Có Bao Nhiêu Ơn Kêu Gọi ?

11 Tháng Năm 20196:28 SA(Xem: 1352)
Có Bao Nhiêu Ơn Kêu Gọi ?

Lm. Phan Tấn Thành, OP.

Kính thưa quý vị đọc giả,
Chúa Nhật Chúa Chiên Lành là ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu. Trước đây, người ta thường nói đến ơn gọi làm linh mục và ơn gọi làm tu sĩ; nhưng Thượng hội đồng giám mục (THĐ) họp năm ngoái về các bạn trẻ đã nới rộng khái niệm về ơn gọi. Trên thực tế, có bao nhiêu thứ ơn gọi ?
chuachienlanh

Khi thiết lập ngày cầu nguyện cho ơn gọi năm 1964 (nghĩa là cách đây 55 năm), Đức Thánh Cha Phaolô VI nghĩ đến ơn gọi giáo sĩ. Đó là lý do ngài đã chọn đề tài Chúa Giesu, mục tử nhân lành, để trưng bày mẫu gương cho các mục tử trong Hội thánh. Sau đó, ngày cầu nguyện cũng được mở rộng cho ơn gọi đời sống thánh hiến. Như vậy, ngày chúa nhật hôm nay chúng ta cầu xin Chúa ban cho Giáo hội được nhiều ơn gọi vào đời sống tu sĩ và giáo sĩ. Thế nhưng, hồi tháng 10 năm ngoái, Thượng hội đồng Giám mục đã họp để bàn về “Tuổi trẻ, Đức tin và Phân định ơn gọi”. Thoạt tiên, nhiều người nghĩ rằng THĐ muốn tìm một giải pháp cho cuộc khủng hoảng ơn gọi bên Âu Mỹ ngày nay. Sự thực không phải như vậy! THĐ muốn bàn chuyện rộng hơn. Ngày nay, nhiều bạn trẻ  sống “không có ơn gọi”, nghĩa là không có một lý tưởng cho cuộc sống: họ sống qua ngày, buông theo số phận, hoặc khép trên chính mình.

Như vậy THĐ buộc chúng ta sửa lại quan niệm về ơn gọi, và cụ thể là cần phải tránh hai thái cực: 1) Một bên là thái độ của những người “không có ơn gọi”, sống bập bềnh trôi nổi qua ngày, chẳng có một lý tưởng nào hết; 2) Bên kia là quan niệm chật hẹp về ơn gọi, đó là chỉ giới hạn ơn gọi vào hàng ngũ linh mục hay đời sống thánh hiến. Tài liệu làm việc của THĐ đã dành hẳn một chương để đào sâu vấn đề này (từ số 85 đến 105) dưới tựa đề “Ơn gọi dưới ánh sáng đức tin”. Số 87 nói rằng Ơn gọi là một thuật ngữ loại suy, áp dụng vào nhiều thực thể khác nhau, tạm chia ra làm ba cấp như thế này:


1) Cấp thứ nhất dành cho tất cả mọi người. Cuộc sống là một ơn gọi (Populorum progression. 15). Thiên Chúa đã gọi con người ra cõi hư vô đến chỗ hiện hữu. Con người được kêu gọi sống hiệp thông với Thiên Chúa; đó là hạnh phúc của con người. Con người được kêu gọi để ra khỏi chính mình, đi hiệp thông với người khác.

2) Cấp thứ hai dành cho các Kitô hữu. Nhờ bí tích rửa tội, người Kitô hữu được gọi “đi theo” Chúa Kitô, và trở nên đồng hình đồng dạng với Người. Người Kitô hữu cũng được kêu gọi tham gia vào sứ mạng của Hội thánh, tiếp nối sứ mạng của Đức Kitô, làm chứng cho Tin mừng trước mặt thế gian.


3) Cấp thứ ba, đi vào sứ mạng của Giáo Hội. Giáo hội được ví như một thân thể, với nhiều chức năng khác nhau. Từ đó, có thể nói đến nhiều thứ ơn gọi trong Giáo hội: Ơn gọi lập gia đình; Ơn gọi làm mục tử; Ơn gọi dâng mình cho Chúa; Ơn gọi giáo dân trong những nghề nghiệp khác nhau (số 101-105).

Đây có phải là một cuộc cách mạng tư tưởng của Thượng hội đồng năm ngoái không ?

Không phải! Chẳng có cuộc cách mạng nào hết. Chẳng qua là trở về khái niệm “Chúa gọi” nói trong Kinh thánh đấy thôi. Kinh thánh nói đến việc Chúa gọi ở nhiều phương diện và cấp độ.  1/ Theo một nghĩa rộng nhất, “Chúa gọi” có nghĩa Chúa ban sự hiện hữu cho vạn vật và cách riêng là cho con người. Việc tạo dựng được quan niệm như hậu quả của tiếng Chúa gọi: Chúa gọi con người từ chỗ hư vô sang hiện hữu. 2/ Lên một cấp nữa, “Chúa gọi” có nghĩa là Chúa mời gọi con người đến thông phần hạnh phúc với Ngài. Ơn gọi này cũng hướng tới tất cả mọi nhân sinh, được thánh Phaolô diễn tả trong thư gửi Êphêsô như là “Thiên Chúa tuyển chọn ta trong Đức Kitô trước khi tạo thành vũ trụ, để ta được trở nên tinh tuyền thánh thiện” (Ep 1,4; xc. 1Cr 1,2). Ta thấy hai ý niệm “kêu gọi” và “tuyển chọn” được gắn liền với nhau, nhằm nêu bật tình thương của Thiên Chúa dành cho hết mọi người. Tuy vậy, trong lịch sử cứu độ, chúng ta cũng nhận thấy rằng tình thương mà Thiên Chúa bao phủ hết mọi người không ngăn cản việc Ngài tuyển chọn một dân tộc làm dân riêng, như trường hợp dân Israel trong Cựu Ước. Tân Ước áp dụng tư tưởng đó vào dân mới của Thiên Chúa, tức là Hội thánh. Các phần tử được mời gọi một đàng là chia sẻ chức thiên tử của Đức Kitô, đàng khác là mang ơn cứu độ cho đồng loại. Đây là nguồn gốc của ơn gọi người Kitô hữu được công đồng Vaticanô II nhắc tới nhiều lần, khi nói đến “ơn gọi nên thánh” hay “ơn gọi truyền giáo”.

Như vậy là tất cả các tín hữu đều được ơn Chúa gọi, phải không ?

Đúng như vậy. Qua bí tích rửa tội, tất cả các Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh, nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, vừa trong tư cách là con cái hiếu thảo của Chúa Cha vừa trong tư cách là mang Tin Mừng đến cho nhân loại. Đến đây, chúng ta vẫn còn nằm ở cấp độ mà thần học gọi là ơn gọi phổ quát, nghĩa là hướng đến tất cả mọi tín hữu, không trừ riêng ai. Tuy nhiên, chúng ta hãy đi thêm một bước nữa. Thần học chú ý đến vài đoạn Phúc Âm nói đến việc Chúa gọi vài cá nhân và ủy thác cho họ một sứ mạng đặc thù nào đó. Thí dụ khi Chúa Giêsu gọi các môn đệ đi theo Người: “hãy theo tôi”. Lời kêu gọi này hàm ngụ rằng họ phải rời bỏ môi trường nơi mình đang sinh sống để dấn thân phục vụ một kế hoạch mà Chúa vạch cho họ. Hiểu theo nghĩa này, trong Tân Ước chúng ta phải đặt Đức Maria vào hàng tiên phong của những người được Chúa gọi, qua trung gian của thiên sứ Gabriel; rồi đến các môn đệ và về sau, thánh Phaolô cũng khẳng định là mình được Chúa gọi làm tông đồ để đi rao giảng Tin Mừng cứu độ. Thần học gọi đó là “ơn gọi riêng” đối lại với “ơn gọi chung” (hay phổ quát). Dù sao, ta cũng nên ghi nhận rằng giữa hai bên có sự liên hệ mật thiết: Thiên Chúa kêu gọi một số người (ơn gọi riêng) đi phục vụ toàn thể cộng đoàn (ơn gọi chung).

Có bao nhiêu thứ ơn gọi riêng ?

Câu trả lời tùy theo ngôn ngữ mà ta sử dụng. Trong ngôn ngữ thông thường, ta có thể nói tới rất nhiều ơn gọi riêng, hiểu theo nghĩa là mỗi người được Chúa ban tài nghệ nào đó để phục vụ xã hội: khả năng trí tuệ, đầu óc tổ chức, năng khiếu nghệ thuật, v.v.. Theo ngôn ngữ thần học, từ ngữ “ơn gọi” được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, dựa theo những mẫu gương của Đức Maria và các môn đệ vừa nói trên đây.

Một cách cụ thể hơn, trong quá khứ người ta nói đến hai ơn gọi: vào hàng giáo sĩ (ơn gọi linh mục) và vào hàng tu sĩ. Ngày nay, người ta muốn nói đến ơn gọi “đi theo Chúa Kitô” theo gương các môn đệ, với hai nét chính: một đàng là ở gần kề Chúa, và đàng khác là loan báo Tin Mừng. Thực vậy, khi đọc lại các trình thuật Tân Ước về ơn gọi các môn đệ, chúng ta thấy trước hết họ được yêu cầu hãy rời bỏ nếp sống hiện tại (kể cả gia đình, nghề nghiệp) để đến chia sẻ cuộc sống giống như Chúa Giêsu, một nếp sống phục vụ Tin Mừng vừa bằng lời giảng vừa bằng nếp sống.
jesus sheep chuachienlanh

Tóm lại, chúng ta nói đến ba cấp độ của ơn gọi: thứ nhất là chung cho hết mọi người; thứ hai là chung cho tất cả các Kito hữu; thứ ba là những ơn gọi riêng trong Hội thánh. Ba cấp độ này có liên quan đến Ba ngôi Thiên Chúa không?

Phải nhận đây là một điểm mới mẻ của thần học về ơn gọi, khi đặt trong tương quan với Thiên Chúa Ba ngôi, mà ta có thể phát biểu như sau:

1/ Trong tương quan với Chúa Cha. Theo một nghĩa rộng nhất, “Chúa gọi” có nghĩa Chúa ban sự hiện hữu cho vạn vật và cách riêng là cho con người. Việc tạo dựng được quan niệm như hậu quả của tiếng Chúa gọi: Chúa gọi con người từ chỗ hư vô sang hiện hữu. Tiến thêm một bước nữa, “Chúa gọi” có nghĩa là Chúa mời gọi con người đến thông phần hạnh phúc với Ngài.  Con người được dựng nên “theo hình ảnh của Thiên Chúa”, để chia sẻ hạnh phúc làm nghĩa tử.

2/ Trong tương quan với Chúa Kitô. Riêng đối với các Kitô hữu, qua bí tích rửa tội, Người  gọi ta trở nên đồng hình đồng dạng với Người, và chia sẻ vào sứ mạng mang Tin mừng cứu độ cho nhân loại.

3/ Trong tương quan với Chúa Thánh Thần. Thánh Linh soi sáng cho ta biết quảng đại đáp trả tiếng gọi của Chúa. Hơn thế nữa, Ngài còn ban phát những ân huệ khác nhau để phục vụ cộng đồng. Đó là nguồn gốc của « nhiều ơn gọi » khác nhau giữa các Kitô hữu.

Đó là tư tưởng của các nhà thần học. Còn tông huấn sau Thượng hội đồng nói gì ?

Tông huấn Christus vivit dành chương 8 để bàn về ơn gọi, trong đó chúng ta gặp lại các tư tưởng vừa kể, tuy với lối phân chia hơi khác. Chương 8 mở đầu với số 248, bàn đến ơn gọi theo nghĩa rộng, bao gồm việc Chúa gọi chúng ta ra khỏi hư vô để đi vào cuộc sống, cũng như ơn gọi trong tình thân hữu với Ngài, và ơn gọi nên thánh. Đề tài này được khai triển ở các số 249 đến 252. Bước sang số 253, Đức thánh cha nói đến ơn gọi theo nghĩa đặc biệt, nghĩa là ơn gọi phục vụ tha nhân, mang hết những khả năng của mình để phục vụ xã hội. Trong cấp thứ hai này, tông huấn dừng lại ở ba hình thức: một là hình thức tình yêu hôn nhân gia đình (số 259-266); hai là hình thức lao động (số 268-273). Hai hình thức này xem ra là thông thường trong cuộc đời, nhưng dưới cặp mắt đức tin, ta có thể nhận ra như một sứ mạng: sứ mạng xây dựng tình yêu đưa đến việc truyền sinh và giáo dục con cái; sứ mạng xây dựng xã hội. Cuối cùng, tông huấn bàn về ơn gọi tận hiến đặc biệt (số 274-277). Điểm cuối cùng được DTC Phanxico bàn rộng trong sứ điệp nhân ngày thế giới cầu nguyện cho ơn gọi năm nay, được ban hành ngày 31 tháng 1, nhân lễ thánh Gioan Bosco.

Như vậy, ngày cầu nguyện cho ơn gọi vẫn còn giữ được ý nghĩa như lúc được thành lập cách đây 55 năm phải không ?

Đúng vậy. Tuy nhiên, trong đường hướng mục vụ, Giáo hội cần biết lưu tâm đến các ơn gọi khác nữa. Cách riêng, từ nay mục vụ giới trẻ được coi như đồng nghĩa với mục vụ ơn gọi, theo nghĩa là tất cả mọi hoạt động mục vụ dành cho giới trẻ cần giúp cho họ khám phá ra kế hoạch mà Thiên Chúa dành cho họ: mỗi người được mời gọi hãy nhận ra các khả năng Chúa ban để phục vụ Tin mừng, dù trong bất cứ hoàn cảnh sinh sống nào. Việc khám phá này mang tên là “phân định”, đòi hỏi sự lắng nghe, đồng thời cũng cần đến sự đồng hành, hướng dẫn của những người có kinh nghiệm, như chúng ta đọc thấy trong chương 9 của tông huấn Christus vivit.
Lm. Phan Tấn Thành, OP.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ