Cây Gòn, Tuổi Thơ Tôi...

13 Tháng Tư 20199:15 CH(Xem: 930)

CÂY GÒN,TUỔI THƠ TÔI...

Miền Tây quê tôi đâu đâu cũng có dáng của những cây gòn. Gòn mọc ở hàng rào, gòn hiện diện đâu đó xen lẫn giữa những vườn cây trái.

Gòn còn ban tặng cho người dân quê một đặc sản ngọt lành: mủ gòn. Thật là tuyệt vời nếu giữa những ngày hè oi bức mà được thưởng thức một ly mủ gòn ướp đá nhuyễn cho thêm một ít đường cát, ngon "bá chấy bồ chét" luôn.
cay bong gon(anh tu FB Lam Hung)

Gỗ gòn không dùng làm củi đốt và cũng không thể dùng làm cột cất nhà vì độ bền kém. Song bù lại thân gòn dùng để bắt cầu vì gòn có đặc tính là chỉ cần tiếp xúc với đất là lại đâm chồi nảy lộc. Có lẽ vì thế mà gòn dùng để làm cầu khỉ, cầu tỏm không bao giờ bị mục , ở hai đầu cây cầu còn mọc lên những đọt non nho nhỏ nữa.

Ngày trước, nội tôi cũng trồng một hàng gòn ở phía sau nhà, giữa những vườn cây trái xum xuê rồi thả trầu không cho leo lên trên đó.
Nội tôi không có miếng vườn lớn để trồng những loài hoa thơm trái ngọt, đất phèn khó tính lại chẳng mấy ưa cây nên quanh nhà chỉ trồng được những hàng gòn. Bao giờ cũng thế khi nhìn thấy những cây gòn xanh vút lòng tôi lại miên man nhớ về nội nhớ về một góc trời tuổi thơ.

Nhà tôi hướng mặt ra sông nhỏ,trước cửa nhà là hai cây gòn to cao và đẹp nhất, tiếp đến là những cậu gòn nhỏ được nội tỉa ngang bằng nhau thế là thành một hàng rào. Hai bên nhà cũng được trồng những cây gòn to để lấy bóng mát. Thân gòn lúc nào cũng nhẵn nhụi và sạch bóng nên vào những buổi trưa bọn con nít chúng tôi mỗi đứa mỗi cây gòn và ngồi tựa lưng vào đó, cái cảm giác mát lạnh thật tuyệt vời. Một trận gió thổi qua, lá gòn lắc lư theo gió như hàng ngàn bàn tay dang ra che nắng, tỏa bóng râm cho chúng tôi. Tôi thích lá gòn vào mùa khô lúc ấy nó chuyển sang màu vàng vàng, đo đỏ chỉ cần một cơn gió lướt qua những chiếc lá rơi xuống cũng đẹp, lãng mạn như cảnh lá mùa thu rơi. Lúc ấy bọn chúng tôi sẽ nhảy múa, dang tay ra hứng những chiếc lá trong cơn mưa lá vàng ấy. Giờ tôi mới hiểu thiên nhiên đơn sơ bên mình cũng mang nhiều nét đẹp nếu chúng ta chịu khó để tâm đến chúng nhiều hơn.

Tuổi thơ tôi có rất nhiều kỉ niệm đẹp với cây gòn. Bọn trẻ hồn nhiên, vô tư chúng tôi thường hái lá gòn làm trò chơi thổi bong bóng. Bọn tôi chia thành hai nhóm, nhóm đi hái thật nhiều lá non vò với nước tạo thành thứ nước sền sệt, nhóm còn lại thì đi cắt lá dừa rồi tước lấy cọng. Cọng lá dừa quấn lại thành vòng tròn, nhún vào nước lá gòn, hít một hơi dài, cái môi nhỏ xíu cong lên thổi, những bong bóng nước từ lá gòn cũng rực rỡ sắc màu dưới ánh nắng rồi chợt vỡ òa, tan biến…

Lá gòn với bọn con nít còn là một thứ rất nhiệm màu, nhờ nó mà chúng tôi tạo ra được muôn vàn bong bóng nước đủ sắc màu. Với những đứa trẻ thơ thì cái trò thổi bong bóng ấy chẳng thể nào thiếu được và cây gòn lúc nào cũng hào phóng cho chúng tôi thật nhiều lá non để bóp nát ra thổi lên không thua kém gì xà bông cả.

Cây gòn với chúng tôi lúc đó còn cho chúng tôi một món khoái khẩu không bao giờ ngán. Cái xóm nghèo, con nít chúng tôi chẳng có nhiều tiền để ăn vặt nên những thứ cây nhà lá vườn như mủ gòn thì chẳng thể nào từ chối được. Mỗi ngày chúng tôi mỗi đứa đều có một li mủ gòn ăn với đá, cái vị ngọt của đường, cái dai dai của mủ gòn cộng với cái lạnh của đá thì thật là một món ngon khỏi phải bàn nữa.

Vào mùa xuân là lúc cây gòn bắt đầu thay lá và ra hoa. Hoa gòn màu trắng có nhị vàng, năm cánh hoa mũm mĩm chứ không mỏng manh như hoa mai. Cả cây gòn sẽ chi chít một màu hoa trắng nếu bạn để ý sẽ thấy cây gòn lúc này thật giống cây hoa gạo cũng cành cây có vài chiếc lá, cũng trắng trời một màu hoa. Hoa gòn chỉ rụng nhiều khi có mưa to gió lớn thôi. Những bông hoa xinh đẹp ấy là một món đồ hàng mà chúng tôi tranh nhau nhặt về chơi. Rồi những bông hoa còn lại trên cành sẽ kết thành những chùm trái. Trái gòn non xanh, treo mình lơ lửng thành từng chùm như một vật trang trí thật đẹp trên cây. Trái gòn nào rụng xuống sẽ bị chúng tôi chế tạo thành những chiếc thuyền thả khắp bờ ao, sẽ tổ chức cuộc thi cho những người làm thuyền gòn đẹp nhất và phần thưởng sẽ là dây thun hoặc cái kẹo. Thế mà lại vui vô cùng.

Tôi nhớ, cứ vào dịp đầu xuân, những chồi non trên nhánh gòn khẳng khiu trơ lá bắt đầu nhú ra, rồi vươn lên xanh mướt. Nụ hoa bắt đầu xuất hiện theo thời gian, lớn dần bung thành năm cánh trắng mịn. Tôi yêu hoa gòn vì vẻ đẹp giản dị, thanh thoát hương quê chứ không cầu kỳ, kiêu sa như hoa hồng, hoa cẩm chướng chốn thị thành đô hội.

Cơn mưa nặng hạt, cây gòn oằn mình hứng từng đợt gió thổi mạnh. Những trái gòn non xanh, treo lúc lỉu thành từng chùm trên cành gần như không chịu nổi với gió. Dứt mưa, gòn đãi bọn trẻ chúng tôi những trái gòn non xanh mơn mởn còn ướt đẫm nước mưa. Xóm nghèo heo hút, con nít làm gì có tiền để “ăn hàng” nên trái gòn non cũng trở thành món ngon của chúng tôi.

Khi những trái gòn bắt đầu chuyển màu, những bông gòn trắng tinh bắt đầu chui ra khỏi lớp vỏ xấu xí, khi những cơn gió bắt đầu thổi đi những cái bông gòn đầu tiên thì cũng là lúc công việc của bọn trẻ chúng tôi bắt đầu.Nội lấy cây sào dài đập những trái gòn khô rơi xuống đất rồi nhặt gom lại, đem về tách vỏ lấy bông dồn gối ngủ.

Nội tôi hái hết những trái gòn chín và dồn lại thành một đống to sau đó bọn trẻ chúng tôi sẽ tước vỏ, lựa hột gòn ra, thế là những giỏ bông gòn bắt đầu đầy vung lên và bắt đầu có đứa đòi những chiếc gối mới. Cái khung cảnh lột bông gòn mới vui làm sao. Đứa nào cũng dính bông khắp cả người, tóc tai, đầu cổ, chân tay đều phất phơ bông gòn, cả bọn nhìn nhau không nhịn được cười. Chúng tôi gọi đây là lúc làm thần tiên, chỉ cần nội vừa quay lưng đi là sẽ có đứa nghịch phá lấy bông gòn gắn làm râu tóc hay thổi bay lên. Cả sân trắng bông gòn.

Ba anh em tôi được giao nhiệm vụ tách trái gòn khô ra làm hai để lấy sợi bông trắng muốt bên trong, công việc không nặng nhọc nhưng đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mẫn. Tôi làm được một lúc thì lấy cớ sợi bông bay vào mũi khó chịu, ngứa ngáy rồi chạy biến đi mà không quên gom theo những vỏ gòn khô để tìm lũ bạn làm thuyền thả xuống nước. Chiếc thuyền gòn được thả xuống kênh, cứ thế lắc lư, lắc lư....Trái gòn tách làm đôi, lấy hết bông bên trong rồi thả xuống nước, dùng tay khoả nước làm sóng cho thuyền trôi ra xa, chiếc thuyền gòn lắc lư theo những gợn sóng li ti.

Có hôm cao hứng chúng tôi còn chơi trò đua thuyền gòn nữa. Làm thuyền đua phải công phu và khéo léo lắm. Dùng mũi dao khoét một lỗ nhỏ đầu vỏ gòn, sợi dây ni-lông một đầu buột vào vỏ gòn, đầu còn lại buột vào đầu cây trúc.

Con mương nhà trở thành nơi thi đấu. Mỗi đứa một bên bờ mương, tay cầm cây trúc với tư thế sẵn sàng. Mấy đứa ở ngoài cổ vũ hô to một, hai, ba bắt đầu chạy. Tôi lúc nào cũng chạy nhanh nhưng lại là người thua cuộc. Bởi, dù tôi cắm đầu chạy nhưng chỉ được nửa đoạn đường đua thì chiếc thuyền gòn của tôi đầy nước, chìm nghĩm. Những đôi mắt tròn xoe chứa đầy hào hứng, tiếng la, tiếng cười chiến thắng rộn cả góc trời quê.

Giờ sao thấy nhớ chiếc cầu nội bắc cho chúng tôi đi qua con mương sau hè quá, nó vừa mềm lại vừa có màu xanh rất đẹp. Tôi khâm phục sức sống của cây gòn, dù chỉ là một nhánh cây hay một thân cây bị đốn xuống nó vẫn vươn lên thành những sự sống mới.

Cây gòn là hình ảnh thân thuộc của không chỉ riêng tôi mà còn của người dân miền quê nghèo khó. Thân thuộc, gần gũi đến mức với những quán ăn vùng quê, chủ quán lấy tên cây gòn để gọi mà không cần bất kỳ những từ ngữ hoa mỹ nào khác như: quán Ba cây Gòn, cà phê Cây Gòn, tạp hóa Hàng Gòn…

Cây gòn thân thiết với người dân vùng quê là thế nhưng họ không dùng gỗ gòn đóng bàn, ghế, tủ hay làm cột cất nhà mà chỉ dùng làm củi đốt do cây gòn dù nhiều tuổi, thẳng đuột, thân to nhưng độ bền của gỗ rất kém. Vậy mà sức sống cây gòn lại rất mạnh mẽ, chặt một nhánh nhỏ găm vào đất là có thể đâm chồi nảy lộc. Vì thế cây gòn được ưu tiên làm cầu khỉ không hề sợ mục mà hai đầu cây còn mọc lên những đọt non nho nhỏ rồi lớn dần theo thời gian, tạo khoảng xanh rợp bóng cho trẻ nhỏ vui đùa.

Giờ đây, cuộc sống của vùng thôn quê cũng đã khá lên, mọi người bận rộn, chăn ấm, nệm êm đắt tiền có sẵn, có mấy ai lấy bông gòn dồn gối nữa đâu. Tôi mừng về sự phát triển của quê nhà nhưng nhìn cây gòn nhỏ đầu ngõ sao cảm thấy nhớ những cây gòn thân to tươi tốt, xanh trái xum xuê xưa kia. Nhớ đến cây gòn là lại nhớ những trò chơi ghi dấu ấn một thời trẻ thơ và nhớ da diết hình ảnh mẹ tôi cặm cụi ngồi nhặt nhạnh từng sợi bông gòn dồn gối, rồi dỗ dành giấc ngủ tôi.

Xin cảm ơn nội đã cho con một tuổi thơ thật đẹp bên những hàng gòn xanh cao, dịu mát như tình thương của nội, xa nhà con vẫn nhớ hoài ly mủ gòn ăn với đá ngày xưa. Con sẽ chẳng bao giờ hỏi nội sao không trồng những loài cây ăn quả thơm ngon kia nữa bởi con hiểu rằng loài cây nào cũng thật có ích nếu ta biết trân trọng những giá trị của nó.

Chiều nay ra đứng nơi góc vườn chổ ngày xưa có hai cây gòn có giàn trầu của nội,nghe thoáng đâu đây chút cay nồng mùi trầu bà mới hái,nhớ cái dáng lụm cụm của bà,chợt nghe sống mũi cay cay.
  Lâm Hùng

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Chuyện trầu cau là một cổ tích thời thượng cổ, rất quen thuộc với người Việt, được kể đi kể lại nhiều lần, có nhiều dị bản khác nhau, nên tốt nhứt là ôn lại chuyện trầu cau qua lời thuật đầu tiên trong sách Lĩnh Nam chích quái xuất hiện vào thế kỷ 15. Lĩnh Nam chích quái là sách góp nhặt những chuyện quái đản ở vùng đất phía nam núi Ngũ Lĩnh, ý chỉ vùng cổ Việt. Sách do một tác giả khuyết danh, hay có thể do Trần Thế Pháp soạn. (Không rõ năm sinh và năm mất của Trần Thế Pháp, chỉ biết ông là một quan chức trong tàng thư các.)
Từ thời dựng nước dân tộc Việt Nam luôn luôn có truyền thống chiến đấu chống ngoaị xâm dành độc lập bảo vệ quê hương, trong quá trình đó người phụ nữ cũng đã đóng góp rất đáng kể, tiêu biểu là cuộc khởi nghiã của Hai Bà Trưng (40-30 trước CN) và Bà Triệu (năm 248) với những chiến tích oai hùng trong lịch sử Việt Nam. Những thế hệ kế tiếp các bậc nữ lưu cũng giúp việc nước, lo việc nhà và đã đóng góp cho lâu đài văn hóa dân tộc như các các nhà thơ nổi tiếng: Đoàn Thị Điểm dịch giả Chinh Phụ Ngâm khúc của Đặng Trần Côn, Ngọc Hân công chúa với Ai Tư vãn. Lưu thị Hiền (bà Phủ Ba) Ngô Chi Lan Ỷ Lan Phu nhân, Huyện Thanh Quan, Sương Nguyệt Ánh…, trong đó nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở thế kỷ thứ 18 nổi tiếng là Bà Chúa Thơ Nôm [1]
Bà tôi mất khi tôi mới lên 10. Ngày ấy trẻ trâu, tôi chẳng hiểu nhiều về sự đời, lại còn sợ khi ở gần người mới qua đời. Bố mẹ bảo trẻ con biết cái gì, ở nhà lo coi nhà, học hành đi. Ngày ấy cũng muốn đến thăm bà lắm. Ngày bà mất, tôi cứ nghĩ đến bà suốt, cả đêm không ngủ được. Chỉ vì muốn đến nhìn bà lần cuối. Vậy mà tôi cứ sợ. Đến sau này, mỗi lần gặp những bà cụ, ông cụ chạc tuổi bà tôi khi trước, mỗi khi thấy bạn bè kể về những người bà, người ông của mình, tôi mới thấy đời mình thiếu cái gì đó. Bà cứ khó khó thế nào ấy, và tôi cảm thấy khó gần bà ghê gớm. Bà hay chép miệng, hay thở dài và đôi khi khó tính.
Trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân của Khái Hưng, trước giây phút từ trần, cụ Tú Lãm thì thầm dặn dò hai con của mình là Mai và Huy: “Lẽ tất nhiên, ai cũng phải chết. Các con không nên buồn. Lúc nào cũng phải vui thì mới đủ can đảm, đủ nghị lực mà sống ở đời. Hai con nên theo gương cha.
Để chuẩn bị đón Tết cho thật “đàng hoàng,” mẹ tôi cũng như những người phụ nữ lãnh đạo gia đình khác đều phải đi chợ Tết. Đi chợ Tết như là một thủ tục đầu tiên để đón ông bà, đưa ông Táo nghinh Xuân cho thật chu đáo.
Một năm bốn mùa Tạo Hoá tặng ban cho nhân loại, mùa nào cũng có những dấu ấn riêng và đặc trưng của nó. Đông có cái lạnh và xơ xác khiến con tim ta ngậm ngùi. Thu có cơn gió êm đềm nhẹ nhàng giỡn chơi cùng mặt hồ lăn tăn cùng chiếc lá. Hạ có bầu trời xanh trong vắt thanh cao. Còn xuân thì luôn gợi lên trong ta cái gì đó vừa nhẹ nhàng, vừa tươi vui, vừa ấm cúng.
Đến năm mười ba, tôi mới biết dành dụm những đồng tiền mừng tuổi cho một hy vọng mà, hôm nay, hy vọng đó, tôi gọi là một hạnh phúc. Hạnh phúc của tôi thường được tôi nhìn lại. Nhìn lại từ đoạn đầu đời tăm tối nhất, hồn nhiên nhất. Tôi không tin, không bao giờ tin nữa, thứ hạnh phúc người ta tưởng rằng tôi đang nắm chặt hay thứ hạnh phúc tôi còn mơ ước khi tôi bị đẩy xuống vực thẳm của phiền muộn.
Bên cạnh ca khúc « Ly rượu mừng » ( mà đến đầu năm 2016 mới được cho phép hát ở Việt Nam ! ), cứ mỗi Tết đến, những ca khúc quen thuộc của mùa Xuân lại rộn ràng cất lên trong các chương trình văn nghệ mừng năm mới. Đại đa số các sáng tác bất hủ về chủ đề Xuân đều là những bài hát có từ trước năm 1975. Trước thềm năm mới Kỷ Hợi, hôm nay chúng tôi xin mời quý vị điểm qua một số bản nhạc Xuân tiêu biểu, với sự tham gia của giáo sư – nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris.
Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này Phạm Quỳnh viết bằng tiếng Pháp nhan đề Psychologie du Tet, đăng trên phần Pháp văn của Tạp chí Nam Phong số 149-1924, sau này có in trong Tiểu luận 1922-1932 (Essais 1922-1932) và đã được nhà văn Nguyên Ngọc dịch rất đạt ra tiếng ta, xuất bản năm 2007. Nhưng ở đây, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc bản dịch của Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, và là tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong để tạo thêm một nét hứng thú trong ngày Tết này.
Trong ngôn ngữ, có lẽ không có chữ nào gợi nên những điều tốt đẹp bằng chữ “xuân”: nắng xuân, mưa xuân, chiều xuân, đêm xuân, ngày xuân, hoa xuân, vườn xuân, sắc xuân, thanh xuân, tuổi xuân, hồi xuân, nghênh xuân, du xuân, tình xuân, đón xuân rồi những là bến xuân, phiên gác đêm xuân, nhớ một chiều xuân…
Bảo Trợ