Không Sợ Thâm Thủng Mậu Dịch

14 Tháng Ba 201911:49 CH(Xem: 567)

Không sợ thâm thủng mậu dịch

Ngô Nhân Dụng

blank
Thêm chú thích
Nước Mỹ vẫn nhập cảng nhiều, nếu không mua từ Trung Quốc thì cũng mua của nước khác. Trong hình, một tàu container cập cảng tại Thanh Đảo thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Xuất cảng của Trung Quốc sang Hoa Kỳ đã giảm 14.1% so với một năm trước đó. (Hình: Chinatopix via AP, File)

blankKết thúc năm 2018, số khiếm hụt mậu dịch của nước Mỹ là $621 tỷ, tăng thêm $70 tỷ, tức 12.5% so với năm 2017. Khiếm hụt mậu dịch là khác biệt khi tổng số tiền chi ra mua hàng nhập cảng cao hơn tiền thâu vào nhờ xuất cảng.

Riêng với Trung Quốc, mức thâm thủng lên tới $419 tỷ, tăng thêm $44 tỷ. Chính phủ đánh đòn thuế quan và Trung Cộng trả đũa; nhưng số hàng Mỹ nhập cảng vẫn tăng thêm 11.3%, còn hàng bán qua Trung Quốc chỉ tăng 0.7%.

Trước những con số đó, nhiều người Mỹ lo lắng. Nước Mỹ đang thua nước Tàu trong cuộc chiến tranh thương mại này chăng?

Không có gì đáng lo. Người ta sẽ không lo sợ khi biết những lý do nào đưa tới khiếm hụt mậu dịch.

Thứ nhất, trong năm 2018 kinh tế Mỹ vẫn phát triển mạnh hơn trong khi Trung Quốc đi chậm lại. Kinh tế lên là một tin mừng cho dân Mỹ. Họ nhiều tiền hơn, tiêu thụ nhiều hơn. Tổng Thống Donald Trump đánh thuế quan 10% trên $250 tỷ hàng nhập cảng từ Trung Quốc, giá bán những món hàng đó tăng. Nhưng người tiêu thụ ở Mỹ chưa giảm bớt việc mua sắm, vì lợi tức của nhiều người cũng tăng nhờ kinh tế lên. Ngược lại, dân Trung Hoa lo sắp mất việc hoặc lợi tức sụt giảm, họ chi tiêu dè sẻn hơn. Lý do chính khiến Trung Quốc có thể bán hàng giá rẻ là người lao động ở bên đó lãnh lương rất thấp. Bây giờ họ lại còn lo lắng cho tương lai khi thấy kinh tế chậm lại; các xí nghiệp và các ông bà chủ cũng lo, cho nên cả nước bớt nhập cảng.

Hơn nữa, một nguyên nhân chính gây ra khiếm hụt thương mại của Mỹ là dân Mỹ tiết kiệm rất ít. Từ bao lâu nay vẫn như thế rồi. Một dấu hiệu hiển nhiên cho thấy Mỹ tiết kiệm ít, chi tiêu nhiều, là số khiếm hụt ngân sách. Chính phủ Mỹ chi ra nhiều hơn số thâu vào. Phòng Ngân Sách Quốc Hội Mỹ (CBO) ước tính trong năm 2019 ngân sách chính phủ sẽ thâm thủng $900 tỷ. Năm 2016 số khiếm hụt chỉ có $620 tỷ, tăng gần một nửa trong ba năm.

Khiếm hụt ngân sách lên cao phần lớn là do đạo luật cắt giảm thuế cho các công ty và những người có lợi tức cao trong năm 2017. Đạo luật này cũng góp phần làm khiếm hụt mậu dịch lên theo, vì khi người ta đóng thuế ít hơn thì họ cũng dư tiền để tiêu thụ nhiều hơn, kể cả hàng nhập cảng.

Yếu tố thứ ba làm cho Mỹ khiếm hụt mậu dịch nhiều hơn là đồng đô la tăng thêm giá trị so với đồng tiền các nước khác. Chẳng hạn, khi đô la lên giá so với đồng bạc Việt Nam, một đô la có thể mua được nhiều hàng từ Việt Nam hơn. Cùng lúc đó, một đồng Việt Nam mua được ít hàng của Mỹ hơn. Tự nhiên là Mỹ sẽ nhập cảng thêm còn Việt Nam bớt mua hàng Mỹ, con số khiếm hụt mậu dịch của Mỹ sẽ tăng.

Giữa tiền Mỹ và tiền Trung Quốc thì tỷ lệ trao đổi hơi phức tạp. Chính phủ Mỹ, từ nhiều đời tổng thống, vẫn tố cáo chính quyền Cộng Sản Trung Hoa cố ý dìm giá đồng nguyên của họ xuống, để hàng hóa của họ hạ giá khi tính ra Mỹ kim, sẽ bán được nhiều hơn. Họ giữ hối suất giữa hai thứ tiền cố định, không để thị trường tự do lên xuống.

Trung Cộng làm cách nào giữ cho hối suất thấp cố định theo ý họ muốn, thí dụ, một đô la ăn 6.1 đồng nguyên? Họ đem đồng nguyên đi mua đô la, ngày càng mua nhiều. Trong thị trường cái gì nhiều người mua thì lên giá, nhiều người đem bán thì giá xuống. Trung Cộng mua đô la về rồi đem mua công trái, giấy nợ của chính phủ Mỹ, tức là đem tiền cho Mỹ vay. Vì vậy, nước Tàu trở thành chủ nợ lớn nhất của Washington. Tháng Chín, 2018, chính phủ Mỹ nợ Tàu $1,150 tỷ, bằng 18% tổng số nợ Mỹ nợ nước ngoài.

Các chính quyền Mỹ từ nhiều đời tổng thống vẫn đòi Trung Cộng phải nâng giá trị đồng nguyên so với đô la; nói rằng họ ấn định hối suất thấp quá. Người Mỹ tính hối suất đồng nguyên giả tạo thấp hơn 15% đến 40% so với giá thật, nếu được trao đổi tự do trong thị trường.

Nhưng điều này chỉ đúng hồi đầu năm 2000. Năm 2006, Bộ Trưởng Tài Chánh Mỹ Hank Paulson đã ép Trung Cộng phải chịu tăng giá trị đồng nguyên thêm 2% đến 3% một năm, liên tiếp trong ba năm. Nhưng sau đó giá trị của đồng đô la tăng lên đều đều, so với mọi thứ tiền tệ khác. Trong ba năm, từ 2013 đến 2015, đồng đô la lên giá thêm 25%.

Khi đô la tăng giá, đồng nguyên cũng tăng theo vì dính vào hối suất cố định. Hậu quả là giá đồng nguyên lên cao so với tiền tệ các nước khác, nhất là vùng Đông Nam Á. Nghĩa là, khi tính ra Mỹ kim, hàng hóa Trung Quốc tự nhiên tăng giá so với hàng các nước đang cạnh tranh với họ.

Trung Cộng lo ngại, từ năm 2015 đã thay đổi, không áp đặt đồng nguyên một giá cố định so với đô la nữa. Ngay sau đó, giá trị đồng nguyên đã tụt xuống trên thị trường tiền tệ thế giới! Nhờ thế, hàng Trung Quốc lại giảm giá, và xuất cảng dễ hơn.

Nhiều người lại lo chính quyền Trung Cộng cho Mỹ vay nhiều quá, nếu đòi hết nợ ngay thì sao? Muốn “đòi nợ” họ chỉ có một cách là đem bán các công trái Mỹ trên thị trường thế giới. Nhưng hành động đó không ích lợi.

Khi một món gì được đổ ra bán nhiều quá tức là món đó ế ẩm, giá xuống thấp. Chính Trung Cộng sẽ thiệt, vì các công trái Mỹ họ đang bán bị tụt giá! Một hậu quả khác là khi chính phủ Mỹ muốn bán thêm công trái thì sẽ phải trả lãi suất cao hơn mới lôi cuốn được nước khác mua. Hệ quả là lãi suất ở nước Mỹ sẽ tăng lên, có thể làm cho kinh tế Mỹ suy thoái. Nhưng nước Mỹ mà nghèo đi thì Trung Cộng không có lợi gì, vì dân Mỹ sẽ bớt nhập cảng! Cho nên Trung Cộng không bao giờ tính đem công trái Mỹ đi bán hàng loạt..

Nhưng nếu nước Mỹ cứ chịu cảnh khiếm hụt mậu dịch khi mua bán với Trung Quốc thì tiền của Mỹ cứ thế chạy sang bên Tàu, chẳng phải là thiệt hại cho dân Mỹ hay sao? Phần lớn người ta suy nghĩ giản dị như thế này: Nước Mỹ nhập cảng nhiều hơn xuất cảng, chênh lệch tới $620 tỷ, tức là năm ngoái dân Mỹ đã “bị mất” $620 tỷ cho nước khác, $419 tỷ vào tay người Tàu!

Nhưng sự thật không phải như vậy. Trong giao dịch thương mại và tài chánh thế giới, số tiền ra và tiền vào một quốc gia bao giờ cũng cân bằng. Người Mỹ đem tiền trả cho nước khác khi nhập cảng thì lại có một dòng tiền từ các nước khác đổ vào nước Mỹ. Dòng tiền vào Mỹ dưới hình thức cho vay, đầu tư trong chứng khoán, mua bất động sản hoặc các cơ sở làm ăn. Nhiều người muốn đầu tư vào nước Mỹ chứng tỏ là kinh tế Mỹ mạnh nên hấp dẫn họ!

Tổng Thống Donald Trump đang lạc quan tin rằng sẽ thỏa hiệp với Chủ Tịch Tập Cận Bình để Trung Cộng mua nhiều thứ của Mỹ hơn, từ nông sản đến dầu, khí và máy bay. Cam kết này sẽ giúp cho số thâm thủng mậu dịch của Mỹ giảm bớt, nhưng chỉ trong ngắn hạn. Nước Mỹ vẫn nhập cảng nhiều, nếu không mua từ Trung Quốc thì cũng mua của nước khác. Vì khi nào dân Mỹ chưa tiết kiệm nhiều hơn, bớt tiêu thụ đi, ngân sách chính phủ Mỹ cứ thiếu hụt năm này qua năm khác, thì nước Mỹ sẽ tiếp tục thâm thủng mậu dịch.

Nhưng mậu dịch khiếm hụt là một thứ “xa xỉ phẩm” mà chỉ một nước giàu như Mỹ mới được hưởng. Vì kinh tế Mỹ mạnh nên tiền vốn từ các nước khác đổ vào nước Mỹ. Người Mỹ tiết kiệm ít thì đã có tiền từ các nước khác bù vào. Người nước khác tiết kiệm nhiều hơn nhưng thiếu cơ hội đầu tư nên họ đem qua Mỹ.

Dân Trung Quốc bị chính quyền bắt buộc phải tiết kiệm mà không biết, khi họ được trả lương rất thấp. Những đồng đô la đem được về nước Tàu nhờ xuất cảng thì được dùng để nuôi bộ máy cai trị của đảng Cộng Sản, thay vì tăng lương cho công nhân. Trong khi đó, dân Mỹ được trả lương cao nên tiêu xài thong thả. Số tiền tiết kiệm để đầu tư nếu có thiếu thì đã có người nước khác đem tới.

Nếu được lựa chọn thì người ta thích làm dân Mỹ hay dân Tàu? 
Ngô Nhân Dụng - NV

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
ngày 9 Tháng Mười Một năm nay, kỷ niệm 30 năm bức tường Berlin bị giật sập, chúng ta nhớ lại một câu nói vĩ đại của Tổng Thống Mỹ Ronald W. Reagan: “Tôi có một câu hỏi cho các nhà lãnh đạo ở các nước chủ nghĩa cộng sản: nếu chủ nghĩa cộng sản có tương lai, tại sao mấy ông cần phải xây dựng những bức tường để giữ mọi người lại và dùng quân đội, cảnh sát chìm để bắt mọi người im lặng?”
Trung Quốc là một quốc gia vừa rộng lớn vừa có tiềm lực kinh tế mạnh, tuy nhiên phẩm chất quốc gia không thể hiện ở những điều đó. Khi ứng xử trong mâu thuẫn với quốc gia khác hoặc với chính dân chúng của mình, chính quyền Trung Quốc đã định nghĩa bản thân hoàn toàn khác. Chăm lo cho đời sống nhân dân, trong đó có việc duy trì đạo đức, định hướng phát triển văn hóa là một mục đích tồn tại của các chính quyền.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một số văn nghệ sĩ miền Nam tiếp tục có những nỗ lực nhằm duy trì những giá trị của nền Văn học - Nghệ thuật miền Nam mà từng có ý kiến cho là ‘độc hại, đồi trụy’ và từng bị cấm đoán. Nhà thơ Hoàng Hưng, từng đi tù hơn 3 năm với tội danh bị áp là "lưu truyền văn hoá phẩm phản động" chỉ vì mang theo trong người tập thơ của nhà thơ Hoàng Cầm vào năm 1982 khẳng định Văn học - Nghệ thuật tại miền Nam trước 1975 là một bộ phận của thành tựu văn học Việt Nam.
Le Monde trong loạt bài về sự thay đổi của thế giới từ 1989 đến 2019, đề cập đến « Sự báo thù của Trung Quốc ». Năm 2008, Bắc Kinh phô trương thành tựu về kinh tế cho toàn thế giới nhân Thế vận hội, và từ 2012, Tập Cận Bình tranh giành với Hoa Kỳ vị thế hàng đầu về công nghệ, đồng thời củng cố quyền lực. Lâu nay châu Âu và Hoa Kỳ vẫn có cái nhìn khoan hòa và lạc quan về một Trung Quốc đang trỗi dậy, chấp nhận cho Bắc Kinh gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tổng thống Mỹ Bill Clinton tin rằng kinh tế thị trường và internet sẽ mang lại dân chủ cho người dân Hoa lục.
Đường phố tràn ngập người Đông Berlin sang thăm người Tây Berlin, đi qua lại cửa khẩu biên giới được mở ra trên Bức tường Berlin (ảnh: The LIFE Images Collection/Getty Images/Chris Niedenthal). Bức tường Berlin sụp đổ 30 năm về trước, vào ngày 9/11/1989. Đó là một khoảnh khắc gây chấn động thế giới và đánh dấu sự khởi đầu của kết thúc Chiến tranh Lạnh – cực điểm là lật đổ chế độ độc tài Đông Đức, thống nhất nước Đức vào năm 1990 và sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991. Nhưng câu chuyện về “Mauerfall” – cách mà người Đức nói đến Sự sụp đổ Bức tường Berlin – phức tạp và sâu sắc hơn nhiều so với sự hồi tưởng ngày nay.
Báo chí Pháp hôm nay dành nhiều bài vở để nói về dịp 30 năm Bức tường Berlin chia rẽ Đông – Tây sụp đổ, ngày 09/11/1989, mở đầu cho sự chấm dứt của kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh. Sự kiện thì chỉ có một, nhưng có rất nhiều đánh giá khác nhau. Les Echos ghi nhận: Berlin kỉ niệm 30 năm trong không khí trầm lắng, trong bối cảnh cách biệt giữa hai miền nước Đức còn rất lớn. Libération nhấn mạnh : Chiến tranh Lạnh chấm dứt không hề đồng nghĩa với việc Lịch sử cáo chung, như một số tiên đoán, mà là sự lên ngôi của ''các hình thức thống trị mới'' trên phạm vi toàn cầu.
Tại phiên báo cáo công tác của cơ quan tư pháp trước Quốc hội, diễn ra trong ngày 4 tháng 11, Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái trình bày báo cáo năm 2019 với ghi nhận rằng công tác phòng chống tham nhũng dù đạt đạt kết quả tích cực, tuy nhiên vẫn xảy ra tình trạng một số cán bộ thuộc cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan phòng chống tham nhũng lại có hành vi tham nhũng, gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Các hành vi bức hiếp láng giềng của Bắc Kinh không chỉ được thấy trên các vùng biển bao quanh Trung Quốc, mà còn thể hiện trên đất liền, với việc khống chế nguồn nước của các con sông tỏa ra khắp khu vực. Trong bài phân tích “Trung Quốc biến nguồn nước thành vũ khí, gây thêm hạn hán ở châu Á - China is weaponizing water and worsening droughts in Asia”, công bố ngày 28/10/2019 vừa qua trên tờ báo Nhật Bản Nikkei Asian Review, giáo sư Ấn Độ Brahma Chellaney đã vạch trần thủ đoạn của Trung Quốc, lợi dụng vị trí đầu nguồn các con sông chảy qua các nước khác, ồ ạt xây đập để biến nguồn nước thành công cụ gây sức ép chính trị, với hệ quả là làm cho nạn hạn hán ở châu Á thêm nghiêm trọng.
Giới thanh niên đang đứng dậy đấu tranh khắp thế giới; ngay tại những nước độc tài khét tiếng như Egypt, Saudi Arabia. Những cuộc biểu tình chống chế độ của giới trẻ đều bộc phát, không thể đoán trước. Và thường bắt đầu từ những biến cố nhỏ. Các cuộc biểu tình đã đạt được những mục tiêu đầu tiên, như ở Hồng Kông, Ecuador, Chile, Lebanon… dù chưa thành công hoàn toàn. Nhưng sau khi tập hợp xuống đường người ta mới thấy những vấn đề lớn lâu nay vẫn bị chìm lấp có cơ hội nổi bùng lên. Cuộc tranh đấu vẫn tiếp tục.
Benge cáo buộc, sau năm 1975, Việt Nam từng gửi hàng trăm ngàn người đi làm thuê tại Liên Xô và các quốc gia cộng sản ở Đông Âu để khấu trừ những khoản đã vay để tiến hành cuộc chiến “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, từ chỗ đưa người Việt đi làm thuê để trả nợ, chính quyền Việt Nam tiến thêm một bước, tổ chức bán sức lao động của người Việt để kiếm ngọai tệ, kể cả làm ngơ, dung túng cho việc bán phụ nữ và trẻ em làm nô lệ tình dục.
Bảo Trợ