Ba Lời Khấn Của Người Tu Sĩ

10 Tháng Tư 20199:46 CH(Xem: 1959)

Ba Lời Khấn của người tu sĩ

blank

Có bao giờ bạn tham dự lễ khấn của quý thầy hay quý sơ chưa? Hoặc có bao giờ bạn nghe đến lễ khấn hoặc các lời khấn chưa? Chắc các tu sĩ quá quen thuộc về những điều này. Do đó, chút chia sẻ dưới đây tôi muốn viết cho các bạn trẻ chưa hoặc không phải là tu sĩ. Để qua đó, chúng ta thấy cuộc sống của người tín hữu thật phong phú trong các bậc sống và có nhiều cách thức liên kết với Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Các bạn thân mến,

Gọi là lễ khấn vì dĩ nhiên trong đó có ba lời khấn[1] là quan trọng nhất đối với những ai cử hành nó. Trước khi khấn, các tân khấn sinh đã được học kỹ lưỡng về từng lời khấn ở Nhà Tập. Rồi tới một thời điểm, tập sinh được mời gọi tự do tuyên khấn. Từ đó họ chính thức bước vào mối tình với Giêsu, sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi và đón nhận những ân sủng đến từ ba lời khấn này: Khó nghèo, Khiết tịnh và Vâng phục. Sau lời tuyên khấn với Thiên Chúa, họ chính trở thành tu sĩ, nam gọi là thầy tu, nữ gọi là nữ tu hay các sơ.

  1. Lời khấn khó nghèo

Chắc không ai muốn cuộc sống nghèo khổ thiếu thốn. Tuy nhiên, để không bám vào của cải trần gian, người tu sĩ khấn hứa mình luôn chọn con đường nghèo khó của Tin mừng để sống trọn đời. Chính Chúa Giêsu đã đi trọn con đường nghèo khó này. Đó là mối phúc dành cho những ai sống khó nghèo, vì Nước Trời là của họ.

Trong các đan viện, chúng ta dễ dàng thấy các thầy, các sơ sống nghèo như thế nào. Đó là hình thức sống đan tu có từ lâu đời. Sau đó xuất hiện dòng khất thực mà nổi tiếng là dòng thánh Phan-xi-cô và thánh Đa-minh. Lúc này cuộc sống của người tu sĩ sống bằng của bố thí. Với Dòng Biển Đức, các tu sĩ sống tự cung tự cấp. Có bạn giơ tay ý kiến rằng các dòng tu dường như nhiều bất động sản và tài sản khác? Điều ấy là có thực, nên vấn đề khó nghèo luôn được đặt ra cho lối sống của các tu sĩ: làm sao sống nghèo để bắt chước Đức Ki-tô? Trong thời cận đại, chúng ta thấy xuất hiện một chiều hướng mới nơi các dòng tu: dòng tông đồ. Các tu sĩ sống dấn thân vào đời và phục vụ con người.

Từ hoàn cảnh đó, sự ra đời của các dòng tông đồ cũng thay đổi cái nhìn về đời sống khó nghèo. Các dòng đi vào thế giới. Sống khó nghèo cũng có nghĩa là tận tâm với nghề nghiệp, sử dụng tài sản có trách nhiệm, biết để ý tới nhu cầu của người nghèo. Nhìn chung, ở giai đoạn phát triển này của đời tu, người ta nhận thấy có hai ý thức mới trong việc sống khó nghèo của tu sĩ: Thứ nhất, sống nghèo có nghĩa là đồng hóa với dân nghèo, chia sẻ cảnh bấp bênh thiếu thốn của họ. Thứ hai, sống nghèo có nghĩa là dấn thân bênh vực người nghèo, cộng tác vào việc thăng tiến và giải phóng họ khỏi cảnh nghèo.

Đó là cách người tu sĩ hiến thân hoàn toàn cho Thiên Chúa. Dĩ nhiên, đời sống khó nghèo luôn có những đòi buộc. Họ phải nghèo trong thực tế và trong tinh thần để chỉ lo thu tích một kho tàng trên trời (Mt 6,20). Chính các hội dòng cũng nỗ lực làm chứng tập thể về khó nghèo trong môi trường mình sống. Bạn hỏi sống như thế các tu sĩ có khổ lắm không? Thưa, còn đó những thách đố[2], nhưng các tu sĩ tâm niệm lấy Thiên Chúa làm gia nghiệp duy nhất đời mình, nên họ hạnh phúc sống khó nghèo.

Theo đó, người tu sĩ không sử dụng đồ gì như tư hữu. Họ chia sẻ với nhau trong đời sống cộng đoàn, với lối sống tiết kiệm, giản dị và thanh thoát.

  1. Lời khấn khiết tịnh

Phải thú nhận rằng đây dường như là lời khấn thú vị và khó khăn nhất đối với người tu sĩ. Thú vị vì họ dám sống độc thân khiết tịnh vì Nước Trời; khó khăn vì người tu sĩ đâu phải thiên thần, họ có thân xác với những đòi hỏi bản năng của nó. Bởi hiểu “khiết tịnh là nhân đức mà nó kiềm chế, kiểm soát, điều hòa những khao khát, suy nghĩ và hành vi tính dục của chúng ta.”[3] Hơn nữa, khi các tu sĩ khấn khiết tịnh, đương nhiên nó “đòi hỏi sự tiết dục hoàn toàn và vĩnh viễn để tận hiến trọn vẹn con người cho Thiên Chúa và phục vụ tha nhân.” (GLHTCG 2349).

Như bạn đã biết các tu sĩ không có người yêu, không được lập gia đình với một ai đó. Người tu sĩ sống độc thân và chỉ thuộc mình về Thiên Chúa mà thôi. Theo đó, họ cũng giữ mình xa tránh mọi hành vi tự ý chiều theo khoái lạc dục vọng. Điều ấy không phải lúc nào cũng dễ dàng trong thời đại tục hóa và Internet như hiện nay. Tuy nhiên, đó là lời mời gọi liên lỷ của Thiên Chúa dành cho người tu sĩ, bởi họ có Đức Giêsu là mẫu gương khiết tịnh vì Nước Trời. Nghĩa là, Đức Giêsu chỉ thuộc về Chúa Cha, và trái tim người tu sĩ không chia sẻ với ai, ngoại trừ cho Thiên Chúa.

Ý thức được những thách đố của lời khấn này, người tu sĩ cũng xem đó như món quà của Thiên Chúa. Đó là ơn sống khiết tịnh, chứ một mình tu sĩ khó lòng sống trọn vẹn lời khấn này. Do đó, người tu sĩ quý trọng sự khiết tịnh như một ân huệ cao cả của ơn thánh, để hiến thân hoàn toàn cho Thiên Chúa. Có lẽ vì lý do này mà người ta thường gọi là đời sống thánh hiến!

Tuyệt vời biết bao khi trái tim người tu sĩ chỉ dành trọn vẹn cho Thiên Chúa; nhưng qua đó, họ cũng liên kết với mọi người cách sâu xa hơn trong Chúa Kitô. Người tu sĩ đích thực là người yêu thương hết mọi người trong Chúa Giêsu, người tình duy nhất của họ. Để với đời sống khiết tịnh, người tu sĩ có thể làm chứng một cách sống động về hình ảnh Nước Trời, nơi đó không có chuyện dựng vợ gả chồng. (x. Mc 12,18-27).

Nhiều bạn trẻ thấy lời khấn này thách đố quá, đến nỗi khó lòng theo Chúa đến cuối con đường. Bạn đừng quên đời sống hôn nhân cũng đòi hỏi sự khiết tịnh. Chẳng hạn, ngoại tình là đi ngược lại với bí tích Hôn nhân. Bạn có bao giờ hỏi các sơ hay các thầy làm sao chiến đấu với những cám dỗ liên quan đến khiết tịnh chưa? Thực tế người tu sĩ có những phương cách để giữ mình thuộc về Chúa. Chẳng hạn, “Các tu sĩ hãy trung thành với lời tuyên giữ, tin vào Lời Chúa, trông cậy vào ơn Người, đừng tự phụ vào sức riêng mình, lại phải sống hãm mình và gìn giữ ngũ quan.”[4] Rồi họ tập làm chủ những suy tưởng cho tới cái nhìn và trò chuyện để giữ lòng được sạch trong. Bên cạnh đó, họ không tin vào quan niệm: Sự tiết dục trọn vẹn là việc không thể giữ được hoặc có hại cho sự phát triển con người!

Nói chung, khi khấn khiết tịnh, người tu sĩ có Thiên Chúa, có nhà Dòng, có cộng đoàn và có những phương thế để giúp họ vượt qua những khó khăn. Vấn đề là người tu sĩ có để cho những điều ấy trợ giúp mình hay không mà thôi. 

  1. Lời khấn vâng phục

Lạ thay, thánh Tôma Aquinô, Dòng Đaminh chia sẻ rằng: “Trong ba lời khấn tu trì, lời khấn vâng phục là nhân đức lớn nhất.” [5]Để hiểu được điều này, ta thấy “vâng phục là từ bỏ ý riêng mình để vì Chúa mà vâng phục một con người, trong lãnh vực đức trọn lành, qua những gì mà lời truyền dạy đòi hỏi, để trở nên giống Chúa Kitô vốn vâng phục Thiên Chúa Cha cách trọn vẹn.” (Jean Galot SJ).

Một điều rõ ràng là người tu sĩ không chỉ vâng phục bề trên hợp pháp trong đức tin, nhưng quan trọng nhất là họ vâng phục Thiên Chúa. Người tu sĩ lấy ý Thiên Chúa làm gia nghiệp của họ. Vì bề trên là người “thay mặt Thiên Chúa”, nên người tu sĩ noi theo Đức Giêsu, họ sống để thực thi ý Thiên Chúa Cha ngang qua bề trên. Điều này được thể hiện rõ trong từng sứ mạng mà người tu sĩ nhận được từ nhà Dòng. Bạn đừng quên bề trên thực hiện ý của nhà dòng, nhà dòng thực hiện ý của Đức Giáo Hoàng, Đức Giáo Hoàng thực thi ý của Thiên Chúa. Trong mối dây này, những sứ mạng mà người tu sĩ vâng lời đều liên hệ đến ý Chúa Cha.

Bạn nhớ lại thời Cựu Ước dân Chúa cũng có giao ước với Gia-vê. Nếu họ vâng lời Thiên Chúa, cuộc sống của họ sẽ được bình an, đất nước được thái bình. Ngược lại, sự bất tuân khiến biết bao tai họa ập đến trên dân. Do đó, ta thấy vâng lời đã ăn sâu trong lịch sử cứu độ. Rồi đến thời Tân Ước, dân Chúa không chỉ vâng phục “theo lề luật”, mà còn vâng phục trong tình yêu với Thiên Chúa và dấn thân phục vụ tha nhân. Theo đó, hẳn là Thiên Chúa cũng mời gọi người tu sĩ đi vào thái độ vâng phục này. Để làm được điều ấy, người tu sĩ có một cách duy nhất là chiêm ngắm Đức Giêsu đã sống và vâng phục Thiên Chúa Cha như thế nào!

Nhưng thực tế, có khi người tu sĩ lại gặp khó khăn để vâng phục bề trên, vì phải từ bỏ ý riêng của mình. Khi đó, họ được mời gọi đối thoại và cầu nguyện để nhận ra đâu là ý Thiên Chúa. Hơn hết, sứ mạng là quan trọng để họ vâng phục thi hành. Chẳng hạn, Dòng Tên có thêm lời khấn vâng phục Đức Giáo Hoàng, để được sai đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì để tôn vinh Thiên Chúa hơn. Nói chung, các tu sĩ nhờ lời khấn vâng phục mà cống hiến cho Thiên Chúa trọn cả đời trong các sứ mạng trong tinh thần sẵn sàng, đơn sơ, hạnh phúc và bình an.

Tạm kết

Có lẽ bạn thấy rối bời với nhiều thuật ngữ lạ tai, nhiều ý tưởng mới lạ trên đây. Tuy nhiên với người tu sĩ dường như đây là điều rất thân quen. Nếu còn đó những thắc mắc, bạn có thể hỏi bất kỳ người tu sĩ nào, họ có thể chia sẻ với bạn những thú vị về ba lời khấn này. Với chút phân tích, phắc thảo trên đây, hy vọng người trẻ có thể hình dung ra căn tính của đời tu luôn dựa trên ba lời khấn: Khó nghèo, Khiết tịnh và Vâng phục.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Bạn có thể đọc thêm những tài liệu sau trên Internet :

– Hiến chế Tín lý về Hội Thánh (Lumen Gentium)

– Sắc lệnh Canh tân và thích nghi đời sống dòng tu (Perfectae caritatis)

– Chứng tá Phúc Âm (Evangelica testificatio)

– Tông huấn Đời sống thánh hiến (Vita consecrata)

– Tông huấn Hồng ân cứu chuộc (Redemptionis donum)

– Huấn thị Những Chỉ Dẫn Về Việc Huấn luyện Trong Các Dòng Tu (Potissimum institutioni)

[1] Lời khấn là một lời hứa, đã suy xét và tự do đoan thệ với Chúa, tự buộc mình theo đức thờ phượng, vào một việc lành có thể làm và hoàn hảo hơn do hiệu lực đức thờ phượng.  Nội dung của lời khấn là một điều hứa quyết với ý thức, quyết định mình phải làm điều gì và phải tránh điều gì mà ta đã bày tỏ với Thiên Chúa, do đó buộc phải trung thành.

[2] Ví dụ, người tu sĩ sống trong xã hội tiêu thụ, ăn sung mặc sướng v.v.

[3] X. Reverend Peter M.J. Stravinskas, Ph.D. S.T.L. Editor, Catholic Encyclopedia, tr. 205

[4] xem. Sắc lệnh Canh tân và thích nghi đời sống dòng tu (Perfectae caritatis), số 12.

[5] Maximum est  (ST. II a, Ia.186,8).
Dongten,net

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ