Tự do tín ngưỡng 50 năm sau công đồng Vaticanô II

16 Tháng Sáu 20192:21 SA(Xem: 1565)

Nhật báo L’Osservatore Romano ngày 27/4/2019 cho biết Ủy ban thần học quốc tế vừa công bố văn kiện về “Tự do tín ngưỡng” được Đức Thánh Cha Phanxicô phê chuẩn ngày 21 tháng 3 vừa qua. Có lẽ vì là văn kiện của một “cơ quan nghiên cứu” (chứ không phải “cơ quan quản trị”) của Tòa Thánh[1], cho nên không có buổi họp báo để ra mắt với báo giới.

Trong số 
báo vừa nói, chỉ có một bài giới thiệu vắn tắt của cha Serge-Thomas Bonino O.P., Thư ký của ủy ban. Chúng tôi gọi là “vắn tắt”, bởi vì văn kiện này khá dài (hơn 40 trang A4), với tựa đề không ngắn ngủi (nguyên bản tiếng Ý): “Tự do tôn giáo vì điều thiện của mọi người.- Tiếp cận thần học trước những thách đố thời đại”. Đây không phải là một khảo luận về đề tài tự do tín ngưỡng, nhưng chỉ là những suy tư nhìn lại việc tiếp nhận giáo huấn của công đồng Vaticano II trong Tuyên ngôn Dignitatis humanae (được ban hành vào ngày 7/12/1965), trong vòng 50 năm qua[2]. Văn kiện này gồm 7 chương như sau:vaticanII

1. Một cái nhìn về bối cảnh hiện nay

2. Viễn ảnh của Dignitatis humanae vào thời ấy và vào thời nay

3. Quyền tự do tín ngưỡng về phía nhân vị

4. Quyền tự do tín ngưỡng về phía các cộng đồng

5. Nhà Nước và tự do tín ngưỡng

6. Sự đóng góp của tự do tín ngưỡng vào sự sống chung và hòa bình xã hội

7. Tự do tín ngưỡng và sứ mạng của Giáo hội.


Chúng ta có thể nhận thấy bố cục như sau. Chương 1 điểm qua tình hình hiện nay về tự do tín ngưỡng. Chương 2 đọc lại văn kiện của công đồng. Chương 3 và chương 4 giải thích hai khía cạnh của quyền tự do tín ngưỡng (nhân vị và cộng đồng). Chương 5 giải thích vai trò của Nhà Nước đối với quyền này; đối lại, chương 6 cho thấy sự đóng góp của tôn giáo vào đời sống xã hội. Chương cuối cùng đề cập trên sứ mạng của Giáo hội đối với tự do tín ngưỡng. Trong bài giới thiệu này, chúng tôi xin tóm vào hai mục: 1) Tự do tín ngưỡng vào thời công đồng Vaticanô II. – 2) Tự do tín ngưỡng trong vòng 50 năm qua.

I. Tự do tín ngưỡng vào thời công đồng Vaticanô II

Tuyên ngôn Dignitatis humanae (viết tắt DH) là một văn kiện gây nhiều tranh cãi nhất trong và sau công đồng: trong công đồng, bởi vì phải sửa đi sửa lại 6 lược đồ (trong khi các văn kiện khác chỉ cần 2 hoặc 3 lược đồ); sau công đồng, bởi vì nó là đầu mối của việc ly khai của Đức cha Marcel Lefèbvre (chứ không phải vì việc cử hành phụng vụ bằng tiếng mẹ đẻ, như nhiều người lầm tưởng).

A. Nguồn gốc gây ra các tranh cãi

Một nguyên nhân chính của các cuộc tranh cãi là ý nghĩa hàm hồ của thuật ngữ “Tự do tín ngưỡng” (viết tắt: TDTN). Trải qua lịch sử châu Âu[3], thuật ngữ này được giải thích theo nhiều nghĩa khác nhau, từ phía cá nhân, hoặc từ phía chính quyền, hoặc từ phía Giáo hội.


1) Xét từ phía cá nhân:

– Tự do là gì? Phải chăng tự do có nghĩa là: muốn làm gì thì làm? Làm sao dung hòa giữa tự do của cá nhân với sự sống chung trong xã hội? Dưới khía cạnh luân lý, tôi có quyền tự do làm điều xấu không (phạm tội ác), hay là tôi luôn luôn buộc phải làm điều tốt?

– Tự do tín ngưỡng là gì? Tôi có quyền theo bất cứ đạo nào tôi thích (bởi vì đạo nào cũng như đạo nào)? Hoặc là tôi có quyền không theo đạo nào hết (bởi vì đâu có đạo nào thỏa mãn hết các đòi hỏi của tôi)?


2) Xét từ phía chính quyền:

– Chính quyền có bổn phận bảo vệ thuần phong mỹ tục không? Hay là cứ để cho các công đân, các đoàn thể muốn làm gì thì làm, chẳng hạn: chồng muốn lấy bao nhiêu vợ cũng được, (theo giáo lý của họ)?

– Chính quyền có nên dung túng tất cả các hình thức tín ngưỡng không, kể cả các chuyện mê tín dị đoan? Chính quyền phải có thái độ nào đối với các phong trào quá khích chủ trương “thánh chiến”?


3) Xét từ phía Giáo hội (khía cạnh thần học)

– Phải chăng, TDTN đồng nghĩa với “tự do lương tâm”, đặt lương tâm lên trên các đạo lý đức tin?

– Phải chăng TDTN đồng nghĩa với việc “tự do cải đạo”, có thể bỏ đạo Chúa để chuyển sang các đạo khác?


B. Những lựa chọn của Tuyên ngôn Dignitatis Humanae

Sau những cuộc tranh cãi lâu dài, cuối cùng ban soạn thảo lược đồ đã quyết định hạn chế lại vấn đề như sau:


1) Tuyên ngôn không bàn về tất cả mọi khía cạnh của TDTN, cách riêng không đi vào khía cạnh thần học của vấn đề (DH 1).

– Tuyên ngôn không đề cập đến vấn đề Thiên Chúa đã mặc khải đạo chân thật trong Giáo hội.

– Tuyên ngôn không đề cập đến nghĩa vụ của con người phải đi tìm chân lý, và phải gắn bó với chân lý.

– Tuyên ngôn không đề cập đến tương quan của người tín hữu đối với các vị lãnh đạo tôn giáo của họ (trong nội bộ Giáo hội).


2) Tuyên ngôn chỉ giới hạn vào khía cạnh pháp luật (DH 2): tương quan giữa công dân với Nhà Nước, được phát biểu qua các quyền lợi và nghĩa vụ (x. Tuyên ngôn nhân quyền của LHQ).

– Nội dung của quyền TDTN được phát biểu cách tiêu cực: “không ai bị cưỡng báchhành động trái ngược với lương tâm, hoặc bị ngăn cản không được hành động phù hợp với lương tâm của mình”.

– Chủ thể của quyền TDTN là tất cả mọi nhân vị, xét vì là những hữu thể có lý trí và tự do (DH 3). Gắn liền với các cá nhân là các cộng đồng tôn giáo và đặc biệt là các gia đình (DH 4-5).

– Ai phải tôn trọng quyền này? Thưa là: các công dân khác; các nhóm xã hội; các cộng đồng tôn giáo khác; công quyền.

– Tuy nhiên, quyền này không có tính cách tuyệt đối, nhưng phải chịu những giới hạn (DH 7): a) luân lý (trách nhiệm cá nhân và xã hội; quyền lợi tha nhân; công ích) và b) pháp lý (trật tự công).


3) Nền tảng của quyền TDTN là phẩm giá con người. Vì là một hữu thể có lý trí và tự do, con người không thể bị cưỡng chế trong việc truy tầm chân lý. Mặt khác, vai trò của công quyền là bảo đảm an ninh trật tự xã hội, chứ không có thẩm quyền can thiệp vào những lãnh vực thiêng liêng[4].


II. 50 năm sau công đồng Vaticanô II

Tình hình của thế giới đã thay đổi rất nhiều trong vòng nửa thế kỷ.

Vào thời công đồng, mỗi khi nói những sự hạn chế quyền TDTN, người ta liên tưởng ngay đến khối các quốc gia Cộng sản (ở phía Đông Âu và trải dài suốt phần lớn châu Á). Tuyên ngôn Dignitatis humanae được soạn theo tinh thần của bản tuyên ngôn nhân quyền của LHQ (năm 1948), cách riêng là về quan niệm về “Nhà Nước pháp quyền” (Etat de Droit), được đề cao tại các quốc gia thuộc khối tự do.

Ngày nay bản đồ thế giới đã thay đổi, cách riêng sau sự sụp đổ của bức tường Bá Linh. Tuy nhiên, tình hình TDTN không vì thế mà trở nên khả quan hơn. Điều trớ trêu là quyền TDTN bị hạn chế tại các nước quen được xếp vào loại “dân chủ tự do”. Văn kiện này không theo dõi các thống kê của các cơ quan quốc tế, nhưng chỉ muốn trình bày vấn đề dưới góc độ triết học và thần học (giống như phương pháp trình bày giáo huấn xã hội của Giáo hội)[5].

Điểm đầu tiên đáng ghi nhận là hiện tượng tôn giáo vẫn tồn tại trên thế giới, bất chấp những dự đoán cho rằng tôn giáo sẽ lùi bước và tan biến trước tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Điều đáng lo ngại là tại vài nơi, hiện tượng “bảo căn” (fundamentalism)[6] phát triển: phải chăng đây là một phản ứng chống lại trào lưu tục hóa trong các xã hội Tây phương? Đối lại, phía Tây phương lại muốn đồng hóa tôn giáo với hiện tượng fundamentalism, gây ra một ấn tượng tiêu cực về tôn giáo. Nói một cách cụ thể, các phương tiện truyền thông Âu Mỹ thường đồng hóa Islam với “khủng bố”, chứ không chịu khám phá những bộ mặt khác của tôn giáo này.

Trong bối cảnh này, văn kiện (số 5) muốn cho thấy rằng những hình thức vi phạm quyền TDTN bị vi phạm tại các nước “tự do”[7].

1/ Một hình thức vi phạm TDTN cách tinh vi là muốn loại trừ tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội. Dưới danh nghĩa là “Nhà Nước phải đứng bên ngoài các tôn giáo”, người ta tìm cách loại trừ tất cả các biểu tượng tôn giáo trong đời sống công cộng. Theo họ, tín ngưỡng là chuyện cá nhân, vì thế chỉ được thực hành riêng tư (tư gia) chứ không được phô trương công khai. Điều này dẫn đến việc tháo gỡ các tượng thánh giá ra khỏi các công sở, trường học, bệnh viện (tại các nước vốn theo truyền thống công giáo). Một bước kế tiếp là loại bỏ việc dạy tôn giáo tại các trường công lập (và như vậy là khước từ cả một truyền thống văn hóa của dân tộc). Trên phương diện lập pháp, người ta thông qua các đạo luật bất chấp giá trị luân lý (chẳng hạn như chấp nhận phá thai, hôn nhân đồng tính), dựa theo biểu quyết của đa số. Một khi luật đã được ban hành thì không ai được phép chỉ trích nữa! Đến đây, ta thấy một hiệu ứng trái ngược với bản chất của “Quốc gia tự do”, đó là ngăn cấm phát biểu ý kiến cá nhân, ngăn cấm “vấn nạn lương tâm” (objection de conscience), chẳng hạn như các bác sĩ không được phép khước từ phá thai vì muốn tuân theo tiếng nói của lương tâm!

Văn kiện muốn cho thấy rằng ngày nay, chính các quốc gia tự do lại trở thành “toàn chế” (totalitarisme), khi áp đặt ý thức hệ của mình như chân lý tuyệt đối, không chấp nhận bất cứ sự phản kháng nào (cho dù, trên nguyên tắc, họ không chấp nhận có chân lý nào là tuyệt đối). Tệ hơn nữa, các quốc gia tự do trở lại chế độ thần quyền (théocracie) theo nghĩa trái của nó. Như ta đã biết, trong các xã hội cổ truyền, các vua chúa “thay trời trị dân”: người dân phải tuân theo luật của nhà vua như là tuân theo lệnh trời vậy! Kitô giáo đã du nhập nguyên tắc phân biệt “thần quyền” và “thế quyền”. Thế quyền không còn giữ vai trò thay mặt Trời nữa. Tiếc rằng, vào thời nay, nhiều quốc gia muốn trở lại chế độ cũ, áp đặt ý thức hệ của mình như là quy tắc tuyệt đối ràng buộc hết mọi người.

2/ Trong bối cảnh này, văn kiện nhắc nhớ rằng sự đóng góp quan trọng của tôn giáo vào đời sống xã hội (Chương 6 của văn kiện). Điều này có thể nhận thấy nơi sự đóng góp của Kitô giáo vào văn minh châu Âu và Mỹ châu, không những qua các kiến trúc nghệ thuật, nhưng nhất là qua các giá trị tinh thần của các dân tộc. Vì thế, không có lý do gì mà đòi gạt bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội. Phải chăng sự gạt trừ chiều kích siêu việt ra khỏi đời sống đã khiến cho nhiều người rơi vào các hình thức bạo động, những hình thức kỳ thị, đó là chưa kể tình trạng sống tuyệt vọng, thiếu tin tưởng vào tương lai nơi các bạn trẻ?

3/ Một cách tích cực hơn, văn kiện trình bày sự tiến triển của giáo huấn Hội thánh liên quan đến đề tài này (xem các số 23-27).

Tuyên ngôn Dignitatis humanae đã nêu bật giá trị của việc tôn trọng nhân phẩm khi đề cao TDTN. Đạo lý này dựa trên nền tảng Kinh thánh: Thiên Chúa đã dựng nên con người với lý trí và tự do, và Ngài muốn cho con người gắn bó với Ngài cách ý thức và tự do, chứ không do áp lực sợ hãi.

Sau công đồng Vaticanô II, các vị giáo hoàng đã đào sâu các khía cạnh khác nhau của đề tài TDTN[8].


a. ĐTC Gioan Phaolô II coi quyền TDTN như là nền tảng của các quyền lợi căn bản khác của con người. Nói cách khác, việc tôn trọng quyền TDTN được xem như “thước đo” cho việc tôn trọng các quyền lợi khác của công dân. Thực vậy, quyền TDTN là một yêu sách cơ bản nhất của phẩm giá con người, nó bảo đảm cho các quyền tự do khác nhằm đến công thiện của các cá nhân và các dân tộc[9].


b. Đối với ĐTC Bênêđictô XVI, quyền TDTN không phải là một quyền lợi dành riêng cho những người có tín ngưỡng, nhưng là một quyền lợi của tất cả mọi người. Đây là một quyền lợi không chỉ là của các cá nhân mà còn là quyền lợi của cộng đồng. Việc tôn trọng quyền này góp phần vào sự xây dựng công ích[10].

c. ĐTC Phanxicô lôi kéo chú ý đến hiện tượng của nhiều tín hữu đang chịu bách hại vào thời nay, bởi những ý thức hệ muốn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi xã hội, hoặc bởi những cuộc đàn áp nhân danh tôn giáo. Sự bách hại có thể dẫn đến cái chết, hoặc ít là sự kỳ thị trong việc thực hành các quyền lợi công dân (và thậm chí trong việc thi hành nghề nghiệp hoặc hưởng các dịch vụ công). Chúng ta cần biết tôn trọng lẫn nhau, tạo ra khung cảnh hợp tác với nhau để kiến tạo xã hội[11].

4/ Trong chương cuối cùng (chương 7), văn kiện nhắc nhở rằng việc tuyên bố quyền TDTN không chỉ nhằm bảo vệ quyền này trước mặt các quốc gia hoặc những người ở ngoài Giáo hội, nhưng còn nhằm đến chính các phần tử của Giáo hội nữa. Chúng ta cần phải biết tôn trọng quyền TDTN của các người khác, các cộng đồng khác, cách riêng trong bối cảnh di dân hiện nay. Việc loan báo Tin mừng cần được thực hành trong khung cảnh của việc tôn trọng TDTN và đối thoại tôn giáo.

Dù sao, việc làm chứng cho Tin mừng luôn cần được thúc đẩy bởi lòng yêu mến Thiên Chúa và đồng loại. Đôi khi việc làm chứng đức tin đưa đến sự tử vì đạo; nhưng người tín hữu làm chứng cho đức tin với lòng mến yêu tha thứ, chứ không phải bằng bạo lực thù hận. Việc chứng tá Kitô giáo không thể nào chấp nhận việc chém giết hoặc tự sát nhân danh Thiên Chúa.

—————————-

[1] Nên biết là trong các cơ quan của Tòa Thánh, bên cạnh các Bộ (mang tính cách hành chính) còn có các cơ quan mang tính cách nghiên cứu, chẳng hạn các Hội đồng Giáo hoàng, hoặc các Ủy ban Giáo hoàng.

[2] Bản văn có thể đọc trên website của Ủy ban thần học quốc tế (cho đến ngày 6/6/2019, mới chỉ có bản bằng tiếng Pháp và tiếng Ý): http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/cti_documents/rc_cti_20190426_liberta-religiosa_it.html. (

[3] Khi chuyển sang tiếng Việt, vấn đề trở thành phức tạp hơn nữa, bởi vì religion được dịch là “tín ngưỡng” và “tôn giáo”. Hai từ này không đồng nghĩa. Trong Luật Tín ngưỡng Tôn giáo 2016, điều 2 định nghĩa: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”. Dĩ nhiên, tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo lại càng khác nhau hơn nữa.

[4] Trên thực tế, không dễ gì chấp nhận cho tất cả các “cộng đồng tôn giáo” được tự do hành động, cách riêng là các “giáo phái”. Nhưng dựa trên tiêu chuẩn nào mà phân biệt tôn giáo và giáo phái? Thí dụ điển hình là các cuộc tranh tụng gần đây bên Hoa kỳ liên quan đến Scientology và Satanism.

[5] X. chương 1 của văn kiện đang bàn.

[6] Fundamentalism thường được dịch là “cực đoan, quá khích”. Chúng tôi muốn dịch sát với tầm nguyên là “bảo căn”, nghĩa là bảo vệ căn tính (fundamentum: cơ sở, nguồn gốc). Đây là một hiện tượng xuất hiện ở nhiều tôn giáo. Xc. Bài viết Fundamentalism của Massimo Introvigne, trong “Thời sự thần học” số 68 (tháng 5/2015), trang 160-183.

[7] Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là các Kito hữu không gặp khó khăn tại các quốc gia theo chủ nghĩa “vô thần” hoặc tại quốc gia nhận một quốc giáo (cách riêng là Islam).

[8] Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo bàn về TGTN ở các số 2104-2109 dưới nhiều khía cạnh. 1/ Trước hết con người có bổn phận phải truy tấm chân lý, và thờ phượng Thiên Chúa chân thật (số 2104-2105). 2/ Con người có quyền TDTG (số 2106-2109). Xem thêm số 2467 (bổn phậm tìm kiếm chân lý); quyền được hành động phù hợp với lương tâm trong lãnh vực luân lý (số 1782).

[9] X. Sứ điệp ngày hòa bình thế giới các năm 1988, 1989, 1991.

[10] X. Sứ điệp ngày hòa bình thế giới năm 2011.

[11] X. Tông huấn “Niềm vui Tin mừng” số 257.

Phan Tấn Thành
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ