Phẩm chất và giá trị của linh mục

19 Tháng Sáu 20193:33 SA(Xem: 511)
Phẩm chất và giá trị của linh mục
Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p.
Sở dĩ phải nói đến vấn đề này là vì mấy năm gần đây Hồng Y, giám mục, linh mục thường được đưa lên mạng với những cáo buộc về các tội danh như ấu dâm, xa hoa, hèn nhát không dám lên tiếng bênh vực những người bị đàn áp hay yên lặng trước những bất công trong xã hội. 
linhmuc
Chắc hẳn nhiểu người trong giói linh mục chúng ta buồn và lấy làm tiếc về những sự việc đó. Nhưng xét cho cùng theo quan điểm đức tin thì âu đó cũng là một điều trong chương rình của Chúa, để thanh luyện Hội Thánh và báo động cho mỗi người chúng ta phải lo bảo toàn phẩm chất và giá trị của đời linh mục. Về sư cao quí của chức linh mục thì khỏi cần phải nói, nhưng về phẩm chất và giá trị của con người linh mục thì thiết tưởng chúng ta phải luôn luôn bảo trọng, nghĩa là lo sao cho đời linh mục của mình giữ được phẩm chất và giá trị.

Phẩm chất ấy là mỗi ngày chúng ta phải nhắc bảo cho mình nhớ lại và rập khuôn đời mình theo mẫu linh mục là người của Chúa, được Chúa chọn để mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Vì thế, mình ở giữa mọi người, như mọi người, nhưng lại không như mọi người, bởi lẽ mình đã lãnh nhận một chức vụ với lời cam kết đặc biệt kèm theo. Bởi vậy, theo tinh thần Hiến Chế Vui Mừng Và Hy vọng, linh mục phải “ở đời hơn mà lại ít thuộc về đời hơn”. Làm sao dung hòa được mức đô này. Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã cung cấp cho chúng ta sắc lệnh Presbyterorum ordinis làm kim chỉ nam hướng dẫn và điều khiển cuộc đời chúng ta. Chúng ta là linh mục thuộc thời đại Công Đồng. Xét về một phương diện, thì xem ra kỷ luật về đời sống linh mục bớt ngặt hơn so với trước kia, như ra ngoài phải mặc áo chùng thâm, mỗi ngày phải đọc sách nguyện bằng tiếng la-tinh lâu đến cả gần hai tiếng, đi từ địa phận này sang điạ phận khác phải có phép của Đức Cha địa phận mình, giao tiếp với người khác phải canh chừng chặt chẽ v.v… 

Nhưng cái tự do thoải mái này, vô hình chung, nhiều khi lại là những cản trở khiến chúng ta không còn mấy cẩn thận giữ gìn và bảo trọng phẩm chất và giá trị của linh mục.nữa. Những điều tai tiếng xẩy ra phải chăng cũng là do sự thiếu cẩn trọng và không áp dụng một hình thức khổ chế và kỷ luật nào đó cho đời sống của mình. Mấy chục năm trứớc, một nhà văn người Pháp, Michel de Saint Pierre có viết một cuốn tiểu thuyết dề là Les nouveaux prêtres, trong đó ông cho thấy hai thế hệ linh mục cũ và mới và sự tạm gọi là tranh chấp giữa đôi bên với những lời phê phán lẫn nhau về cũ và mới. Nhưng dù cũ hay mới, đời linh mục vẫn có một tiêu chuẩn chung thích hợp cho mọi thời, đựa vào lời dạy của Chúa Giê-su. Linh mục muốn sống cho đích đáng thì phải căn cứ vào đây cũng như vào lời giáo huấn và kỷ luật của Hội Thánh. Dù cũ hay mới thì linh mục thời nào cũng phải lo chu toàn những bổn phận hàng ngày gắn liền với đời mình là cử hành thánh lễ, đọc sách nguyện, lần hạt, xét mình, xưng tội, cử hành bí tích, đi “kẻ liệt” v.v… Những việc này là những cách thế cần thiết và hữu hiệu để giúp linh mục giữ được phẩm chất và tạo ra được thế quân bình trong đời sống. 

Trong phần kết cuốn tiểu thuyết Những linh mục mới, tác giả dã đưa ra hai bức tranh về những linh mục trung thành với nếp sống cổ truyền bên cạnh những linh mục theo lối sống mới mệnh danh là theo Công Đồng Va-ti-ca-nô. Những vị này năng nổ, xông pha với các hoạt động bên ngoài mà xem ra như lơ là hay coi nhẹ kỷ luật đời sống bên trong. Kết cuộc, linh mục theo lối mới bị hao mòn sinh lực trước tuổi và không đạt được nhiều kết quả về đường thiêng liêng nơi các tín hữu.

Trong bài L'Eglise et les défis du troisième millénaire của Đức Hồng Y Godfried Danneels đăng trong La documentation catholique số 2269 ra ngày 5.5.2002, cuối trang 446 có viết : “Dù sao, chúng ta chỉ có thể tồn tại nhờ phẩm chất của lòng tin, lòng mến và nhất là lòng cậy của chúng ta. Chắc chắn là ít bởi quyền hành và uy thế, ít bởi cái vẻ bên ngoài hơn là thực chất bên trong”. (Quoiqu'il en soit, nous ne survivrons que par la qualité de notre foi, de notre amour et surtout de notre espérance. Ce sera moins par le pouvoir et le prestige, par le paraitre, que par l'être). 

Xã hội chúng ta vẫn là một xã hội có tôn ty đẳng cấp, dù nói là dân chủ. Cái dáng dấp và ảnh hưởng phong kiến vẫn còn cả ở ngoài đời lẫn trong đạo. Chính óc phong kiến này đã cầm chân xã hội chúng ta lại không cho tiến bước. Chúng ta chỉ việc nhìn lại những việc đã xẩy ra vào giữa thế kỷ XIX trong triều đình vua quan nhà Nguyễn cũng đủ thấy ảnh hưởng khốc hại của óc phong kiến này. 

Riêng trong nhà đạo chúng ta, kiểu cách phong kiến vẫn còn cho đến ngày nay trong cách dùng người và cắt đặt các chức vụ. Người nào biết đưa đẩy, không dám có ý kiến riêng dù là xây dựng, thường dễ được trọng dụng và cắt cử vào những chức vụ quan yếu hơn. Trong Hội Đồng Giám Mục, các vị giám mục trẻ thường nể các vị cao niên và không dám có ý kiến ngược lại. Trong họ đạo, cha sở dường như nắm giữ mọi quyền hành và cho mình như thông thạo đủ thứ. Trong các đoàn thể, người nhỏ phải theo người lớn cho đúng với nguyên tắc “kính lão đắc thọ” trong khi trào lưu dân chủ và kỹ thuật điều hành các xí nghiệp trên thế giới, người ta có khuynh hướng dùng người trẻ và đến tuổi nào đó, người lớn phải nhường chỗ cho người nhỏ, để đoàn thể và tổ chức nhờ vậy luôn năng động và có sức sống mới. 

Còn một điều nữa đáng nói là mục vụ của các cha sở và lối hành đạo của giáo dân cần phải thay đổi cho phù hợp với tình thế mới. Các cha sở không thể để giáo dân sống mãi trong tình trạng ấu trĩ về đức tin, cũng như không thể giữ mãi những lề thói có tính mị dân, để duy trì lòng cung kính của họ đối với mình. Gần đây trong một số báo Công Giáo và Dân tộc, có ý kiến của một nữ độc giả ngoài Công Giáo về lòng trọng kính quá đáng của giáo dân đối với linh mục. Chúa bảo chúng ta đừng gọi ai là cha hay thày là muốn dạy chúng ta đừng thích hay đòi cho người ta trọng vọng mình. Các linh mục không cần phải đòi người ta kính trọng, nhưng nếu các vị ăn ở cho đúng bậc mình thì chắc chắn sự trọng kính kia sẽ đến.

Vào những năm liền sau Công Đồng, bên Pháp có phong trào các tu sĩ ra ngoài lập ra những “Antennes”, tức là những căn hộ cho chừng vài ba người ở, bên cạnh những căn hộ khác cho gần gũi hơn với người ta : cũng đi làm, đi chợ, nấu ăn, đổ rác v.v… Mục đích là để sống đơn sơ, giã từ nếp sống yên thân trong các tu viện nhà cao cửa rộng mà do đó làm cho mình dễ rời xa dân chúng. 

Sáng kiến này phát xuất từ các cha Dòng Tên. Phải nói đó là một sáng kién cao đẹp và quảng đại. Một số tu sĩ các dòng đã thử làm theo. Nhưng chẳng bao lâu, thí nghiệm này cho thấy khó dung hòa được với nếp sống tu trì, nên đã phải dẹp bỏ.

Thời Công Đồng có hai từ ngữ thông dụng, đó là cập nhật hóa và dấu chỉ thời đại. Hai tù ngữ này có thể đã là tiền đề cho Hiến chế Gaudium et Spes và sắc lệnh Perfectae caritatis. Hội Thánh Công Giáo từng bị coi nhu một ốc đảo, nay phải đi ra ngoài đến với muôn dân. Hội Thánh phải mở cửa ra cho người ta nhìn vào, tuy mở cửa thì có bụi theo, nhưng không phải chỉ có bụi mà còn có gió nữa ; gió đem khí mát vào và làm cho căn nhà được thông thoáng. Các ý tưởng này là của Thánh Giáo Hoàng Go-an XXIII. Những ai đã sống thời Công Đồng chắc đều thấy mối thịnh tình của thế giới đối với những tư tưởng như thế qua các hiến chế và sắc lệnh được công bố. 

Đã hẳn phải cập nhật hóa cho hợp với thời buổi mình sống, để không còn xa lạ hay lạc lõng giữa mọi người, hầu có thể gặp gỡ đối thoại chân tình trên căn bản tôn trọng lẫn nhau giữa người với người. Trong cái cũ và cái mới cũng vậy, cái nào cũng có giá trị của nó. Vây hãy giữ lấy và tôn trọng những giá trị đó để làm phong phú cho mình. Những lời sau đây là những lời cũ có từ thời các nhà truyền giao thừa sai. Các bậc cha ông của chúng ta trong chức linh mục đã thực hành như thế và truyền lại cho chúng ta như một thứ gia bảo để góp phần xây dựng và gia tăng phẩm chất cũng như giá trị của con người linh mục. “Thày cả phải có nhân đức lọn lành hơn người ta, phải cầu nguyện cho sốt sắng hơn, xem sách cho cần mẫn hơn, giữ mình sạch sẽ cho cẩn thận hơn, ăn uống cho tiết độ hơn, chịu khó cho bằng lòng hơn, giữ sự vui cười cho nhiệm nhặt hơn, ăn nói cho mềm mại hơn, giữ mặt mũi chân tay hình dong cho nghiêm trang hơn, lời nói cho hẳn hoi hơn, thế thì mới xứng đạo làm thày mà chớ” (Công đồng Tứ Xuyên, trang 4)

Cụ thể, chúng ta là linh mục. Chúng ta có phẩm chất và giá trị do chính bản tính của chức linh mục mang lại. Chúng ta có thể làm cho sáng tỏ, biến chất hay lu mờ đi tùy vào nhận thức và cách sống của chúng ta. Điều này chúng ta phải khắc cốt ghi tâm trong mọi hoàn cảnh. Chừng nào lơi lỏng là chúng ta xuống dốc và không còn dược bình an và vui sống trong cuộc đời của mình nữa. Mà đời linh mục phải là một cuộc đời hạnh phúc trong sự gắn bó với Chúa và phuc vụ tha nhân.

Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p.
(Bài thuyết trình cho các linh mục, cựu sinh viên Xuân Bích, 11.6.2019)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Vài tiền đề cho suy tư thần học về lịch sử vào đầu thế kỷ XXI Juan Alberto Casas Ramírez[1] I. Những tiền đề của sử học. 1/ Các nhân tố của lịch sử. 2/ Không có sự kiện, chỉ có giải thích. 3/ Quan niệm cận đại về lịch sử chịu ảnh hưởng của Kitô giáo. 4/ Nhiều trang sử được viết bởi kẻ thắng trận. II. Những cái nhìn khác nhau về tương quan giữa Thiên Chúa và lịch sử A. Mô hình tha lực B. Mô hình tự lực C. Mô hình thiên lực III. Thiên Chúa hành động trong lịch sử như là lịch sử Kết luận. “Thiên Chúa ngươi ở đâu?”: Thiên Chúa nào? ——————————————— Thánh vịnh 42 ghi lại lời than khóc của một tư tế giữa cảnh lưu đày ở Babylon, khi đền thờ đã bị tàn phá, khi nghe quân thù chế nhạo: “Thiên Chúa ngươi ở đâu?”
Kính gởi quý linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh, và toàn thể anh chị em tín hữu thân mến, Nhân dịp Đức Thánh Cha Phan-xi-cô thiết lập Chúa Nhật Lời Chúa, và Hiệp Hội Thánh Kinh Công Giáo đề nghị cử hành Năm Lời Chúa, tôi có hai điều muốn trình bày với quý linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và toàn thể anh chị em tín hữu như sau:
GIỚI THIỆU Trong một bài trước (http://www.vietcatholic.net/News/Home/Article/253442), chúng tôi đã đưa tin, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập, Ủy Ban Thần học Quốc tế, trực thuộc Bộ Giáo Lý Đức tin, đã được Đức Giáo Hoàng Phanxicô tiếp kiến. Ngỏ lời với họ, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ca ngợi thành quả họ đạt được xưa nay trong việc làm cầu nối giữa Thần học và Huấn quyền. Đức Thánh Cha đặc biệt nhắc đến 2 công trình trong 5 năm qua của họ đó là Văn Kiện Tính Đồng Nghị trong Đời Sống và Sứ Mệnh Giáo Hội và Văn kiện Tự do Tôn giáo vì Thiện ích của Mọi người. Văn kiện đầu đã được chúng tôi chuyển sang tiếng Việt (http://www.vietcatholic.net/News/Home/Article/247935). Nay xin chuyển sang tiếng Việt Văn kiện thứ hai, căn cứ vào bản tiếng Pháp do Tòa Thánh Công bố.
THẦN HỌC VỀ NIỀM VUI[1] Phan Tấn Thành Trước tiên, chúng ta hãy khảo sát xem Kinh thánh nói gì về sự vui mừng (I). Kế đến, chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu đề tài này nơi các tác giả nổi tiếng trong lịch sử Kitô giáo; đặc biệt, chúng ta cố gắng tìm hiểu hai điểm: vui mừng là gì? làm thế nào được vui? (II) Sau cùng, để kết luận, chúng tôi sẽ nói tơi phong trào làm tông đồ qua sự gieo rắc niềm vui: người Kitô hữu không những có thể tìm thấy niềm vui ở đời này, nhưng họ còn có bổn phận phải giúp cho thiên hạ được sống vui (III). Kitô giáo là đạo của sự vui tươi chứ không phải của ưu sầu ảm đạm! Những ai năng suy gẫm kinh Mân côi có thể nhận ra rằng có tới 5 sự vui và 5 sự mừng, trong khi chỉ có 5 sự thương: như vậy là vui mừng thắng với tỉ số 2/1. \
Hầu hết trong chúng ta có một sự hiểu biết trực quan về Mùa Vọng dựa trên kinh nghiệm, nhưng những văn kiện chính thức của Giáo Hội thực sự nói gì về Mùa Vọng? Dưới đây là một số câu hỏi cơ bản và những hồi đáp (chính thức!) về Mùa Vọng.
Lúc 15g15 ngày Chúa Nhật 1 tháng 12, Đức Thánh Cha đã khởi hành từ sân bay trực thăng của Vatican để bay đến Greccio cách Vatican 96km về phía Bắc. Đến nơi lúc 15g45, ngài được Đức Cha Domenico Pompili, Giám Mục giáo phận Rieti và Cha Francesco Rossi, bề trên dòng Phanxicô quản thủ đền thờ Giáng Sinh tại Greccio ra đón. Tại đền thờ này, Đức Thánh Cha đã ký Tông thư sau đây và truyền công bố trong toàn Giáo Hội đến tất cả các tín hữu Công Giáo. Nguyên bản tiếng Ý, và các ngôn ngữ khác có thể đọc tại đây. Dưới đây là bản dịch sang tiếng Việt.
DẪN NHẬP Ngày 19/06/2018 vừa qua, Giáo Hội Việt Nam long trọng khai mạc năm thánh kính các thánh Tử Đạo tại Việt Nam. Đây là dịp để “nhắc nhở và và thúc đẩy tất cả chúng ta sống tinh thần tử đạo trong môi trường hiện nay.”[1] Tinh thần đó thể hiện qua việc “hy sinh, từ bỏ theo bậc sống của mình để làm chứng cho Chúa và Tin Mừng Nước Trời.”[2] Như vậy, cách sâu xa, năm thánh sẽ giúp các tín hữu tái khám phá sứ mạng làm chứng cho Chúa Kitô và Tin Mừng Nước Trời, mà trong đó, tử đạo là lời chứng cao cả nhất.
Hai lỗi này được Thánh Louis de Montfort chỉ ra, ngài là một trong những vị thánh vĩ đại nhất qua mọi thời trong việc sùng kính Đức Maria. Trong tập sách nhỏ của ngài có tựa đề Bí Mật Chuỗi Mân Côi (có thể tìm thấy đầy đủ bản tiếng Anh trên mạng), thánh Louis Marie de Montfort nêu ra hai lỗi phổ biến của những người thực hiện sự sùng kính này. Đây là lời hướng dẫn của ngài: Sau khi khẩn nài Chúa Thánh Thần để xin được đọc kinh Mân Côi cách sốt sắng, bạn hãy đặt mình trong giây lát trước sự hiện diện của Thiên Chúa và dâng các chục kinh… Trước khi bắt đầu một chục kinh, tùy vào thời gian bạn có, hãy tạm dừng một chút hay lâu hơn để suy gẫm về mầu nhiệm mà bạn sắp tôn vinh trong chục kinh đó. Do bởi mầu nhiệm này và qua lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ, bạn đừng bao giờ quên xin một trong những nhân đức tỏa sáng nhất
Người Việt Nam chúng ta có truyền thống nhớ về tổ tiên rất tốt đẹp. Riêng với người Công giáo, truyền thống này lại được thể hiện cách đặc biệt trong Tháng Mười Một, tháng Giáo Hội hướng về việc cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời. Nhưng nhiều người hiện nay, nhất là người trẻ, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý, có thể đặt câu hỏi: tại sao tôi phải làm vậy? Liệu có ích gì khi phải thực hành một truyền thống nào đó? Vì thế, thiết tưởng việc suy tư về ý nghĩa và giá trị của hành vi kính nhớ tổ tiên là điều cần thiết. Ở đây, tôi chỉ giới hạn phần suy tư này vào một khía cạnh, với câu hỏi sau: liệu chúng ta có thể tương tác với tổ tiên đã qua đời của mình hay không? Khắc Bá, SJ
Ngày nay, việc đề cập tới sự hiện diện của các tín hữu Công giáo trên internet vô cùng quan trọng. Vài năm trước, truyền hình và đài phát thanh đã là những phương tiện phổ biến của truyền thông. Nhưng hiện nay, nó không còn tách biệt mà đã hoà thành một: internet.
Bảo Trợ