Vấn Nạn Cho Phép Rước Lễ Đối Với Người Công Giáo Ly Dị Và Tái Hôn Dân Sự

15 Tháng Ba 20194:01 CH(Xem: 1443)

Vấn nạn cho phép rước lễ đối với người Công giáo ly dị và tái hôn dân sự

Đã từ lâu, vấn nạn cho phép rước lễ đối với người Công giáo ly dị và tái hôn (CGLD&TH) được đem ra bàn thảo rất nhiều lần. Kết quả là, đã có không ít những quan điểm khác nhau, thậm chí có lúc đối lập nhau. Dựa trên bài viết của Nicholas J. Healy, JR với tựa đề: “The Merciful Gift Of Indissolubility And The Question Of Pastoral Care For Civilly Divorced And Remarried Catholics”, cũng như một vài tài liệu của Huấn Quyền và của các Đức Thánh Cha, người viết sẽ cố gắng làm sáng tỏ vấn nạn này.
lidi-devorce

Vì hôn nhân Công Giáo liên hệ đến đời sống đức tin, thế nên trước tiên, chúng ta cần phải hiểu được bản chất của hôn nhân Công giáo, để từ đó chúng ta mới có thể hiểu được mối liên hệ của hôn nhân với Bí Tích Thánh Thể. Theo truyền thống từ thời Hội Thánh sơ khai, hôn nhân Công giáo đã được xác định là hôn nhân trong Chúa (x.1Cr 7, 39). Bởi thế, hôn nhân này sẽ có những ý nghĩa như là sự triển nở ân sủng của Bí Tích Rửa Tội, đồng thời là dấu chỉ tình yêu của Đức Kitô với Hội Thánh (x.Ep 5,21-33). Về sau, thánh Augustinô đã triển khai rõ ràng hơn, khi ngài nhìn nhận hôn nhân Kitô giáo có ba sự tốt: Proles (việc sinh con), Fides (sự chung thủy), Sacramentum (tính bất khả phân ly)[1]. Đến thời Công Đồng Trento, Hội Thánh tiếp tục khẳng định về tính bất khả phân ly (x. DS 1797-1800), và không chấp nhận ly dị [x. DS 1801-1812]. Chính vì bản chất đặc thù của hôn nhân Công giáo, nên Giáo Luật năm 1917 đã ra vạ tuyệt thông cho những người CGLD&TH (x.GL năm 1917, 2356). Điều này hàm ý họ không được phép rước lễ.

Tuy nhiên, kể từ sau Công Đồng Vatican II, mối bận tâm mục vụ cho những người CGLD&TH ngày càng lớn, đặc biệt là mối quan tâm đến vấn đề được phép rước lễ. Vì thế đã có nhiều hướng giải quyết khác nhau nổi lên. Thứ nhất, có một số thần học gia chủ trương xét lại các nguyên tắc nền tảng của hôn nhân Công giáo. Chẳng hạn, Bernard Haring, Edward Schillebeeckx, Charles Curran, Richard McCormick, Theodore Mackin đề nghị bỏ đi khái niệm “tính bất khả phân ly” vì cho rằng hôn nhân trước đó không còn tồn tại nữa. Hơn nữa, họ còn dựa vào Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes cho rằng tình yêu là yếu tính của hôn nhân [x. GE 48], nhưng khi tình yêu đó không còn thì hôn nhân đó cũng không thể tồn tại. Khi chấp nhận quan điểm này, thì người CGLD&TH không còn bị coi là mắc ngăn trở nữa, và họ có thể được phép rước lễ. Thứ hai, Walter Kasper và Karl Lehmann cũng như một số vị thần học gia khác đề nghị triển khai theo hướng khoan dung (oikonomia), vốn được thực hành ở bên Chính Thống Giáo. Cụ thể, người CGLD&TH có thể được rước lễ với các điều kiện cụ thể như sau: (1) có sự thống hối về những lỗi lầm mắc phải trong cuộc hôn nhân đầu tiên; (2) cuộc hôn nhân đầu tiên không thể hàn gắn được nữa; (3) cuộc hôn nhân thứ hai đã có hôn thú dân sự, và được xem như là một sự cần thiết để nuôi dạy con cái. Thứ ba, có những người lại chủ trương giảm nhẹ hơn nữa khi chỉ đề cập đến việc ăn năn về những lỗi lầm gây đổ vỡ cuộc hôn nhân đầu tiên thuộc về tòa trong (vì không thể chứng minh được tính vô hiệu của cuộc hôn nhân đầu tiên ở tòa ngoài). Sau đó họ có thể được rước lễ. Ngoài ra, nhà thần học Kasper còn đưa ra đề nghị khác nữa là xét lại tính hiệu lực của hôn nhân dựa trên đức tin. Theo ngài, vào thời điểm đám cưới của đôi hôn phối, họ đã không thực sự tin vào mầu nhiệm Chúa Kitô, thì linh mục được trao trách nhiệm có thể tuyên bố cuộc hôn nhân là vô hiệu. Hệ quả là họ sẽ không còn mắc ngăn trở nữa, nên họ cũng có thể được rước lễ. Tất cả các đề nghị thần học vừa nêu, mặc dù có vẻ rất hấp dẫn để giúp ích việc mục vụ, nhưng cũng còn bộc lộ không ít những giới hạn (ví dụ, không quan tâm đến hệ lụy của ly dị, giảm nhẹ tính bất khả phân ly, làm mất đi tính dấu chỉ tình yêu của Chúa Kitô và Hội Thánh, tách biệt giữa đức tin và ý hướng lập hôn ước,..).

Giáo Huấn hiện nay vẫn nhấn mạnh đến tính duy nhất, bất khả phân ly và tính chung thủy (x.GLHTCG 1643-1649). Vì lý do đó, trong Tông Huấn Familiaris Consortio, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khẳng định Hội Thánh vẫn không công nhận cuộc hôn nhân mới (của người ly dị) là thành sự, nếu như cuộc hôn nhân đầu đã thành sự rồi. Không những thế, ngài còn khẳng định những người ấy còn không được rước lễ bao lâu còn sống trong tình trạng này (x. FC, 84). Tiếp sau đó, trong Tông Huấn Sacramentum Caritatis, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI tái khẳng định: “Không thể cho những người đã ly dị tái hôn được lãnh nhận các Bí tích, chỉ vì tình trạng và điều kiện của họ nghịch lại cách khách quan sự liên hệ tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh, điều được biểu lộ và hiện thực trong Bí tích Thánh Thể” (SC, 29). Nhìn chung, tất cả những giáo huấn này là những nguyên tắc phổ quát và đúng đắn. Do đó, trong Tông HuấnAmoris Laetitia, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc nhở rằng: “…đừng bao giờ làm cho người ta nghĩ rằng mình muốn giảm thiểu các giá trị của Tin Mừng” (x. AL, 301).
hon_nhan

Điều quan trọng thứ hai khi bàn về vấn nạn cho người CGLD&TH rước lễ đó là cần phải giải trừ những quan niệm sai lầm. Trong tác phẩm Muối Cho Đời[2],  Đức Hồng y Joseph Ratzinger đã khẳng định những người CGLD&TH không phải không còn tư cách thành viên của Hội Thánh. Thực sự, họ chỉ là những người đang ở trong một tình trạng đặt biệt nên không thể rước lễ. Điều này gây cho họ một nỗi khổ tâm lớn. Nỗi khổ tâm ấy càng trở nên nặng nề hơn khi chính họ coi việc rước lễ như là một nghi thức xã hội mà nếu mình không tham dự thì sẽ bị bẽ mặt. Không những thế, có những người lại quan niệm việc không được rước lễ cũng minh nhiên gắn liền với việc không được chúc phúc, khi trong Thánh lễ linh mục đọc câu “..phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Lý giải cho hai mối bận tâm này, Đức Hồng y Ratzinger giải thích như sau: nếu người ta nhận thức được và tự nhủ rằng, tôi đã phạm một lỗi lầm, nên trong hoàn cảnh hiện tại tôi không thể lên rước lễ, thì người ta sẽ có cái nhìn khác. Khi ấy, người ta lại là những chứng nhân cho tính chất đặc biệt của hôn nhân Công giáo. Còn về lời mời chúc phúc mà vị linh mục đọc lên, lời ấy có ý ám chỉ đến một bữa tiệc cánh chung, với hình ảnh biểu trưng là Bí Tích Thánh Thể. Câu nói ấy là lời mời gọi chất vấn lương tâm mọi người, là những kẻ đang hướng về bữa tiệc đời đời. Vì thế, khi người CGLD&TH không được rước lễ không có nghĩa họ là người vô phúc, hay là những kẻ bị loại trừ khỏi bữa tiệc ấy. Trái lại, biết đâu, những người CGLD&TH đã chịu khổ đau nên có thể được tiếp nhận nồng hậu hơn nơi bữa tiệc ấy.

Bên cạnh đó, cũng cần phải cho những người CGLD&TH thấy được rằng, hình thức hiệp thông Thánh Thể không phải là hình thức tuyệt đối duy nhất(mặc dù Bí Tích Thánh Thể là cao trọng nhất), nhưng còn có nhiều hình thức khác để sống mầu nhiệm hiệp thông trong Hội Thánh. Cụ thể, họ có thể lắng nghe Lời Chúa, tham dự Hy tế Thánh lễ, kiên trì cầu nguyện, góp phần vào việc bác ái và các việc phục vụ công bằng của cộng đoàn, giáo dục con cái trong đức tin Kitô giáo, sống tinh thần thống hối và làm các việc đền tội. Khi làm như thế họ vẫn có thể lãnh nhận các ân sủng của Thiên Chúa (x. FC, 84).

Nói tóm lại, các nguyên tắc căn bản của hôn nhân Ki-tô giáo là không thay đổi. Tuy nhiên, vẫn có một khoảng cách rất lớn giữa nguyên tắc căn bản, và những hoàn cảnh đặc thù của từng cá nhân. Bởi thế, Đức Thánh Cha Phanxicô đề nghị cần phải có sự đồng hành và phân định cá vị đối với từng người CGLD&TH, để từ đó có những ứng xử thích hợp với từng tình huống (x. AL, 241-246 và 300-305). Bên cạnh đó, Ngài cũng cho thấy rằng vết thương sâu nhất của ngày hôm nay là cuộc khủng hoảng trong đức tin, cảm nhận sự vắng bóng Thiên Chúa, và mất đi sự tin tưởng vào sự tốt lành của trật tự tạo dựng. Vì thế, theo thiển ý của người viết, điều cần thiết Hội Thánh phải làm lúc này là hãy để ý đến những “vết thương” của người CGLD&TH đang đối diện nhằm chữa lành cho họ, hơn là thắc mắc về các nguyên tắc và đi tìm những câu trả lời dễ dãi (Yes/ No) – có được phép rước lễ hay không đối với người CGLD&TH, như nhiều người đã phản ứng sau khi Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành Tông Huấn Amoris Laetitia [3].

—————————————–

[1] Quan điểm của thánh Augustinô xem trong G. Mathon, Le mariage des chrétiens, Paris, 1993, tome I, tr 107-125.

[2] Tác phẩm ghi lại cuộc đối thoại giữa Đức Hồng y Joseph Ratzinger đã trao đổi với ký giả Peter Seewald, được đăng trên trang http://lamhong.org/muoi-cho-doi-hong-y-joseph-ratzinger-dgh-benedicto-xv

[3] Xem http://www.vietcatholic.net/News/Html/239464.htm

Nguyễn Văn Chí, S.J.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ