà ít ai nhắc tới là người miền Bắc vượt biên nhiều hơn người miền Nam. Trừ các thuyền nhân đã vượt biển có dính đến chính thể Việt Nam Cộng Hòa kể từ mốc 30 tháng 4 năm 1975, thì hầu hết người vượt biên tìm chân trời mới không phải vì nguyên nhân lý lịch ở miền Nam sẽ rất ít so với miền Bắc. Bắt đầu từ Bắc vĩ tuyến 17 ra đến Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nội, đặc biệt là các tỉnh Đông Bắc và Tây Bắc, số lượng người vượt biên có thể lên đến hàng chục triệu. Và hầu hết họ vượt biên sang các nước châu Âu, trong đó nước Anh là chính. Vì họ vượt biên theo con đường lao động chui, đường làm thuê và không có giấy tờ nên họ tuyệt nhiên không có cơ hội thành Việt Kiều và cũng rất khó để thống kê về họ.

Hình minh họa. Bức ảnh cô Phạm Thi Trà My, 26 tuổi, trên bàn thờ tại nhà ở Hà Tĩnh hôm 26/10/2019
Hình minh họa. Bức ảnh cô Phạm Thi Trà My, 26 tuổi, trên bàn thờ tại nhà ở Hà Tĩnh hôm 26/10/2019 AFP
blank

Nhưng nhà cầm quyền địa phương biết họ vượt biên, vì chính sách quản lý người của chính quyền Cộng sản từ cấp địa phương đến cấp tỉnh rất gắt gao, con muỗi cũng khó lọt. Nhưng vì cái “chung”, cái “vĩ mô” những người vượt biên này mang về quê hương một lượng tiền không hề nhỏ, thậm chí rất lớn, nó giúp cho kinh tế địa phương thay đổi đáng kể và đó cũng là cơ hội để giới chức địa phương gây khó dễ, vòi vĩnh kiếm ăn. Chính vì vậy số lượng người vượt biên sang Anh ở Lệ Thủy, Quảng Bình và ở các huyện ven biển Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa là nhiều vô kể. Đi vào bất kì khu dân cư nào, thấy nhà cửa xây cất bề thế, cửa ngõ khóa cẩn thận và trong làng chỉ có người già thì đích thị đó là khu “vượt biên”. Mà số lượng những khu “vượt biên” này thì nhiều vô kể!

Đó là chuyện đã diễn ra gần hai chục năm nay, còn chuyện mới đây, kể từ khi biến cố biển nhiễm độc do Formosa xả thải thì cấp độ vượt biên của người Bắc miền Trung còn kinh khủng và tội nghiệp hơn nữa. Nghĩa là trước đây còn mơ tưởng chuyện sang Anh và các nước châu Âu, tệ một chút thì sang Trung Quốc, Đài Loan để lao động chui. Còn hiện tại, sau khi biển chết, sau khi rừng bị tàn phá và thiên nhiên đổi màu, lại có thêm hàng ngàn gia đình ở Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh tìm cách sang Lào, thậm chí nhiều trẻ em bỏ học trốn sang Lào theo các đường dây lao động chui để kiếm sống. Có thể nói rằng số lượng người vượt biên ở miền Bắc vượt rất xa so với miền Nam. Và đáng thương, đáng tội hơn cho họ là họ cũng có chung ước mơ đổi đời, có ước mơ tìm đến xứ sở tự do để sinh sống giống như hàng triệu người miền Nam nhưng họ lại mang lý lịch trái ngược với người miền Nam nên cơ hội làm công dân xứ sở tự do của họ là hoàn toàn không có. Người miền Nam có lý do tị nạn, để qua đó, có thể được các tổ chức nhân đạo cứu giúp, người vượt biên miền Bắc không có lý do nào để được các tồ chức này cứu giúp.

Có chăng, những người được cứu giúp ở miền Bắc là người bị lừa bán sang Trung Quốc (các bạn hãy thử lên các bản làng Tây Bắc, Đông Bắc tìm hiểu, có thể khẳng định rằng Không có bản làng nào là không có người bị lừa bán sang Trung Quốc!) và cơ hội được cứu của nạn nhân là gần như không có. Thế mới hay rằng ước mơ đất nước thanh bình, không còn chiến tranh, để người người được vô Nam hay ra Bắc dường như mãi mãi là một giấc mơ dang dở. Bởi sau chiến tranh mấy mươi năm vẫn chưa thấy thanh bình hay no ấm.

Hình minh họa. Người dân Hà Nội tưởng niệm 39 nạn nhân thiệt mạng trên xe container đông lạnh vào Anh
Hình minh họa. Người dân Hà Nội tưởng niệm 39 nạn nhân thiệt mạng trên xe container đông lạnh vào Anh Courtesy of FB Green Trees
blank

Bởi mới đó, tưởng như thanh bình, thống nhất thì có hàng vạn người phải vào trại cải tạo, sống chết với rừng thiêng nước độc, hàng triệu con người bỏ mạng trên biển, đau đớn trên đường đi tìm tự do, tìm sự sống. Hàng triệu gia đình bị xua ra khỏi nhà và mất trắng mọi thứ, thời kì của nhòm ngó, theo dõi, đấu tố, trừng phạt, trả thù, tịch thu… Thời kì của ba lát sắn cõng một hạt gạo, nói chuyện với nhau chỉ nghe toàn tiếng ợ và mùi sắn khô, mùi hạt kê, hạt bắp đã di chuyển từ kho làng tới kho xã, kho huyện, kho trung ương rồi phân phối quay ngược trở về các kho. Bụng người, thân phận người, suy nghĩ người cũng vòng vèo như chính đường đi của hạt bắp, lát sắn hay hạt kê…!

Và con đường vòng vèo với hạt gạo, hạt lúa, miếng ăn ấy cứ kéo dài mãi cho đến nay, niềm đau kèm theo cũng vòng vèo và lớn dần theo năm tháng, chưa bao giờ nguôi! Nước mắt của những gia đình có con bỏ mạng nơi xứ người bây giờ không phải là riêng nước mắt của người mẹ miền Nam khóc con bỏ mình trên biển, không phải là riêng nước mắt của người mẹ miền Nam khóc con bỏ mạng nơi trại giam… mà là nước mắt của cả người mẹ miền Bắc, của nhiều người mẹ miền Bắc khóc con bỏ mình nơi xứ người vì chén cơm manh áo, vì ước mơ vượt thoát cái nghèo hay đổi đời, nhìn thấy thiên đường. Hay nói khác đi là cái ước mơ mà trước đây hơn nửa thế kỉ, những người mẹ miền Bắc cũng đã từng khóc hết nước mắt, thậm chị quị ngã vì nghe tin con mình không trở về, đã bỏ mạng nơi chiến trường miền Nam, cho công cuộc “cách mạng thần thánh”. Để rồi sau bao nhiêu năm, sau cuộc cách mạng thần thánh ấy, nước mắt lại chảy thêm lần nữa vì những đứa con bỏ mình cho cuộc cách mạng áo cơm, đổi đời!

Đất nước này chưa bao giờ được thanh bình dù đã im tiếng súng. Nhưng tiếng súng nơi lòng người vẫn cứ nổ hằng đêm, và những viên đạn vô hình ấy đang giết dần sinh mệnh, nhân phẩm, lòng yêu thương, tự do và cả tương lai của một dân tộc có số phận vốn dĩ rất buồn!

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do - Theo RFA

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Bảo Trợ