Tự Sắc "đời Sống Chung" Của ĐTC Phanxicô Thay Đổi Khoản Luật Sa Thải Tu Sĩ Khỏi Hội Dòng

04 Tháng Sáu 201912:42 SA(Xem: 623)

Tự sắc "Đời Sống Chung" của ĐTC Phanxicô thay đổi khoản luật sa thải tu sĩ khỏi hội dòng

ĐTC gặp các tu sĩ tại LithuaniaĐTC gặp các tu sĩ tại Lithuania  (Vatican Media)
Tự sắc Communis Vita của ĐTC Phanxicô thay đổi khoản luật về việc khai trừ khỏi hội dòng đối với những tu sĩ vắng nhà bất hợp pháp 12 tháng.

Thái Hiệp, SJ dịch

TÔNG THƯ DƯỚI DẠNG “TỰ SẮC” CỦA GIÁO HOÀNG PHANXICÔ

Đời Sống Chung

(Communis vita)

 VỀ MỘT SỐ THAY ĐỔI QUY ĐỊNH CỦA BỘ GIÁO LUẬT

Sống trong cộng đoàn là một yếu tố thiết yếu của đời tu, và “các tu sĩ phải cư ngụ tại nhà dòng của mình, giữ đời sống chung và không được vắng nhà nếu không có phép của Bề Trên” (Bộ Giáo Luật GHCG, 1983, Điều 665 § 1). Thế nhưng, kinh nghiệm những năm gần đây đã cho thấy, có xảy ra những tình trạng liên quan đến việc vắng khỏi nhà dòng một cách bất hợp pháp, trong suốt những lần vắng nhà ấy các tu sĩ đã tự mình thoát ra khỏi thẩm quyền của vị Bề Trên hợp pháp, và đôi khi họ không bị lần ra dấu vết.

Bộ Giáo Luật đòi các vị Bề Trên phải tìm kiếm người tu sĩ vắng mặt bất hợp pháp này, nhằm giúp họ quay trở về và bền đỗ trong ơn gọi của mình (Bộ Giáo Luật GHCG, 1983, Điều 665 § 2). Tuy nhiên, không ít lần Bề Trên không thể tìm được người tu sĩ vắng nhà ấy. Theo như Giáo Luật quy định, trải qua ít là 6 tháng vắng mặt bất hợp pháp (x. Bộ Giáo Luật GHCG, 1983, Điều 696), thì người ta có thể bắt đầu tiến trình sa thải khỏi dòng tu, thể theo thủ tục đã được quy định (Bộ Giáo Luật GHCG, 1983, Điều 697). Thế nhưng, khi bỏ qua nơi chốn mà người tu sĩ cư ngụ, thì việc đưa ra tính chắc chắn pháp lý đối với tình cảnh sự việc lại trở nên khó khăn.

Do đó, giữ nguyên những gì Giáo Luật quy định về việc sa thải sau 6 tháng vắng nhà bất hợp pháp, và nhằm mục đích giúp các hội dòng giữ kỷ luật cần thiết, và có thể tiến hành thủ tục sa thải thành viên vắng mặt bất hợp pháp, đặc biệt là những trường hợp không thể tìm biết đương sự ở đâu, tôi quyết định bổ sung vào điều 694 § 1 của Bộ Giáo Luật GHCG, như sau: trong số các lý do sa thải ipso facto, cũng thêm vào việc vắng nhà bất hợp pháp lâu ngày, phải kéo dài ít nhất là 12 tháng liên tục, với cùng một thủ tục được mô tả trong điều 694 § 2 của Bộ Giáo Luật GHCG. Để có được những hiệu quả pháp lý, tuyên bố về sự việc từ phía Bề Trên thượng cấp phải được Toà Thánh xác nhận; đối với những hội dòng thuộc quyền giáo phận, thì quyền xác nhận này sẽ do vị Giám Mục chính toà.

Ngoài ra, việc giới thiệu khoản mới này tại § 1 điều 694 cũng đòi hỏi phải điều chỉnh điều 729, liên quan đến các tu hội đời, đối với những hội dòng ấy, chưa có dự kiến áp dụng quy định sa thải cho việc vắng mặt bất hợp pháp.

Với tất cả những gì được cân nhắc, nay tôi quy định những điều dưới đây:

I.  Điều 694 trong Bộ Giáo Luật GHCG được thay thế bằng bản văn sau đây:

        § 1. Phải được kể là bị sa thải khỏi hội dòng, vì chính sự việc, người tu sĩ nào:

                1)   chối bỏ hiển nhiên đức tin Công Giáo;

                2)   đã kết hôn hoặc mưu toan kết hôn, dù chỉ là dân sự;

                3)   tự vắng mặt bất hợp pháp khỏi nhà dòng, ứng với những quy định của điều 665 § 2, trong 12 tháng liên tục, và trong tình trạng không thể tìm biết người tu sĩ đó ở đâu.

        § 2. Trong những trường hợp như vậy, không cần trì hoãn, với các chứng cứ được thu thập, vị Bề Trên thượng cấp cùng với vị cố vấn riêng phải đưa ra tuyên bố về sự việc ấy, ngõ hầu việc sa thải được quyết định theo pháp lý.

        § 3. Trong trường hợp được nói ở § 1 số 3, để tuyên bố có tính pháp lý, tuyên bố ấy phải được Toà Thánh xác nhận; đối với những hội dòng thuộc quyền giáo phận thì quyền xác nhận này thuộc về vị Giám Mục chính toà. 

II. Điều 729 của Bộ Giáo Luật GHCG được thay thế bằng bản văn sau đây:

Việc sa thải một thành viên khỏi hội dòng chiếu theo những điều luật 694 § 1, số 1 và 2, và điều 695. Hiến pháp cũng phải quy định những lý do sa thải khác, miễn là các lý do ấy phải nghiêm trọng tương ứng, thuộc toà ngoài, có thể quy trách nhiệm và được chứng minh theo pháp lý, và miễn là phải giữ đúng thủ tục đã được thiết lập trong các điều luật 697-700. Đối với thành viên bị sa thải, sẽ áp dụng quy định tại điều 701.

Bằng việc cân nhắc kỹ lưỡng cùng với Tông Thư dưới dạng Tự Sắc, tôi truyền rằng luật này phải được tuân giữ và có hiệu lực vững chắc, bất chấp mọi điều ngược lại thậm chí đáng đề cập đặc biệt, và điều luật này sẽ được ban hành ngang qua việc đăng tải trên báo Quan Sát Viên Roma (Osservatore Romano), có hiệu lực kể từ ngày 10 tháng 04 năm 2019. Và sau đó, nó được xuất bản trong ấn phẩm chính thức của Công báo Tông Toà (Acta Apostolicae Sedis).

Được ban hành tại Roma, Đền thánh Phê-rô, ngày 19 tháng 03 năm 2019

Lễ trọng kính thánh Giu-se, Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ

Năm thứ VII triều đại giáo hoàng

PHANXICÔ
Đài vatican

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Quý vị và anh chị em đang theo dõi Lễ Tuyên Thánh cho 5 vị Chân Phước diễn ra tại quảng trường Thánh Phêrô vào sáng Chúa Nhật 13 tháng 10, tức là Chúa Nhật thứ 28 mùa Thường Niên trong khuôn khổ Thượng Hội Đồng Toàn Vùng Amazon. Bây giờ là gần 10h sáng. Chúng tôi ghi nhận hàng trăm ngàn tín hữu đang đứng chật quảng trường Thánh Phêrô để tham dự thánh lễ long trọng này.
Nhiều tập tài liệu do Hội Giáo hoàng Truyền giáo gửi đến các giáo phận và giáo xứ để cổ động cho “tháng 10 truyền giáo”? Tại sao tháng 10 gọi là tháng “truyền giáo”? Tháng 10 không phải là tháng dành kính Đức Mẹ Mân côi hay sao? Việc dành tháng 10 làm “tháng truyền giáo” là một sáng kiến của Hội Truyền bá đức tin ở Italia, và có lẽ chỉ mới được quảng bá trong một vài quốc gia mà thôi. Nói chung, tại nhiều nơi trên thế giới, tháng 10 được dành kính Đức Mẹ Mân côi. Tuy lúc đầu là một sáng kiến cá nhân, nhưng kể từ năm 1883 (thông điệp Supremi apostolatus) đức thánh cha Lêô XIII đã chính thức phê chuẩn tập tục dâng kính tháng 10 để đọc kinh Mân côi. Nhiều vị giáo hoàng cũng xác nhận tập tục đó.
PGS.TS. Nguyễn Tấn Hùng, Đại học Đà Nẵng Tạp chí Triết học số 01 tháng 01 -2010 - Bài viết của tôi “Về một số thuật ngữ triết học, chính trị-xã hội có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài” đăng trên Tạp chí Triết học, số 4, 4-2009 đã được một số trang web đăng lại. Bài viết đã nhận được nhiều ý kiến nhận xét của độc giả, khen nhiều nhưng chê thì cũng có. Nhìn chung các độc giả hoan nghênh và khuyến khích tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề này. Trong bài viết này tôi đi sâu hơn về các thuật ngữ chỉ tên và hình thức nhà nước; cách đặt tên của các học thuyết, trường phái, qua đó làm rõ nguồn gốc của chúng, chỉ ra một số bất cập trong việc phiên dịch các thuật ngữ này trong tiếng Việt. Tuy biết rằng không thể thay đổi những thuật ngữ đã quá quen thuộc trong tiếng Việt, nhưng việc tìm hiểu nguồn gốc,
Để kết thúc những những bài thuyết trình của khóa bồi dưỡng lần trước, một người Pháp được mời để nói về Việt Nam. Việc làm này thật là tham vọng và có vẻ như là không phù hợp. Đáng lẽ ra, nên mời một người Việt, vì chỉ người này mới biết rõ tình trạng xã hội địa phương và có khả năng ngôn từ diễn tả tốt hơn.
Chúng tôi xin trình bày bốn điểm: 1/ Khái niệm, xét theo ngôn ngữ thông thường và trong lịch sử đời tu. 2/ Kinh thánh. 3/ Giá trị. 4/ Thực hành. I. Ý nghĩa Có người định nghĩa “khó nghèo” là “khó mà nghèo”. Thiết tưởng điều khó khăn không chỉ nằm ở chỗ thực hành, mà ngay từ quan niệm: Nghèo là gì ? Thế nào là nghèo ? Tại sao phải sống nghèo ? Trước hết, chúng ta hãy điểm qua vài ý niệm sơ đẳng về cái nghèo. Kế đó, chúng ta sẽ rảo qua những quan niệm khác nhau của các Dòng tu về lời khuyên nghèo khó.
Trải qua lịch sử tu trì trong Giáo hội, ta thấy có rất nhiều hình thức thực hiện việc cầu nguyện, sự khó nghèo, sự tuân phục, đời sống cộng đồng. Tuy nhiên, tính cách đa dạng xem ra không áp dụng cho vấn đề khiết tịnh: thực vậy, phàm ai đã đi tu thì phải khước từ hôn nhân. Nghĩa vụ tối thiểu này bó buộc tất cả các tu sĩ thuộc bất cứ Dòng nào. Tuy nhiên, nếu nhìn dưới nghĩa vụ pháp lý thì lời khuyên khiết tịnh quả là bất biến trải qua giòng lịch sử; nhưng nếu xét tới các động lực và lý thuyết thì nói được là khá đa dạng.
Chúng ta đã điểm qua những văn kiện của Giáo hội về đời sống tu trì. Lý tưởng đời tu được định nghĩa qua ba thuật ngữ: đi theo Đức Kitô, thánh hiến, đặc sủng. Ba thuật ngữ này dựa trên căn bản của Tân ước, nhắm nêu bật mối tương quan giữa đời tu trì với Thiên Chúa Ba ngôi: Thiên Chúa kêu gọi con người hãy theo gương Đức Kitô dâng hiến trót đời để phụng sự Nước Trời; con người ý thức ơn gọi ấy và đáp trả nhờ đặc sủng của Thánh Linh. Lý tưởng tổng quát được diễn tả cụ thể qua việc tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm. Đây là đặc trưng của sự thánh hiến của các tu sĩ, khác với những sự thánh hiến khác trong Giáo hội, như tông huấn Vita consecrata đã trình bày ở số 30. Nói khác đi, ba lời khuyên Phúc âm là yếu tố cốt yếu của đời thánh hiến.
L.M. Gustavo Gutierrez O.P. (Trích Thời sự Thần học, số 56, tháng 5/2012) Trong bài này, cha Gustavo Gutierrez phân tích quan điểm “lựa chọn người nghèo” từ ba khía cạnh: tâm linh, thần học và loan báo Tin mừng. Nguồn: “The option for the poor arises from faith in Christ” in: Theological studies, 70(2009) 317-326. Bản dịch tiếng Việt của Phêny Ngân Giang. Những chú thích của tác giả được đặt ở cuối bài (endnote), những chú thích của dịch giả được đặt ở cuối trang (footnote). ————————– Vào tháng 5 năm 2007 đã diễn ra Hội nghị các Giám mục Châu Mỹ Latinh và Caribê lần thứ năm tại Aparecida, Brazil. Đại hội này đã nhiều lần khẳng định tiếp tục đường hướng mục vụ và thần học đã được mở ra trong những năm của Công đồng Vaticanô II và Hội nghị các Giám mục lần thứ hai họp tại Medellín, Colombia (1968).
Trung tâm hành hương đền thánh Đức Mẹ Mễ Du, và những bước nghiên cứu để tiến tới tuyên bố chính thức của Tòa Thánh về tính chất siêu nhiên của các cuộc hiện ra Ngọc Yến - Vatican
Giuseppe Ferraro SJ Có hai lý do thúc đẩy tôi tìm hiểu đề tài này. Thứ nhất là ngày nay từ “linh đạo” (spiritualità) được sử dụng khá nhiều với những nghĩa khác nhau và cần phải xác định từng lần một. Thật vậy có nhiều thứ linh đạo, thường là quy chiếu về các vị thánh lớn, đặc biệt là các vị sáng lập các dòng tu, hoặc quy về các dòng tu ấy, hoặc về các trường phái linh đạo diễn tả các dòng tu ấy
Bảo Trợ