Thơ Việt, từ 4 chữ qua 3 câu

01 Tháng Mười Hai 20123:00 CH(Xem: 3797)

Nói về thơ, nếu kể về số chữ, ta có thơ tứ tự, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn, lục bát và song thất lục bát. Nếu kể về số câu, ta có tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, hay trường thiên, dài bao nhiêu câu cũng được.

Thơ tự do không kể mỗi câu bao nhiêu chữ, và mỗi bài bao nhiêu câu. Hồi tiền chiến, nhà thơ Nguyễn Vỹ làm một bài thơ mỗi dòng chỉ có 2 chữ, ông gọi là thơ Bạch Nga.

(Sương rơi / Nặng trĩu / Trên cành / Dương liễu / Nhưng hơi / Gió bấc / Lạnh lùng / Hiu hắt / Thấm vào / Em ơi / Trong lòng/ Hạt sương / Thành một / Vết thương - Bài Sương Rơi.) Hồi trước 75, nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan (mất năm ngoái) xuất bản một thi phẩm nhỏ chỉ có lục bát, và mỗi bài chỉ có ba câu, gọi là “Lục bát ba câu” (hiểu một cách khác: bài thơ phải gói ghém ý tình trọn vẹn trong 20 chữ - tức là hai câu lục 12 chữ, và một câu bát 8 chữ) - một hạn chế tương tự thơ Haiku của Nhật: bài thơ phải trọn vẹn trong “ba câu tổng cộng 17 chữ,” nhưng tự do ở mỗi dòng: có dòng 3 chữ, có dòng 5 chữ, có dòng 7 chữ. Hơn ba mươi năm sau qua Mỹ thăm bằng hữu, khi hết hạn phải về, ông để lại một bài lục bát ba câu tức cảnh:

 blank
Nhà thơ Nguyễn Vỹ (1909-1971), người thành lập Trường thơ 2 chữ Bạch Nga. (Hình: Viên Linh cung cấp)

Ma tru quỉ khóc trưa nay

Ôm em nửa một vòng xoay lỏng lề

Sài Gòn buồn mửa, đành về.

(Nguyễn Tôn Nhan, Lá bùa số 7)

 

Luật gia, nhà văn Mặc Đỗ, một trong ba cột trụ của Nhóm Quan Điểm từ 1950 ở Hà Nội và hiện chỉ một tháng nữa sẽ bước vào tuổi 96 (ông sinh năm 1917), đã xuất bản một thi phẩm hoàn toàn viết bằng thể thơ Haiku, do Khởi Hành xuất bản năm 2002, ở bìa sau có bài sau đây:

 

Tự nhiên thành núi băng

Lục địa lạnh một ngày tách biệt

Lênh đênh vào có không.

(Mặc Đỗ, haiku Ba Câu Ở Biển Ngoài)

 

Nói về thơ, song nếu kể về vần điệu, thơ Việt có vần lưng và vần chân, tức là vần ở giữa câu và vần ở cuối câu, sách vở giáo khoa thường viết là “yêu vận và cước vận.” Điển hình nhất là thơ lục bát của ta, vần ở cuối câu 6 và vần ở giữa câu 8, như bài sau đây người thi sĩ có khuôn mặt hồng nhan đã làm trong lúc trí tưởng tràn đầy vẻ đẹp của danh ca Thanh Thúy, trong khi nàng đang hát:

 

Từ em tiếng hát lên trời

Tay xao dòng tóc tay mời âm thanh

Sợi buồn chẻ xuống lòng anh

Lắng nghe da thịt tan tành xưa sau.

(Hoàng Trúc Ly, Ca Sĩ I)

 

Và một bài lục bát của người viết bài này, trong khi một ca sĩ khác đọc thơ:

 

Bài thơ em đọc hôm nay

Thực ra anh viết tự ngày hôm qua

Câu trên làm ở trong nhà

Còn câu dưới lúc đã ra ngoài đường.

(Viên Linh, Mai Sau)

 

Các loại thơ tứ tự, ngũ ngôn hay thất ngôn của Trung Hoa, vần phải gieo ở cuối câu, tức là cước vận. Không thấy Trung Hoa có vần ở giữa câu (ta còn gọi là vần eo) như lục bát của Việt Nam, và của Chàm. Cổ phong của Trung Hoa tự do hơn, là chỉ có vần mà không có niêm luật. Dưới đây là một vài đoạn thơ gieo vần ở cuối câu:

 

Tứ tự (bốn chữ):

Chi chi chành chành

Cái đanh nổi lửa

Con ngựa chết trương

Ba vương ngũ đế.

(Đồng dao Việt Nam)

 

Năm chữ:

Giỏi thay Trần Bình Trọng

Dòng dõi Lê Đại Hành

Đánh giặc dư tài mạnh

Đền vua một tiết trinh.

(Phan Kế Bính, Vịnh Trần Bình Trọng)

 

Hai đoạn trên 4 chữ và 5 chữ, nhưng trong phương cách của Cổ phong, tức là chỉ cần âm điệu mà không cần bó buộc niêm luật chặt chẽ. Nếu làm thơ 4 chữ, 5 chữ cần niêm luật, có thể kể hai đoạn dưới đây. Thơ tứ tự rất ít người làm, có lẽ vì quá ngắn, đọc lên không thấy du dương, nên không thích hợp lắm với nhiều người. Bài bốn chữ theo thể “tứ tuyệt” hay bài năm chữ theo thể “ngũ ngôn tuyệt cú” thì trong 4 câu, câu thứ 3 vần trắc, ba câu còn lại phải vần bằng, cùng một vần:

 

Mùa xuân qua đây

Chiều trên phố này

Em về với nắng

Thương tà áo bay.

(Kim Tuấn, Mùa xuân qua đây)

 

Em hát trong rừng sao

Tôi ngủ dưới cội đào

Chợt mùa đông tuyết phủ

Biết tìm em phương nào?

(Trần Tuấn Kiệt, Hát thầm)

 

Làm thơ cho đúng niêm luật hẳn nhiên là khó, ít ra là khó hơn loại thơ phóng bút. Nhưng khó mà hay cũng hẳn nhiên là tốt hơn dễ mà chỉ đọc tạm được. Làm thơ được xuất bản bởi những nhà xuất bản danh tiếng, cũng khó hơn là tự biên tự diễn tự xuất bản. Thời tiền chiến Việt Nam có những nhà xuất bản giá trị như Tân Việt, in sách của Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, còn văn nghệ hơn thì có nhà xuất bản Tân Dân, Đời Nay, in sách của những Vũ Trọng Phụng, Khái Hưng, hay Yễm Yễm (đọc là Diễm Diễm) Thư Trang, in sách của Đông Hồ ở trong Nam. Miền Nam sau 1954 có các nhà xuất bản Tự Do, Nguyễn Đình Vượng, Nam Chi Tùng Thư, Cảo Thơm, hay của các tạp chí có tiếng như Văn, Sáng Tạo, Văn Nghệ hay vài nhà có định hướng tôn giáo như Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao... Ở hải ngoại chưa thấy một nhà xuất bản có tầm vóc, có chủ trương định hướng, và có bản sắc nghệ thuật đặc thù xuất bản thơ. Sách do tác giả tự in đa số là đáng khuyến khích, song cần chọn lựa kỹ.

Qua thể thơ Bảy chữ, cũng có nhiều loại: từ “thất ngôn tứ tuyệt” - nghĩa là cả bài chỉ có 4 câu, tới thất ngôn trường thiên thường gọi là “Bài hành.” Bài hành Việt Nam không nhiều lắm, có tính chất phức tạp và đặc thù mà không giản dị chỉ là thơ bảy chữ, có dịp sẽ nói đến sau. Xin mời đọc một bài bảy chữ đặc sắc của thi ca Việt Nam:

 

Phật rằng: trong lửa có hoa sen

Lửa mách người: trong nước có tiên

Nước réo: trong cây đều có quỷ

Làm yêu làm quái để tìm quên.

 

Lời yêu: quên được đã quên rồi!

Thánh vẫn than trong Vàng đấy thôi.

Uổng có miệng thêu lòng nở gấm

Dao vung lên cũng đứt làm đôi.

 

Còn trong đất chẳng có gì sao?

Nghe hỏi, cây trên bến nghẹn ngào

Cuội chợt khóc vang, người chợt tỉnh:

Có mầm đau rắc tự trời cao!

(Vũ Hoàng Chương, Có gì ở trong, 1973)

[VL, bài viết tối 27 tháng 11, 2012)


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Bảo Trợ