Thiên Chúa có trả thù không?

11 Tháng Chín 20198:55 CH(Xem: 604)

Em thấy trên mạng hoặc đôi lần biết có người bị Thiên Chúa trừng phạt vì dám xúc phạm đến Ngài. Nếu ai đó làm điều tàn ác, họ sẽ gặp tai ương và bị quả báo? Nhiều người cho rằng đó là do Thiên Chúa ra tay. Nếu vậy, Thiên Chúa không nhân từ chút nào! Ngài muốn trả thù? Như thế Thiên Chúa thật ích kỷ, vì ai không tin vào Chúa là Ngài tìm cách giết người đó!
jesus cross

…………..

Cảm ơn em về những băn khoăn trên đây. Đâu đó nhiều người trong chúng ta cũng nghe có hiện tượng như em hỏi. Thậm chí có người còn nguyền rủa cho những ai làm điều ác, lộng ngôn và chống đối Thiên Chúa. Khi họ gặp nạn, người ta dán nhãn: họ bị quả báo, bị Thiên Chúa trừng trị. Như thế mới công bằng.

Em có thể đọc thấy vài câu chuyện dường như tương tự trong Kinh Thánh về vấn đề này: “Phải chăng Thiên Chúa ích kỷ hoặc thích trả thù, nếu ai đó xúc phạm đến Ngài?” Chẳng hạn, khi Ađam và Eva không nghe lời Thiên Chúa, họ ăn trái cấm. Thiên Chúa đã đuổi họ ra khỏi Vườn Địa Đàng. Khi dân Do Thái muốn rời đất Ai Cập, vua Pha-ra-ô không đồng ý. Thiên Chúa đã cho biết bao tai ương xảy ra, thậm chí các con đầu lòng của người Ai Cập phải chết. Nhiều người cho rằng Thiên Chúa thật bất công khi muốn giúp dân Do Thái, nhưng lại sát hại nhiều người!

Môsê là người thành công dẫn dân Do Thái ra khỏi Ai Cập, nhưng chính ông lại không được vào Đất Hứa. Người ta cho rằng có lần Môsê ngập ngừng làm theo lời Thiên Chúa, nên ông phải chịu hậu quả như thế (Ds 20,12). Khi vào Đất Hứa, vua Đa-vít thành công xây dựng vương quốc và tôn thờ Thiên Chúa. Sau đó, con ông là Salômon (làm vua 970-931 TCN) lúc đầu hằng thờ phượng Thiên Chúa. Nhờ đó, vương quốc của ông thịnh vượng và giàu có bậc nhất trong thiên hạ. Tuy nhiên, về sau ông thờ thần ngoại bang. Thiên Chúa không làm ngơ trước thái độ khinh thường và bất trung của vua. Hình phạt chẳng bao lâu đã xuất hiện. Sau khi Salômon chết, vương quốc hùng cường và phồn thịnh của ông ly khai về chính trị và tôn giáo. Nam Bắc phân tranh, huynh đệ tương tàn.

Một điệp khúc trong thời Cựu Ước là: Nếu không tuân lệnh, trung thành với Giáo Ước Sinai, con cái Do Thái sẽ gặp hoạn nạn, đất nước sẽ lụi tàn. Đó có phải là sự trả thù của Thiên Chúa? Hoặc như lời em nói: “Như vậy là Chúa ích kỷ, vì ai không tin vào Chúa là Ngài tìm cách giết người đó!” Nói cách khác, Thiên Chúa hay ghen tuông. Nếu ai đó thờ thần ngoại bang, chối Chúa, họ sẽ bị trừng phạt, vì họ không làm theo lời của Thiên Chúa. Bởi đó, nhiều người sợ Thiên Chúa, vì Ngài ruồng bỏ những ai không tin theo Ngài.

Em thân mến,

Thực ra, chúng ta đang đi vào một khía cạnh của Thiên Chúa: trả thù, ghen giận và trừng phạt. Tuy nhiên, có biết bao chuyện nói lên lòng thương xót và yêu thương của Thiên Chúa. Khi Ađam và Eva phạm tội, Thiên Chúa hứa ban một Đấng Cứu Chuộc đến để giải thoát dân. Khi thấy dân đau khổ bên Ai Cập, Thiên Chúa muốn cứu dân. Khi thấy dân không có người hướng dẫn, Thiên Chúa gửi các ngôn sứ, các tư tế và phong vương để đồng hành với dân. Chính những người này giúp dân thấy Thiên Chúa thật công bình. Nếu dân theo đường lối của Thiên Chúa, họ sẽ được bình an. Nếu không theo Thiên Chúa, nhiều khó khăn và thử thách sẽ xảy đến. Trước tình cảnh ấy, đúng là Thiên Chúa thời Cựu Ước có vẻ uy quyền, xa lạ và thưởng phạt nghiêm minh. Thời đó, dân sợ Thiên Chúa lắm! Họ không dám gọi Tên của Ngài. Dĩ nhiên, người dân chẳng thể gặp, hay nói chuyện trực tiếp với Ngài. Thiên Chúa lúc ấy dường như xa cách muôn trùng. Dân dường như sợ Thiên Chúa, như em nói.

Tuy nhiên, em biết không, thời Tân Ước, tức là từ thời Chúa Giêsu lại hoàn toàn khác. Lúc này, Đức Giêsu đến từ Chúa Cha để trình bày Thiên Chúa đầy lòng thương xót và luôn ở với con người. Ngài là đấng Emmanuel và là Tình Yêu. Em nhớ Đức Giêsu kể câu chuyện đứa con hoang đàng (x. Lc 15,11-32), là chúng ta, từ khước người cha nhân hậu, là Thiên Chúa. Dù vậy, Thiên Chúa vẫn chờ đợi người con quay trở về, và sẵn sàng tha thứ tất cả. Ngài còn mở tiệc ăn mừng vì đứa con ấy nay trở về sống chung với Cha. Bất cứ khi nào chúng ta ăn năn, giao hòa với Thiên Chúa, Ngài đều tha thứ và đón nhận chúng ta.

Hơn nữa, cả cuộc đời Đức Giêsu, chúng ta thấy Thiên Chúa luôn đi tìm những con chiên lạc trở về (Lc 15,1-7). Ngài mời gọi tất cả những ai mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ngài để được nghỉ ngơi, bồi dưỡng. Chính Đức Giêsu thường lui tới với người tội lỗi, quân thu thuế để giúp họ sống tốt hơn (Lc 7,36-50). Đặc biệt, chính Đức Giêsu phải chịu chết để cứu độ con người. Trong cuộc thương khó, nếu chúng ta là Thiên Chúa, chắc chúng ta trừng phạt những kẻ đang hành hạ, và giết mình. Nhưng Chúa Giêsu không phản kháng; trái lại, Ngài sẵn sàng xin Chúa Cha tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm. Ngài đã bị đóng đinh và chịu chết. Nhưng Ngài đã sống lại!   

Một trường hợp nữa để thấy lòng nhân từ của Chúa: đó là thánh Phaolô. Khi Chúa Giêsu sống lại, nhiều người bỏ đạo Do Thái để tin vào Đức Giêsu là Đấng đã chết và nay đã phục sinh. Phaolô là một trong những thủ lãnh bách hại những người theo Giêsu. Tuy nhiên, chúng ta thấy Thiên Chúa không trả thù hay giết hại ông. Ngược lại, trên đường Phaolô đi bách hại tại Đa-mát, Thiên Chúa đã khiến ông ngã ngựa. Sau đó, Ngài nói cho ông biết kẻ ông đang bách hại là Đức Giêsu. Chúa đã không phạt ông nhưng lại yêu thương và chọn gọi ông làm tông đồ của Người. Sau lần đó, ông tin vào Chúa Giêsu và hăng say rao giảng Nước Trời. Ông là một trong hai vị thánh lớn nhất của Giáo Hội (cùng với Phêrô).

Như em nói, chúng ta thật khó để thoát ra lối suy nghĩ rằng Thiên Chúa hẹp hòi, ích kỷ và hay trả thù. Chẳng hạn, những người làm điều ác, xúc phạm đến Thiên Chúa, Ngài có trừng trị họ không? Thật khó để trả lời rốt ráo! Nhiều trường hợp chúng ta thấy họ gặp tai ương và đối diện với cái chết. Phải chăng đó chỉ là sự trùng hợp, hay “lưới trời lồng lộng”? Hoặc ít ra đó là lời cảnh giác, nhắn nhủ cho những ai xúc phạm đến Thiên Chúa hoặc làm điều dữ. Những gì chúng ta thấy, chỉ là suy diễn của con người.

Em có thể hỏi thêm: “Nếu Thiên Chúa biết mọi sự và có thể làm được mọi sự, tại sao Người không ngăn cản được sự dữ ?” Thưa, “Thiên Chúa vẫn luôn có thể rút ra những điều tốt lành từ những sự dữ. Chẳng một đau khổ nào ta có thể giải mã được. Nhưng nó vẫn luôn đặt nền tảng trên sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa.” (Youcat, số 51). Khó hiểu quá! Điều ấy nghĩa là Thiên Chúa luôn muốn tốt cho con người. Chúng ta có thể cảm nhận: “Thiên Chúa thì thầm trong những lúc ta vui, Người thì thầm trong lương tâm ta. Nhưng Người nói lớn và mạnh trong những đau khổ của ta. Những đau khổ đó là cái loa tăng âm để làm thức tỉnh một thế giới mê ngủ.” (Clive Staples Lewis 1898–1963, văn sĩ Anh, tác giả cuốn Ký sự Namia).

Tóm tại, đây quả là đề tài thú vị để chúng ta suy nghĩ và cầu nguyện với Thiên Chúa. Ngài là thẩm phán đáng sợ hay là Thiên Chúa giàu lòng thương xót? Giống như tương quan giữa người con với cha mẹ, chúng ta chỉ hiểu được khi có tương quan với Thiên Chúa. Hy vọng em để Thiên Chúa chất vấn, để những thắc mắc ấy là cơ hội cho Thiên Chúa giãi bày. Chính trong Kinh Thánh, ước gì chúng ta có thể hiểu hơn về Thiên Chúa đang muốn nói gì.

Chúc em nhiều bình an và luôn mạnh khỏe với ơn của Thiên Chúa. Xin Thiên Chúa hằng yêu thương và chăm sóc cho em trong mọi biến cố vui buồn. Xin đừng tránh xa Thiên Chúa, nhưng hay để Thiên Chúa kết bạn với em. Chúa không gọi chúng ta là tôi tớ, nhưng Ngài gọi chúng ta là bạn hữu (Ga 15,15). Ngài là một người bạn hằng yêu thương và tha thứ!

Chào em.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ
Dongten.net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Những ngày này, cả thế giới hồi hộp với sự lây lan nhanh chóng của virus Corona. Tại Trung Quốc, nhiều thành phố nội bất xuất, ngoại bất nhập. Bầu không khí u ám, chết chóc bao trùm nhiều nơi. Tại Việt Nam cũng như nhiều nước, nhà chức trách ráo riết vào cuộc để ngăn chặn cơn dịch nguy hiểm này. Là người Công Giáo, chúng ta không thể làm gì khác hơn là cầu nguyện trong cơn đại dịch này. Vì virus Corona xuất hiện đầu tiên tại thành phố Vũ Hán bên Trung Quốc, nên virus này được đặt tên là corona/coronavirus Vũ Hán,
Bảo Trợ