Nghiên Cứu Mới Về Diện Mạo Của Chúa Giêsu

10 Tháng Tư 201911:40 CH(Xem: 659)

Nghiên cứu mới về diện mạo của Chúa Giêsu

Gõ từ khóa “Giêsu” hay “Jesus” vào ô tìm kiếm của Google, sẽ cho hàng loạt hình ảnh về một người đàn ông da trắng điển trai, cao gầy, tóc vàng gợn dài, có râu quai nón. Thế nhưng, trên thực tế, Chúa Giêsu có bề ngoài như thế nào, phải chăng cũng giống những hình ảnh được phổ biến về Ngài thường thấy khắp nơi như hiện nay?

blank
Hình ảnh thường thấy về Chúa Giêsu

Kinh Thánh ghi rõ Chúa Giêsu là một người Do Thái, chào đời vào khoảng năm thứ 4 trước Công nguyên ở hang Bêlem, khi còn nhỏ từng trải qua một thời gian ngắn ở Ai Cập trước khi chuyển về Nazareth. Đáng tiếc là chẳng hề có dòng chữ nào mô tả về bề ngoài của Ngài, ngoài một số chi tiết ít ỏi về quần áo mà Ngài và các tông đồ thời đó vẫn mặc, theo giáo sư Joan Taylor chuyên ngành Nguồn gốc Kitô giáo của Đại học Hoàng gia London (Anh). Bà vừa xuất bản quyển sách có tựa đề “What Did Jesus Look Like?”, tạm dịch: Chúa Giêsu trông thế nào?

Một diện mạo khác

Những người khác, như Môsê, người đã dẫn dắt dân Do Thái rời khỏi Ai Cập và David, người nhỏ bé đã chiến thắng gã khổng lồ Goliath, đều được mô tả có bề ngoài hơn người. Trong khi đó, những bức họa đầu tiên về chân dung của Chúa Giêsu lại được vẽ cách ít nhất 2 thế kỷ sau khi Ngài qua đời, nên khó có thể chuyển tải hình ảnh sát với thực tế về bề ngoài của Chúa Giêsu, theo nữ giáo sư phân tích. Để có được những thông tin về hình ảnh của Ngài, giáo sư Taylor đã chuyển sang nghiên cứu khảo cổ học và phân tích các văn bản cổ với hy vọng có thể tìm thấy manh mối về diện mạo tổng quát của người Do Thái ở miền Giuđêa và Ai Cập vào thời của Chúa Giêsu. Bà cũng thu thập những hình ảnh nghệ thuật trên các đồng tiền và các bức họa trong những hầm mộ chôn xác ướp thời Ai Cập cổ đại.

blank
Một trong những bức họa đầu tiên

Theo nghiên cứu của nữ giáo sư người Anh, Chúa Giêsu cao khoảng 1,7m, tức bằng với chiều cao trung bình của nam giới thời đó nếu dựa trên các hài cốt còn sót lại đến nay. Còn trong các văn bản lịch sử và mô tả về con người theo khảo cổ học, người ở Giuđêa và Ai Cập thường có mắt nâu, tóc đen và làn da màu ô-liu. Những bản thảo cổ còn sót lại mô tả người Do Thái ở Ai Cập cũng chẳng có đặc điểm gì nổi bật để có thể dễ dàng được phân biệt với phần còn lại của dân số Ai Cập vào thời Chúa Giêsu còn tại thế.

blank
Bức họa của nghệ sĩ Cathy Fisher dựa trên các phát hiện của giáo sư Taylor

Dáng gầy, rắn rỏi

Lịch sử cũng ghi nhận người ở Giuđêa có thói quen để tóc (và râu quai nón) ngắn vừa phải, chải chuốt cẩn thận, nhiều khả năng nhằm tránh chấy rận vốn là vấn đề lớn vào thời đó. Giáo sư Taylor cho rằng, có thể Chúa Giêsu cũng làm tương tự. Trong Kinh Thánh, Chúa Giêsu được mô tả là rành nghề mộc, Ngài rất hay đi đây đi đó nhưng lại hiếm có thời gian nghỉ ngơi để ăn uống. Lối sống tích cực vận động nhưng ít ăn uống này có nghĩa là Chúa Giêsu phải khá gầy, nhưng lại nhìn rắn rỏi vì lao động nhiều. Giáo sư Taylor lưu ý Chúa Giêsu không phải là một người sống cuộc đời yên ả, mà thay vào đó phải trải qua nhiều cực nhọc. Một số đặc điểm khác của khuôn mặt Ngài, như miệng và gò má, chưa thể đoán được vì không có chứng cứ hoặc manh mối nào.

blank

Các Phúc Âm, cùng với những vật dụng thu thập được từ hoạt động khảo cổ, cung cấp một số chi tiết về quần áo mà Chúa Giêsu và các tông đồ thường mặc thời đó. Ngài nhiều khả năng khoác áo chùng bằng len, không nhuộm, khăn quấn thắt lưng và áo choàng bên ngoài để giữ ấm. Giày của Chúa có thể giống như các loại giày xăng-đan giản dị thời nay, và do quần áo khi đó hết sức đắt đỏ, Ngài ắt hẳn buộc phải vá mạng áo quần để có thể mặc được lâu dài. 

blank

Trong số những học giả chuyên về Kinh Thánh đã đọc sách của bà Taylor, giáo sư thần học Helen Bond của Đại học Edinburgh (Scotland) và giáo sư Jim West, chuyên gia về Kinh Thánh của Trường Thần học Ming Hua (Hồng Kông) đều đánh giá tích cực về nghiên cứu này. Nữ giáo sư Taylor đang mong đợi các học giả khác bình luận về công trình của mình, cũng như kêu gọi thêm nhiều họa sĩ tham gia nỗ lực tạo dựng hình ảnh của Chúa Giêsu dựa trên những phát hiện nói trên.

Ling Lang - GP Vinh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
DẪN NHẬP Internet và mạng lưới toàn cầu (World Wide Web) là phát minh vĩ đại của nhân loại. Phát minh này có tác động lớn, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống con người. Giống như điện thoại ở những năm 1920 và truyền hình ở những năm 1950, Internet ngày nay đã trở thành phương tiện truyền thông nổi bật và chủ yếu. Internet có một số tính năng nổi bật như: tức thời, toàn cầu, phân tán, tương tác, tiếp cận không giới hạn, linh hoạt, dễ sửa đổi và dễ thích nghi. Nó mang tính bình đẳng, theo nghĩa bất cứ ai với phương tiện và kỹ năng cơ bản cũng có thể tham gia và hoạt động trên Internet.[1] Internet trở thành trung tâm kết hợp những người cùng khuynh hướng lại với nhau. Nhờ Internet, những người thường xuyên bị loại bỏ hoặc bị tôn giáo khai trừ, đều có thể tìm đến và hội nhập dễ dàng với những cộng đoàn tâm linh trực tuyến.
Hướng về Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội (Lễ Chúa Thăng Thiên), Kitô hữu chúng ta được mời gọi tìm hiểu và suy tư về chủ đề này, hầu có thể sử dụng hợp lý phương tiện truyền thông theo tinh thần Tin Mừng. Bài viết này mang nặng tính ‘đặt móng’, với hy vọng chỉ ra một định hướng nền tảng, dưới nhãn quan Kitô giáo, cho truyền thông xã hội Việt Nam. Cụ thể, bài viết trình bày ba điểm chính: thứ nhất, lược lại bản chất và ý nghĩa truyền thông theo Kitô giáo; thứ hai, nhìn lại thực trạng truyền thông xã hội của Việt Nam hiện nay và những thách đố của nó; thứ ba, nghĩ về một định hướng căn bản để trả lời cho những thách đố đó qua việc suy gẫm về Mẹ Maria như một gương mẫu tuyệt vời của truyền thông theo tinh thần Tin Mừng.
Grentchen R.Crowe Anthony Lai dịch từ simplycatholic.com WHĐ - Dễ dàng nhận thấy rằng người Công Giáo đã quá quen với chuỗi Mân Côi. Chúng ta thường mua các tràng chuỗi làm quà kỉ niệm, hoặc mang chúng theo bên mình, hoặc thậm chí là đeo chuỗi trên người – nhưng chúng ta quên đi sức mạnh to lớn của chuỗi Mân Côi mỗi khi chúng ta thực sự cầu nguyện bằng tràng chuỗi ấy. Điều đó thật đáng buồn, vì những lời cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể mang lại câu trả lời cho rất nhiều vấn đề khó khăn trong thế kỷ XXI này.
1. Thánh Mátthêu chịu tử đạo ở Êthiôpia. Người ta đã dùng gươm để giết chết ngài. 2. Thánh Máccô chết ở Alexandria, Ai cập. Người ta đã dùng những con ngựa để kéo bừa ngài qua các đường phố cho đến chết. 3. Thánh Luca bị treo cổ ở Hy Lạp vì ngài đã giảng rất hùng hồn về sự lầm lạc, hư mất. 4. Thánh Gioan chịu tử đạo bởi hình phạt bị thiêu sống trong cái bồn khổng lồ chứa đầy dầu đang sôi, trong cuộc tàn sát ở Rôma. Tuy nhiên, Ngài đã đựơc cứu sống một cách nhiệm lạ. Rồi ngài bị kết án đi đày trong các hầm mỏ ở nhà tù trên đảo Pátmô. Thánh Gioan đã viết Sách Khải Huyền tại đảo này. Sau này, Tông đồ Gioan đựơc trả tự do và trở về thi hành sứ vụ giám mục của Edessa, Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài qua đời trong lúc tuổi già. Ngài là vị tông đồ duy nhất qua đời một cách bình an.
Phan Tấn Thành Từ lễ Phục sinh đến lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, Kinh Truyền tin được thay thể bằng Kinh Lạy Nữ Vương Thiên đàng. Kinh này phát xuất từ đâu? Thật là một câu hỏi được đặt ra đúng thời nhân mùa đại dịch. Theo một lưu truyền, kinh này được sáng tác từ trời nhân mùa đại dịch năm 590 tại Rôma, thời đức giáo hoàng Grêgôriô Cả.
Lúc 11h ngày 12/04, ĐTC Phanxicô dâng Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đọc sứ điệp Phục Sinh và ban phép lành toàn xá urbi et orbi (cho Roma và toàn thế giới). Vatican News Tiếng Việt xin gởi đến quý độc giả toàn văn sứ điệp. Chuyển ngữ: Mai Kha, SJ - CTV Vatican News
Adalberto Sisti OFM Tóm tắt. I. Đẹp và tốt: 1. Từ ngữ; 2. Vẻ đẹp theo Kinh thánh; 3. Nguồn gốc cái đẹp. II. Phản ánh của vẻ đẹp trên thế giới: 1. Bầu trời, mặt trời và mặt trăng; 2. Thảo mộc và động vật. III. Vẻ đẹp của con người: 1. Những nhân vật và nhân tố của vẻ đẹp; 2. Hương thơm và trang điểm; 3. Những giá trị và giới hạn. IV. Vẻ đẹp những công trình của con người: 1. Nghệ thuật; 2. Đời sống. (Nguồn: Nuovo Dizionario di Teologia Biblica, Ed. Paoline, Cinisello Balsamo, 1988, 161-168. Các chú thích của người dịch) ————————
Chuyển ngữ: Phêrô Bùi Huy Ngọc Nguồn: Righetti M., “La Domenica de Passione o Domenica in Palmis”, in Storia Liturgica 2, Ancora, Milano 1969, 184-195. Chúa nhật thương khó hay Chúa nhật lễ lá. Như chúng ta đã biết, tên gọi và nguồn gốc của Chúa nhật này trong nghi lễ Roma là "Cuộc Thương Khó của Chúa", được các giáo phụ Latinh thế kỷ IV-V nhắc đến và trong một số sách phụng vụ cổ đại[1]. Sau này nó được kết hợp với những cành cọ ở đông phương, nên gọi là Dominica palmarum o in palmis - Chúa nhật Lễ lá, như chúng ta thấy trong sách lễ Gelasiano (Reg. 316), đều có cả hai cách gọi. Sau đó, nghi thức làm phép lá ở các quốc gia bên kia dãy núi Alpi đã mang đến sự nổi bật khác thường cho tên gọi này, và từ đó không có tên gọi nào khác ngoài tên này.
Trong Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh năm nay, Tòa Thánh đã yêu cầu các linh mục trên khắp thế giới đọc thêm một lời cầu nguyện mới vào các Lời Cầu Long Trọng, và kêu gọi các ngài dâng các thánh lễ cầu nguyện cho đại dịch coronavirus sớm chấm dứt. Trước đại dịch coronavirus quá kinh hoàng đã cướp mất mạng sống của gần 50,000 người và làm gần 1 triệu người bị nhiễm bệnh, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã đưa ra một ý cầu nguyện mới trong Những Lời Cầu Long Trọng.
Bên trong nhà thờ San Marcello ở Rôma có cây thánh giá bằng gỗ cổ kính được tôn kính từ thế kỷ 15 và được các học giả xem là hiện thực nhất Rôma, cây thánh giá đã sống còn sau một trận hỏa hoạn và đã cứu Rôma khỏi nạn dịch hạch và Đức Gioan Phaolô II đã ôm hôn trong một sự kiện nổi bật đánh dấu Ngày Tha thứ năm 2000. Từ con đường Corso ở Quảng trường Venezia, trên quảng trường nhỏ phía bên phải là mặt tiền ngôi nhà thờ cổ San Marcello có từ thế kỷ thứ 4, thứ 5. Nhà thờ được nhắc đến lần đầu tiên năm 418 sau khi Giáo hoàng Zosime qua đời trong một thư của Rôma gửi hoàng đế Honorius. Năm 1368 các tu sĩ Dòng kính Đức Mẹ đến đó ở và vẫn còn ở đây.
Bảo Trợ