Tạ Ơn Đời, Tạ Ơn Nhau

28 Tháng Mười Một 20123:00 CH(Xem: 4044)

Người ta có thể hiểu lầm nhau ở nhiều điều, nhưng người ta không thể hiểu lầm nhau ở tấm lòng biết ơn. Biết ơn là một ngôn ngữ chung của của nhân loại, là tiếng nói thiết tha của tâm hồn…”

taon02
Biết ơn là một ngôn ngữ toàn cầu, là điệu nhạc, ý thơ, là sự rung động của tâm hồn.

Bây giờ là tháng 11. Chiều chưa đến mà trời đã tối thật là nhanh. Cái lạnh ở đâu ùa về, giá rét. Mùa này nhiều nơi còn bão rớt trên quê hương chúng ta. Tại Hoa Kỳ, lễ Thanks Giving đã đến, mang đến một chút gì một niềm vui ấm áp, một chút gì bâng khuâng xao xuyến vì ngày lễ đáng yêu này.

Từ hàng trăm năm nay, người dân Hoa kỳ có một đời sống tiện nghi nhất, kỹ thuật nhất, an cư nhất trên tòan thế giới. Cho dù nền kinh tế vẫn còn khủng hoảng, nhưng đời sống người dân không đến nỗi xáo trộn. Hàng năm, cả nước đều đón mừng lễ Tạ Ơn. Trường học, học sinh được nghỉ. những ngôi giáo đường vang khúc nhạc Tạ Ơn. Mối liên hệ giữa lễ Tạ Ơn truyền thống với sự cân bằng đời sống xã hội, với sự phồn thịnh về văn hóa… đã đóng góp rất nhiều trong mối tương quan giữa Tạo hóa và và vạn vật, và giữa muôn loài nữa. Tinh thần ấy hướng dẫn sự phát triển thuận chiều của đất trời. Có phải chăng tâm tình Tạ ơn tạo nên một chuỗi phản ứng, biến hóa những gì chung quanh ta, biến hóa nhân loại thăng tiến, như phép mầu nhiệm của chiếc đũa thần…Người ta có thể hiểu lầm nhau ở nhiều điều, nhưng người ta không thể hiểu lầm nhau ở tấm lòng biết ơn. Biết ơn là một ngôn ngữ chung của của nhân loại, là tiếng nói thiết tha của tâm hồn. Lễ Tạ Ơn là một trong những ngày lễ được mọi người hân hoan chào đón. Là những ngày đoàn tụ gia đình. Dù ở nơi xa, ai cũng mong ước và thu xếp trở về mái ấm gia đình, hưởng những giờ phút đầm ấm yêu thương. Đây cũng là dịp người ta tạ ơn đời, tạ ơn nhau. Lễ Tạ Ơn là dịp mà hơn lúc nào hết, chúng ta bày tỏ sự yêu thương, chia sẻ, gần gũi bên nhau. Chúng ta cùng đọc bài thơ của Đặng Lệ Khánh, một người phụ nữ gốc Huế rất tài hoa:

Tạ ơn ta còn dài mái tóc
Đêm đêm nằm phủ mặt giữ hương
Tạ ơn ta còn xanh đôi mắt
Nhìn cuộc đời qua rất dễ thương
Tạ ơn ta còn nghe tiếng gió
Gõ đùa chơi qua chiếc phong linh
Nghe như nhạc Thánh ca đâu đó.

Tạ ơn ta tình yêu đầy ắp
Chảy trên từng dòng chữ đam mê
Bơi trong mộng khói sương ngây ngất
Quấn quýt theo một dáng ai về
Tạ ơn ta đôi mi chợt ướt
Một sáng nào thức giấc nhìn trời
Bên kia núi có ai thổn thức
Mà mưa hồng gợi nhớ không thôi.

Sống trên đời, chẳng ai tồn tại được một mình, cho nên, mang ơn, tự nó là một tình cảm cao quý. Cuộc chiến tranh trên đất nước chúng ta kéo dài từ 1/3 thế kỷ, chấm dứt bằng biến cố 1975. Rồi sau đó là những năm tháng tù đầy, những chuyến băng rừng, vượt biển. Có thể nói phân nửa dân tộc chúng ta còn sống đến hôm nay như những kẻ may mắn sống sót. Nhưng cũng phải trải qua bao nhiêu tóc tang tủi nhục. May mắn thay, có không biết bao nhiêu những bàn tay cứu giúp cưu mang đã chìa ra cho chúng ta nắm lấy, khắp bốn phương trời phiêu bạt. Đất nước hoà bình rồi.

Thế nhưng… Có bao nhiêu người vợ, hai mươi, ba mươi tuổi vào năm 1975 đã trở thành góa phụ? Bao nhiêu những đứa trẻ đã trở thành những đứa con côi ngay từ lúc sơ sinh? Bao nhiêu người nay đã là cha, là mẹ, nhưng lại không hề biết hay không còn nhớ nổi gương mặt cha hay gương mặt mẹ của mình? Ôi, Có thể nào lại có một đất nước mà mọi người đều sợ hãi bỏ chạy như đất nước chúng ta? Một đất nước mà ai trốn thoát ra khỏi đều coi như điều may mắn? Một quốc gia mà “nửa này đã cố giết một nửa kia để lập chiến công” như một câu thơ mà người ta đã đọc được trên vách một nhà tù? Một đất nước mà người ta ở không được, đi không được. Như vậy thì phải làm sao đây? Hãy nghe tâm sự của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn:

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi
Bằng sức người vô hạn
Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom
Tim mang nghìn dấu đạn
Tôi đã đổ mồ hôi, đổ máu tươi để mong ở lại đây.
Nhưng…Đất đã đỏ vì bị nung bằng những lời dối trá
Người bám vào, lửa đã đốt cháy tay
Lửa hơn căm, lửa hiểm thâm
Lửa khốn cùng cay đắng
Người lừa nhau
Trời đất còn bưng mặt thảm thương

Vâng, 100 năm nô lệ. Rồi trận đói năm Ất Dậu. Và lụt lội không năm nào buông tha. Rồi chiến tranh, chiến tranh …kéo dài không ngừng, dân tộc ta có lúc tưởng chừng như kiệt sức. Trong hoàn cảnh đau thương, nghiệt ngã như thế, nhưng chúng ta vẫn phải mang ơn. Mang ơn đời. Mang ơn người. Chúng ta bị xua đuổi, phải chạy trốn, nên phải mang ơn những người đã cưu mang chúng ta. Bên cạnh những người chết , chúng ta mang ơn Thượng Đế, vì chúng ta còn. Vâng, chúng ta còn, nên vẫn còn hy vọng. Hy vọng một ngày quê hương chúng ta sẽ thoát khỏi cơn mê muội. Hy vọng rồi sẽ có lúc “người nhìn ra người” và biết thương yêu nhau với tất cả tấm lòng…

Trong niềm hy vọng ấy, chúng ta dâng một lời cầu nguyện: Nơi đầu ngửng cao không sợ hãi Nơi hiểu biết được tự do phát triển Nơi đời sống không bị phân chia bởi những thành kiến cổ hủ, hẹp hòi Nơi tiếng nói xuất phát từ sự thật, sâu xa Nơi mọi nỗ lực không ngừng vươn tìm tuyệt đối Nơi suối lý trí trong suốt tuôn chảy không bị lạc vào sa mạc hoang vu của tập quán khô cằn Trong thiên đường tự do ấy Thượng Đế hỡi Xin hãy cho quê hương chúng tôi thức tỉnh (Khuyết danh)

Trong cuộc sống bận rộn ở Hoa Kỳ, ai cũng phải tất bật hối hả lao vào cái vòng quay rất nhanh và rất mạnh của đời sống vật chất. Đến nỗi có nhiều khi người ta quên đi đời sống tinh thần.

Cho nên nhân mùa lễ Thanhs Giving , ước mong rằng mỗi người trong chúng ta hãy dành một khảng thời gian , ngồi một mình, nhìn lại quãng đời đã qua. Chúng ta đã cho đi và nhận lại những gì? Hãy nói với nhau những lời yêu thương , hãy trao cho nhau những ánh mắt thiện cảm. Hãy dành cho nhau một chút thời gian để cảm nhận được cái sự may mắn nhất mà chúng ta có được trong cuộc sống hôm nay. Nhỏ bé thôi nhưng thật gần gũi, ấm áp.

Và cũng nhớ dành vài phút hít thở không khí trong lành buổi sớm mai, ngắm ánh nắng vàng lấp lánh trên những ngọn cỏ còn ướt đẫm sương mai hay ngắm một nụ hoa vừa hé nở nơi góc vườn hay cùng nghe lại một khúc tình ca trong kỷ niệm.

Thanksgiving xôn xao niềm tin cùng niềm vui mới . Mỗi người chung một niềm vui, một lời chúc tụng…Chúng ta gửi đến nhau trong tình thương yêu chia sẻ, chẳng hạn cho một người thương yêu nhất dù không gian có cách xa nhưng lúc nào cũng nhớ nhau từng phút lại từng giây…

Xin cảm ơn mái ấm gia đình, cảm ơn cha mẹ, cảm ơn tiếng cười trong trẻo, giọng nói líu lo của những đứa con yêu. Cảm ơn những giờ phút vui tươi bằng hữu, cảm ơn những thương yêu săn sóc, an ủi và ngay cả những đồng cảm nhớ nhung của một người dành cho một người. Xin cảm ơn đời, cảm ơn người yêu dấu đã cho ta tình yêu thương ngọt ngào, êm dịu ngát hương…

Cám ơn em dịu dàng đi bên cạnh
Biển ngoài kia xanh quá nói chi nhiều
Núi gần quá, sóng và em gần quá
Anh còn lời để tỏ một tình yêu
(Đỗ Trung Quân – Biển, Núi, Em và Sóng)

Đâu cứ phải là đôi lứa yêu nhau mới cám ơn nhau? Biết ơn là một ngôn ngữ toàn cầu, là điệu nhạc, ý thơ, là sự rung động của tâm hồn. Lời thơ và điệu nhạc biết ơn ấy tuyệt diệu lắm vì nó có thể xuyên qua mọi thứ cản trở của trần thế, bay lên cao tràn ngập khắp không gian. Chúc các bạn một mùa lễ Thaksgiving đầm ấm hạnh phúc.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Ngày còn bé, mỗi lần về quê ghé thăm ông cậu thì cảnh tượng quen thuộc đầu tiên đập vào mắt tôi là hai cái lồng chim cu treo lủng lẳng ở mái hiên nhà. Lồng bằng tre vót nhỏ rứt, bo tròn vành như quả bí, bọc vải bên ngoài kín đáo. Cứ một con gù gù, con lồng bên lại cất tiếng gáy như để hòa điệu, âm thanh trầm buồn. Buổi trưa vắng lặng, chợt nghe tiếng cu gáy êm êm dìu dặt, ai mà không cảm nhận lòng mình xuyến xao gợi nhớ mơ hồ đâu đâu, càng thêm yêu thương sự phóng khoáng, yên bình của đồng nội, hương quê… Người nuôi chim rành rẻ kinh nghiệm cho biết con nào có bộ lông xám thường gáy giọng thổ trầm, con lông nâu thì gáy giọng kim cao. Theo tập tính, chim cu trống cất giọng gáy hay để quyến rũ bạn tình hoặc khoe mẻ, thách thức với con trống khác.
Lúc ấu thơ, khi còn chưa biết rét là gì, tôi thường đi chơi trên những cánh đồng mùa đông. Lúa tháng mười vừa gặt xong, thửa ruộng cạn chỉ còn những gốc rạ trơ trụi. Từ gốc rạ ấy, những mầm lúa lại mọc lên xanh non, nếu để lâu chúng cũng kết bông trổ hạt, người ta gọi đó là lúa trau, có thể lùa trâu bò xuống ăn. Ngoài đồng, phân trâu bò được đắp thành những đụn tròn cao dần lên trên chừng nửa thước. Phân ủ trong đó rất ấm tỏa ra làn khói mờ. Đi cắt rạ lâu trên đồng, những ngón chân lạnh cóng đến mức không còn cảm giác gì, người ta phải hong chân trên nóc đống phân đó. Vài nhà nông tranh thủ cầy ải. Họ xới đất lật lên thành luống, để cho gió bấc hong khô đất, đợi sang xuân có nước về lùa những luống đất đó tan ra như bùn. Đôi khi người ta dùng vồ đập cho đất vỡ tan trước.
Bảo Trợ