Cha Xứ Và Con Chiên

14 Tháng Ba 20194:15 SA(Xem: 1778)

Cha xứ và con chiên

blank

Có lẽ không hình ảnh nào đẹp bằng người chăn chiên và đàn chiên khi nói về tương quan giữa cha xứ và giáo dân. Bởi thế trong khi rao giảng Nước Trời, Đức Giêsu thường ví mình là mục tử tốt lành, và những người tin theo Người là những con chiên cần được bảo vệ chăm sóc. Chính Đức Giêsu đến để cho từng con chiên được sống và sống dồi dào. (Ga10, 10). Rồi sau khi về trời, Đức Giêsu trao đoàn chiên là Giáo Hội cho các Tông đồ tiếp tục sứ mạng ấy. Lời căn dặn của Đức Giêsu dễ thương và quan trọng vô cùng. Thương vì trước khi trao sứ mạng, Đức Giêsu hỏi ông Phêrô đến ba lần “con có yêu mến Thầy không?”, sau ba lần ông thưa có, Đức Giêsu tin tưởng trao cho ông sứ mạng: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy.” (Ga21, 15-17). Bởi đó sau này người ta thường gọi những người tin theo Đức Giêsu là những con chiên. Quan trọng vì đó là chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Nhiều bạn trẻ thắc mắc sao lại lấy hình ảnh con chiên để biểu tượng cho giáo dân? Trước hết, giáo dân là những ai đã lãnh nhận bí tích rửa tội, nhưng không chịu chức thánh, họ ở trong Hội Thánh và tin vào Thiên Chúa. Giáo sĩ hay linh mục (mục tử) là những người có chức thánh. Cũng giống như người Việt vốn là “con rồng, cháu tiên”, người giáo dân là “con chiên, đàn chiên của Chúa”.

Nếu các bạn có dịp đi đến Đất Thánh, nơi đó chúng ta dễ bắt gặp những người chăn chiên và những đàn chiên. Con chiên thuộc vào loài động vật hiền từ và luôn nghe theo tiếng chủ. Chúng hiền đến nỗi dễ bị sói giữ rình rập ăn thịt. Bởi đó, vai trò của người chăn chiên hay mục tử thật quan trọng biết bao. Không chỉ bảo vệ, người mục tử biết chỗ nào có đồng cỏ xanh, suối nước mát để dẫn đàn chiên của mình đến nghỉ ngơi. Từ thời xa xưa trong Cựu Ước, dân Do Thái xem Đức Chúa như là mục tử chăn dắt họ, và họ không còn thiếu thốn chi. (Tv 22).

Một hình ảnh thật đẹp khi ta có dịp về những làng quê Công giáo Việt Nam, nơi đó có người mục tử và đoàn chiên. Con chiên luôn tin tưởng và cộng tác với mục tử của Chúa để làm cho đoàn chiên ngày càng lớn mạnh. Họ đoàn kết và yêu thương nhau, nhờ đó con chiên có sức chống lại những bách hại của thế lực bài xích đạo. Chúng ta xúc động nghe lại câu nói của Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp trước quan lính: “Tôi sống giữa đàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đàn chiên, không đi đâu cả”. Đức Giêsu, vị mục tử tốt lành luôn cần những mục tử như thế, dám hy sinh mạng sống để cho chiên được sống dồi dào.

Đó là câu chuyện của nhiều năm về trước, của thế hệ ông bà chúng ta. Hoàn cảnh hôm nay dường như khác xưa rất nhiều. Người mục tử cần tìm nhiều cách thế phù hợp để chăm sóc con chiên của mình. Số là đoàn chiên sống giữa nền kinh tế trị trường, giữa thế giới phẳng, nên không thể quy tụ thành một đoàn nhỏ hẹp nơi giáo xứ mình nữa. Người trẻ theo dòng người tha phương kiếm sống, để lại nơi nhiều giáo xứ thôn quê người mục tử cùng với người già và trẻ em. Từ đó, dường như mọi sinh hoạt giáo xứ cũng khó khăn. Khi con chiên ra khỏi môi trường xóm đạo, đương nhiên họ sẽ gặp những thách đố trong đời sống đức tin. Cuộc sống xô bồ cướp mất thời gian để con chiên phụng thờ Thiên Chúa. Không ít bạn trẻ như những con chiên đi lạc giữa cuộc sống thị thành. Đó là thực trạng luôn khiến các mục tử của Chúa canh cánh trong lòng. Làm sao để giúp cho con chiên xa xứ luôn có được sức sống thần linh?

Trước câu hỏi trên đây, như Giáo Hội mời gọi: “Người giáo dân có ơn gọi sống dấn thân trong đời sống xã hội để làm cho Nước Thiên Chúa lớn mạnh nơi trần thế.” Hơn nữa, Giáo Hội nhắc nhở những người trẻ cần suy nghĩ đến địa vị, vai trò mà Thiên Chúa muốn họ phải đảm nhiệm trong Giáo Hội. Thiết tưởng dù sống nơi đâu, họ luôn có giáo xứ để tìm về, để sinh hoạt. Xin đừng sợ những linh mục của Chúa. Một trong những nhu cầu của con người là thuộc về một nhóm nào đó. Khi tách ra khỏi giáo xứ, người trẻ có nguy cơ bơ vơ đến khủng hoảng trong đời sống đức tin. Tôi biết không ít bạn trẻ chẳng màng gì đến đạo nghĩa. Họ để Thiên Chúa ở lại nhà xứ. Dĩ nhiên vắng Chúa, vắng mục tử, họ quay cuồng mất định hướng trong chốn thị thành. Ước gì người trẻ chúng ta đừng rơi vào con đường ấy. Ngược lại mình cần giữ liên lạc với vị mục tử để được chăm sóc chở che. 

Hơn nữa, là mục tử tốt lành, các ngài muốn chăm sóc đời sống thiêng liêng của con chiên. Về phần các linh mục, chúng ta thấy các ngài đã, đang và sẽ có nhiều sáng kiến để giúp đoàn chiên của mình. Có lần ĐTC Phanxicô “yêu cầu những mục tử hãy mang nặng mùi con chiên của mình”. Để được như thế, mục tử phải là con người của cầu nguyện, có kinh nghiệm về Thiên Chúa để hướng dẫn đoàn chiên đến với nguồn sống là Đức Giêsu. Hơn nữa, trong hoàn cảnh hiện nay, nhiều người cần mục tử nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực của Lời Chúa, của bí tích và ủi an.

Con chiên cần những mục tử có trái tim đồng cảm và lắng nghe. Hơn nữa, con chiên phấn khởi khi nghe ĐTC Phanxicô chia sẻ với những mục tử của thời đại hôm nay với những cụm từ đầy ý nghĩa: cầu nguyện, tiến bước, chia sẻ, đừng khó tính, giảng ngắn lại, nên linh mục đường phố, gần gũi với những người trẻ, nên khí cụ của lòng thương xót của Thiên Chúa. Tóm lại, người mục tử lý tưởng theo Đức Thánh Cha Phanxicô là “người gần gũi với dân chúng, là người cha, người anh em, với sự hiền dịu, kiên nhẫn và thương xót. Là những người yêu sự khó nghèo, sự khó nghèo nội tâm như sự tự do trước mặt Chúa, cũng như sự khó nghèo bên ngoài như sự đơn sơ và khắc khổ của cuộc sống.”

Như thế thật thách đố cho cả con chiên và mục tử biết bao. Nhưng nhờ ơn Chúa và nỗ lực của con người, chúng ta ước mong Giáo Hội luôn có nhiều mục tử tốt lành và đoàn chiên có nhiều sức sống.  

 Giuse Phạm Đình Ngọc SJ
Dongten VN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tiếp tục loạt bài giáo lý về cầu nguyện, trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến vào sáng thứ Tư 05/05, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trình bày về đề tài chiêm niệm. Theo ngài, không có đối nghịch giữa cầu nguyện và hành động. Trong Tin mừng chỉ có một tiếng gọi duy nhất, đó là theo Chúa trên con đường tình yêu. Bác ái và chiêm niệm đồng nghĩa với nhau. Hồng Thủy - Vatican News
Trong buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng ngày 14/4/2021, tiếp tục bài giáo lý về việc cầu nguyện của người Kitô hữu, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích rằng lời cầu nguyện thuộc về chính bản chất của Giáo hội;nếu thiếu cầu nguyện thì Giáo hội không thể thực hiện sứ mệnh truyền giáo và phục vụ người khác. Hồng Thủy - Vatican News Trong bài giáo lý tại buổi tiếp kiến chung trực tuyến sáng thứ Tư 14/04 Đức Thánh Cha suy tư về vai trò của Giáo hội như trường học tuyệt vời của việc cầu nguyện. Bắt đầu từ cha mẹ chúng ta, những người dạy chúng ta cầu nguyện, gieo vào tâm hồn chúng ta hạt giống được chín mùi qua đời sống của Ki-tô hữu. Bên cạnh đó, gương sáng của những tín hữu sống đức tin, việc tham dự vào đời sống của giáo xứ và Thánh lễ, giúp chúng ta không chỉ phát triển đời sống cầu nguyện ở mức độ cá nhân nhưng còn được đón nhận di sản cầu nguyện và tu đức phong phú của Giáo hội.
Chợt Ngài bỗng kêu lên một tiếng lớn rồi tắt thở! Thân xác Ngài rũ xuống, thập giá rung lên nhè nhẹ! Chiều đang dần tàn, cảnh hoàng hôn thật thê lương trong ráng chiều màu tím thẫm ảm đạm! Post 30 Tháng Ba 2013(Xem: 3284)/10 Tháng Tư 202011:00 SA(Xem: 4361)
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao. Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra gì. Không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đã kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
“Thì giờ hay đời sống là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho mỗi người chúng ta. Đời sống quý vì nó đến từ chính Chúa là Đấng Tạo Hóa.” Đời sống thật mong manh và ngắn ngủi. Con người sống đó rồi chết đó cũng mấy hồi. Bởi vậy, con người quy về Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc. Tiền bạc quan trọng nhưng không là tất cả. Quyền lực, thú vui rồi cũng chỉ là cát bụi mà thôi. Vì thế, một nhạc sĩ đã từng cảm nhận: “Làm con người trong cuộc đời được bấy nhiêu năm. Ai vốn giàu sang, ai vốn kiếp bần hàn, ai giãi dầu một nắng hai sương, mai lìa đời nhắm mắt xuôi tay. Đua đòi nhiều chỉ khổ thêm thôi”. /post 19 Tháng Tám 2012(Xem: 7000) Tâm Thương - TgpSaigonnet/
Nếu vào một ngày nào đó tôi không còn sống nơi trần gian này nữa, thì những đứa trẻ vẫn lần lượt lớn lên, người thân người thương của tôi họ vẫn ăn, vẫn uống và làm việc theo lẽ sinh tồn, những ngôi nhà, con đường tôi quen thuộc bỗng chốc trở nên xa lạ, mặt trời vẫn giải nắng trên đồng cỏ xanh và cơn mưa vẫn tưới mát trên những thửa ruộng khô cằn… Không gian yên tĩnh ngày nào chẳng còn, khi người viếng, kẻ thăm, người khóc, kẻ cười,… tạo nên khung cảnh bi đát, chua xót và đau thương. Thân xác tôi vẫn nằm đó chẳng cử động hay nhúc nhích, chẳng thở than hay kêu gào mặc cho lũ ruồi muỗi đậu bay. Người ta thức cố thức tôi dậy sau giấc ngủ dài nhưng kết quả nhận được là sự thinh lặng chẳng một lời hồi âm phát ra. Tôi biết và tôi cố gồng mình ngồi dậy để an ủi những người thân đang ngồi than khóc, nhưng bàng hoàng chợt nhận ra tôi đã chết rồi!
Bảo Trợ