"Dân Tộc Này Không Xứng Đáng Được Cứu Rỗi!"

06 Tháng Chín 20193:59 CH(Xem: 674)

"Dân Tộc Này Không Xứng Đáng Được Cứu Rỗi!"

Nguyễn Thị Bích Ngà
Tôi đã từng nghe, đọc được câu trên từ khá nhiều người bạn của tôi. Họ buông ra lời chán nản và sau đó bỏ cuộc. Tôi rất đồng cảm với họ bởi tôi đã chứng kiến, đồng hành với họ trong khá nhiều việc và tôi biết họ đã vất vả, cố gắng đến thế nào mà kết quả nhận lại bằng không, đôi khi còn bị sỉ nhục rất ê chề. Họ, những người bạn đấu tranh, hoạt động xã hội dân sự của tôi, rơi rụng dần.
cuop_loc_le hoi

Dân tộc này không xứng đáng được cứu rỗi. Khi phát ngôn câu đó, họ không đứng ở vai trò là chúa trời hay tự xếp mình cao hơn người khác. Họ chỉ đơn giản cảm thấy tuyệt vọng, bất lực trong việc thay đổi nhận thức đám đông. Lời than đắng đót ấy vô hình chung đẩy trách nhiệm về phía đám đông. Cũng đúng. Bởi, tôi biết rõ, những người bạn tôi đã rất cố gắng thực hành trách nhiệm của mình nhưng đám đông không có phản hồi. Khi ta đập mãi một cục đá mà cục đá cứ trơ trơ thì sẽ đến lúc ta nghĩ cục đá này không thể sử dụng.

Đám đông người Việt hiện nay là một đám đông kỳ dị. Bảo vô cảm cũng không đúng, vì rõ ràng họ sẳn sàng phấn khích, xuống đường vì một trận bóng. Cũng bàn luận về chính trị xã hội nơi quán nước, vỉa hè cho đến mạng xã hội, cũng bình luận sự kiện, thậm chí rất ham mê, thì sao lại bảo họ vô cảm được? Có cảm xúc, có quan tâm đó chứ. Nhưng, họ quan tâm theo cách của họ. Và cách của họ khác với cách của chúng ta, thế thôi.

Vấn đề của chúng ta là phải tìm ra phương pháp để họ hiểu cảm xúc của ta, đồng cảm với cảm xúc của ta và quan tâm những vấn đề mà ta quan tâm. Muốn vậy, ta buộc phải là người biết hiểu cảm xúc của họ, đồng cảm với cảm xúc của họ trước. Tại sao ta phải làm điều đó trước? Vì ta có nhận thức vấn đề rõ hơn, thấu đáo hơn. Vì lẽ đó, trách nhiệm của ta là trách nhiệm của người hướng dẫn. Thay vì sỉ nhục, coi thường cảm xúc của họ, hãy đồng cảm hơn, tôn trọng hơn và giải thích, phân tích, hướng dẫn.

Phải chăng lâu nay chúng ta thường làm sai phương pháp? Chúng ta thường chê bai chỉ trích đám đông khi đám đông cuồng nhiệt xuống đường vì một trận bóng đá mà không xuống đường vì dân chủ và quyền con người. Lỗi ở ta, không phải ở đám đông. Ta có lỗi khi áp đặt cảm xúc của mình lên họ và cho rằng cảm xúc của ta mới có ý nghĩa, mới giá trị còn của họ thì không. Họ cũng hoàn toàn có thể nghĩ về ta như ta nghĩ về họ. Kết quả là không bao giờ có sự chia sẻ cảm xúc, không thể đạt được mức có được cảm xúc chung. Các bạn trẻ HK đang làm rất tốt việc chia sẻ cảm xúc của mình và lôi kéo cảm xúc của người khác để tạo ra một đám đông khổng lồ có chung cảm xúc.

Dĩ nhiên ở VN khó hơn nhiều. Trong bài viết dạy con sống thật với cảm xúc của chính mình, tôi có nói qua về việc bố mẹ Việt đã và đang triệt tiêu cảm xúc của con trẻ, làm cho nó trở thành người không biết cách thể hiện cảm xúc hoặc kềm nén cảm xúc, không dám sống thật với cảm xúc khi trưởng thành. Văn hóa, giáo dục của ta nó sai như vậy rồi. Từ rất lâu rồi. Muốn thay đổi, bắt buộc phải đi từ cái gốc văn hóa, giáo dục. Quá lâu. Nhưng không còn cách nào khác.

Tôi nhớ mãi cảnh chị dân oan vật vả đòi tự thiêu ở cổng văn phòng tiếp dân số 1 Ngô Thì Nhậm, Hà Đông, Hà Nội. Chị nghĩ là biết đâu cái chết của chị có thể lôi kéo được cảm xúc của quan chức, đám đông, từ đó họ có những hành động cụ thể để giải quyết cho dân oan. Tôi bảo, “Chị muốn chết thì không ai cản được vì không ai có thể ở bên chị 24/7. Nhưng, chị nên biết cái chết của chị sẽ vô nghĩa vì sẽ không có mấy người quan tâm nên sẽ chẳng có thay đổi gì cả.” Người Việt mình đâu có chia sẻ cảm xúc với nhau. Thay vào đó là phán xét. Rất nhiều phán xét, chỉ trích và xúc phạm. Mà phán xét, chỉ trích, xúc phạm luôn gây ra mâu thuẫn, không hề có được sự thấu hiểu, đồng cảm.

Một người chồng mua bó hoa về tặng vợ, cô chẳng xúc động gì, không chia sẻ cảm xúc hạnh phúc với chồng, cô bảo, “Bày đặt, tốn tiền.” Lần sau anh ta có mua nữa không? Không. Và khi cô vợ nói, “Em bị sếp mắng.” Anh chồng sẽ hờ hững, “Vậy ha.” Lần sau cô vợ có chia sẻ gì với chồng nữa không? Không.

Cũng vậy, trong các vấn đề lớn hơn trong xã hội, khi ta không thể đồng cảm, chia sẻ được với người thì người sẽ không thể đồng cảm được với ta.

Anh em tụ tập ở một cái quán để họp. Công an, an ninh ập vào giải tán, bắt bớ, đó là phần anh em. Còn chủ quán, họ cũng bị mời làm việc, gây khó dễ và bị an ninh cài vào đầu những suy nghĩ xấu về anh em, bảo họ cảnh giác với anh em blah blah, buộc họ không tiếp đón anh em vào lần sau nếu không thì sẽ gặp rắc rối. Sau khi bị bắt, anh em có quay lại quán để xin lỗi chủ quán vì sự phiền phức (không phải do mình gây ra nhưng mình là nguyên nhân) và phân tích, giải thích để họ hiểu, đồng thời chia sẻ cảm xúc với họ, của họ? Hoặc, lần sau mình đến người ta không dám tiếp, anh em có chửi mắng họ hèn nhát?

Những chủ nhà trọ khắp đất SG, HN đuổi anh em ra khỏi nhà vì sợ hãi, đa số họ bị chửi mắng là hèn nhát, không giữ đúng hợp đồng.. Về lý họ sai. Nhưng chúng ta cũng sai khi không thấu hiểu và đồng cảm với cảm xúc của họ. Những chuyện nhỏ nhặt vậy thôi nhưng thể hiện tư duy của ta và của họ là những đường thẳng song song không bao giờ có thể chạm được vào nhau nếu một bên không rẽ. Như trên tôi đã trình bày, ta phải là người rẽ trước.

Không có một dân tộc nào không xứng đáng được cứu rỗi. Không có một dân tộc nào xứng đáng phải chịu cảnh sống mất các quyền căn bản của con người. Họ chưa nhận ra, chưa dám đấu tranh cho quyền của chính họ bởi họ đã bị cai trị và giáo dục sai cách quá lâu. Cái sai từ thế hệ này qua thế hệ khác, không chỉ mỗi từ khi có cộng sản.

Tôi lặp đi lặp lại mãi, cuộc cách mạng ở VN hiện nay phải là cách mạng về văn hóa. Thay đổi được về văn hóa thì mới thay đổi được ý thức, thái độ. Muốn làm được điều đó, chúng ta phải học để chính chúng ta có văn hóa và chia sẻ điều đã học được với người khác, chia sẻ cảm xúc với người khác, đồng cảm với cảm xúc của họ. Người ta khóc chó chết mình chửi thì khi mình khóc cá chết họ sẽ dửng dưng. Đừng trách họ thiển cận bởi trách thừa, quả thực họ thiển cận. Nhưng, ta làm gì để thay đổi nó? Hay ta cũng thiển cận như họ, theo cách của ta?

Thay đổi văn hóa là một cuộc lột xác của mỗi người, nó khó khăn, đau đớn vì ta phải liên tục phủ nhận chối bỏ cái lạc hậu, cái sai mà mình đã nhiễm đồng thời tiếp thu cái mới đẹp hơn. Thay đổi văn hóa của một dân tộc là điều khó khăn gấp bội, mất rất nhiều thời gian và cần sự kiên trì, nhưng bắt buộc phải làm. Nếu dân tộc này không xứng đáng được cứu rỗi thì chính chúng ta cũng không xứng đáng được cứu rỗi. Thay vì oán thán, hãy làm. Có thể chúng ta chết trước khi chúng ta nhìn thấy kết quả, nhưng thà chết khi cố gắng hành động còn hơn là thể hiện thái độ tuyệt vọng.

Nguyễn Thị Bích Ngà

Theo Blog Teu


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Tưởng nhớ người cha thân yêu Chính Thầy là sự sống và là sự sống, ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào thấy thì sẽ không phải chết. (Gn 11, 25-26) Ngày 1-11 là ngày giỗ 4 năm của thầy (cha) chúng con là Linh hồn Phêrô Nguyễn Quang Đồng từ giã mọi người về với Chúa ngày 1-11-2016 . Kính xin Mẹ, anh chị em, cháu chắt bạn bè xa gần hiệp ý cầu nguyện cho Linh hồn Phê rô mau dược hưởng hạnh phúc trên nước trới. Amen. Thầy đã ra đi 4 năm rồi mà con không về được, con ao ước và mong muốn được về bên thầy thắp nén hương trầm. Con nhớ thầy nhiều lắm. Nguyễn Thị Đức
Trước khi dùng xú-chiêng như người phụ nữ Tây Phương, người phụ nữ Việt Nam đã biết dùng cái yếm để che kín bộ nhũ hoa. Nói như thế không có nghĩa là cái yếm chỉ có công dụng như cái xú-chiêng của người Tây Phương mà thực sự công dụng của nó còn rộng rãi hơn nhiều. Trong lúc cái xú-chiêng chỉ dùng để che kín và nâng đỡ bộ nhũ hoa thì cái yếm của người phụ nữ Việt Nam đôi khi còn có thể dùng thay thế cho cái áo cụt “ra đường đi đâu gần gần mà chỉ bận yếm thì cũng chẳng ai rầy” hoặc, hơn thế nữa, “mùa nóng nực những người làm việc khó nhọc chỉ mặc yếm che ngực, đủ kín đáo, không mặc áo”. Theo Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ trong Tự Điển Việt Nam (q.I, trang 669) chiếc yếm được định nghĩa như sau: “Yếm: Miếng vải hình tam giác dùng che ngực" Cô kia mặc yếm hoa tằm, Chồng cô đi lính cô nằm với ai.
Cứ mỗi cuối Thu là sinh nhật tôi. Lòng chạnh nhớ một mùa Thu dĩ vãng. Sáng nay, sương mù lơ lững giăng giăng một sớm mai lành lạnh với làn gió khẽ lướt qua kéo theo chiếc lá vàng nhẹ rơi, hơi sương hôn lên mặt tôi lạnh giá. Ngày sinh nhật lại đến. Đã bao mùa Thu hạnh phúc. Đã bao mùa Thu lặng lẽ ngang trời. Đã bao mùa Thu đã chết. Bao lần tôi ngắm Thu qua. Từng ngày từng tháng từng năm trôi đi. Tôi đã sống bình yên trong sự an bày của số phận mặc cho lòng ...
Bảo Trợ