Bà Tôi

10 Tháng Ba 20193:04 CH(Xem: 1727)

Bà tôi mất khi tôi mới lên 10. Ngày ấy trẻ trâu, tôi chẳng hiểu nhiều về sự đời, lại còn sợ khi ở gần người mới qua đời. Bố mẹ bảo trẻ con biết cái gì, ở nhà lo coi nhà, học hành đi. Ngày ấy cũng muốn đến thăm bà lắm. Ngày bà mất, tôi cứ nghĩ đến bà suốt, cả đêm không ngủ được. Chỉ vì muốn đến nhìn bà lần cuối. Vậy mà tôi cứ sợ. Đến sau này, mỗi lần gặp những bà cụ, ông cụ chạc tuổi bà tôi khi trước, mỗi khi thấy bạn bè kể về những người bà, người ông của mình, tôi mới thấy đời mình thiếu cái gì đó. Bà cứ khó khó thế nào ấy, và tôi cảm thấy khó gần bà ghê gớm. Bà hay chép miệng, hay thở dài và đôi khi khó tính.
me gia

Bà hay chép miệng, không biết vì miếng trầu bà đang nhai hay là bởi bà đang buồn gì đó trong lòng. Mấy đứa nhóc thì ham chơi, mấy đứa lớn thì bận rộn làm ăn. Thấy nó vất vả tất tưởi lo làm ăn, muốn giúp chúng nó mà mình chẳng làm được gì. Gặp được con dâu, con rể hiền lành dễ mến đã đành, gặp phải người không đồng cảm, chỉ còn biết lủi thủi một thân một mình. Đã không lo được cho con, bà cũng chẳng muốn chúng bận tâm vì mình. Tiếng trầu ngày càng chậm lại nhưng đôi môi vẫn đỏ hồng và hơi thở vẫn còn thơm lắm.

Bà tuy già yếu dần rồi nhưng lại sống chủ động. Ngày ấy bà cũng tân tiến thấy lạ. Bà bảo: nuôi con đủ 18 tuổi thì cho nó tự lập, đứa nào học được thì hỗ trợ thêm, rồi thả nó vào đời để lớn lên như những người khác. Phần bà, bà dành cho mình một ít tiền phòng thân lúc đau ốm, hay ít là sinh hoạt hàng ngày. Bà không muốn vì bà mà con cái khó xử, đâm ra lục đục cãi cọ nhau, bởi con trai thì có con dâu, con gái thì còn có con rể nữa. Người ta bảo, thật là dại dột nếu cứ đòi hỏi con cái cháu chắt phụng dưỡng, nhưng nhớ lại những ngày tháng mình hy sinh vì con cái, bà lại chạnh lòng. Bà bảo: tiền của mình là của con, đất của mình là của con, chứ tiền của nó đâu có thể là của mình, nhà của nó đâu phải là của mình. Có đứa khi được chia đất, đào được mỏ thì coi mình là cái đinh han. Ban ngày còn có thể cười đùa, mà đêm về gió thu hiu quạnh lòng người xốn xang.

Bà đau bệnh, tiếng thở dài nay lại càng dài hơn. Sau cơn bệnh, nằm một chỗ, bà thấy đời mình thừa thãi vô dụng. Bà dễ tổn thương đến lạ. Một câu nói vô ý, một hành động nóng nảy cũng dễ làm bà bận lòng. Ở cái tuổi mà cái gì cũng phải nhờ cậy, phải chờ đợi, bà thà ở vậy, không cần ai chăm sóc, còn hơn là được quan tâm mà bị. Những lúc như thế, bà chỉ khóc. Bà khóc cho cuộc đời bà, hay bà khóc cho thế hệ mai sau sẽ mất đi chữ hiếu, mất đi cái tế nhị ân cần? Chỉ biết bà thu mình lại, thế giới của bà bỗng nhỏ đi và cuộc đời vì thế cũng không còn nhiều tiếng cười.

Niềm vui của người già là lũ cháu đàn con, thế mà niềm vui ấy cũng dần bị tước mất. Lần kia, một bà cụ lại gần một đứa nhỏ, mong nở một nụ cười dễ thương với nó. Nhưng đứa bé cứ giẫy nảy lên khi bà ve vuốt nó. Nó khóc vang khắp cả căn nhà. Thế là bà lùi lại, trở về cái góc nhỏ của mình mà khóc. Bà tự thấy mình không còn dễ thương ngay cả với một đứa trẻ vô tội, mà lại còn làm cho đứa nhỏ mình yêu mến phải sợ hãi. Bị người khác làm tổn thương đã đành, nhưng có lẽ thứ mất mát lớn nhất là thấy mình không còn dễ thương. Bà khó chịu với mình, khó chịu với đời và bà lại càng cô đơn.

Người trẻ như tôi cũng cần cô đơn nhưng cái cô đơn của tôi khác cái cô đơn của bà. Người trẻ cần cô đơn để lùi lại, để nhìn đời cho kỹ càng hơn, nhưng sau đó lại tiến lên. Bà lùi lại nhưng ngày càng lùi hơn. Cuộc đời bà như càng ngày càng bị tước đi, tước đi cả những gì mình trân quý nhất, cho đến những gì mình tự hào nhất, chắc chắn nhất. Người ta ước mong cuộc đời có những người bạn đủ sắc màu, nhưng dường như cuộc đời của bà bây giờ chỉ có màu xám và màu đen. Và một ngày kia, tất cả chỉ còn lại gam màu tối. Chẳng có một nhóm bạn, mà đến một người ở bên lúc đau ốm cũng không còn.

Người ta thường bảo tuổi già cũng là tuổi thơ, nhưng tuổi thơ của bà bây giờ khác với tuổi thơ của tôi ngày trước. Con trẻ ngây ngô, chẳng phiền muộn, vui thì cười, buồn thì khóc. Còn bà, nếu bà ngây ngô, không lo lắng, người ta bảo bà có vấn đề về thần kinh. Không biết bà có vấn đề hay người ta có vấn đề đây? Người đời thường bảo hãy bảo vệ các quyền của trẻ em, vậy ai sẽ bảo vệ những người bà dễ bị tổn thương?

Cuối cùng, ai cũng từ biệt cõi trần này. Cả một đời bà long đong, mà lúc trở về với đất vẫn chưa xong nỗi nhà. Bà vẫn lo cho con cái hoà thuận, yêu thương. Bà vẫn lo cho những đứa nhỏ khôn lớn, trưởng thành. Và một người đã cống hiến tất cả tiền bạc dành dụm được cho Nhà Chúa, hẳn chỉ mong con cháu mình được giữ đạo nghĩa đến cùng. Một lời cầu nguyện cho bà và ước mong mình cũng trân quý những người cao tuổi để họ cũng được sống nét thanh cao của một kiếp người.

Trần Đỉnh, SJ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
“Thế là cậu đã nhẹ nhàng ra đi, rời xa cái thế giới mà cậu đã để lại rất nhiều sau hơn 80 năm góp mặt và đã sống tràn đầy từng phút từng giây. Trước hết, là một nhạc sĩ, cậu đã để lại hơn 200 nhạc phẩm, đã làm phong phú đời sống tinh thần và tình cảm của hàng triệu người nghe, và sẽ còn làm rung động tâm hồn hàng triệu người yêu nhạc nữa trong những thế hệ mai sau. Là một nghệ sĩ tài danh, cậu không kiêu căng lập dị. Trái lại, cậu đã luôn luôn cư xử khiêm tốn, nhún nhường, tôn trọng người khác như tác phong của con người có văn hóa, một đức tính đã khiến cậu được nhiều người mến mộ và noi gương. Là một nghệ sĩ chân chính, cậu đã không để đồng tiền làm vẩn đục tâm hồn. Cậu không đòi hỏi những ca sĩ trình diễn nhạc phẩm của mình phải trả tiền tác quyền mà chỉ nhận tiền của những ban nhạc lớn nhưng hầu hết số tiền thu được cậu đã đem tặng cho các hội từ thiện.
Thầy Cô thân mến, (Nếu được sự đồng ý của các bạn đồng lớp) Ngày mùng ba tết Năm Tân Sửu, con và các bạn học cùng lớp mừng tuổi Thầy Cô. Chúng con không có rượu, không có bánh tét, không có cặp trứng để mừng tuổi Thầy Cô, chỉ có mấy hàng chữ mà Thầy đã dạy chúng con học viết trong những năm tại trường Tấn Đức và lòng tôn trong với một người Thầy Giáo khả kính, hiền lành.
1. Nếu chịu khó đọc đủ nhiều và nghiên cứu sách tỉ mỉ, bạn sẽ không cần và không thích nghe bất cứ diễn giả nào chia sẻ. Nói cách khác, tất cả những gì một diễn giả, một nhà đào tạo nói với bạn đều có sẵn trong sách. 2. Diễn giả, nhà đào tạo ở ta là những kẻ nói lại sách của người khác để trục lợi. Có thể họ nói hùng hồn và dễ hiểu hơn nhưng phần lớn không sâu sắc và không đủ ý. Kiến thức mà thiếu ý là thứ kiến thức nguy hại. Giống như thầy lang đọc sách đau bụng uống nhân sâm. 3. Diễn giả đẳng cấp là kẻ phải ham đọc và ham viết. Họ thường là tác giả có tầm cỡ. Đương nhiên, diễn giả rởm cũng tỏ ra vẻ như mình đọc nhiều sách và khoe mình hay đọc sách. Chết là ở đó. Nhưng tinh ý, bạn sẽ biết họ đọc nhiều thật hay đang nói dối. Ngồi cạnh người đọc sách nhiều và đúng cách, bạn sẽ học được ít nhiều chỉ sau 5 phút. Kẻ đọc sách nhiều không đay nghiến và kì thị ai quá đáng. Họ ghét ai cũng là cái ghét từ bi. Yêu ai cũng không vồ vập.
Thật khó hình dung được thời gian qua nhanh, đã hơn mấy chục năm sống cuộc đời lưu vong tại Calgary, Alberta, miền Tây Canada. Dẫu muốn hay không cũng phải chấp nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nơi đã mang và nuôi dưỡng chúng tôi hơn nửa đời người. Tạ ơn Chúa và Canada. Sự kiện đặc biệt đang xảy ra tại vùng này là trong suốt mấy chục năm qua chưa từng có một mùa Đông có nhiều ngày nắng và ấm như thế. Vào những ngày này của tháng giêng, mặt trời chiếu tỏa từ sáng tới chiều và nhiệt độ ấm lên từ 5c-6c vào khoảng một giờ chiều và đã kéo dài hơn hai tuần nay. Toàn tỉnh đang bị lockdown vì covid-19 mà có những ngày đẹp trời cũng tạo cho tâm lý bà con vui vẻ hơn; người người bước ra ngoài để hớp những không khí trong lành của thiên nhiên. Trẻ em thì háo hức chơi đủ trò trên tuyết – người lớn thì đi bộ dọc hai bên đường cùng với những chú chó bị nhốt lâu ngày trong nhà nay có dịp ra ngoài.
Tên nàng là Nhung Nữ. Dân làng đặt tên nàng là Nhung Nữ vì nàng có mái tóc dài, gợn sóng, nhung huyền, gần chấm đất những khi nàng cong tấm lưng thon, biểu diễn điệu múa quyến rũ, mỗi lần làng họp chợ. Nàng là một kỳ công tuyệt diệu của tạo hóa, với sóng mắt xếch như mang theo sự huyền bí của miền Đông Á. Da nàng là màu nắng mặt trời. Tóc nàng, nhung đen như đêm Ba Tư thần thoại, một suối nhung huyền trên tấm lưng thanh nhã, lượn sóng trên bờ eo nhỏ mỗi khi nàng dạo bước trên bãi biển. Môi nàng lúc nào cũng như tiềm ẩn một nụ cười, chờ đợi một chuỗi cười hồn nhiên, và viền môi cong như đón mời một nụ hôn nồng nàn làm tiêu tan nghị lực. Khuôn mặt nàng ẩn giấu nét rộn rã của đứa trẻ nhỏ, nhưng đồng thời chung quanh khóe mắt đẹp và hơi buồn đã thấp thoáng những nét nhăn như chứng tích của sự trưởng thành. Nàng là đàn bà trẻ thơ.
Sài Gòn vẫn rất dễ thương Cái tên dù lạ con đường vẫn quen Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao?” Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…
...chỉ với Mùa Xuân chín, Hàn Mặc Tử đã luôn là một nỗi nhớ khôn nguôi của người yêu thơ, yêu cái đẹp khi xuân về. Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng. Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang. Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời Bao cô thôn nữ hát trên đồi; Ngày mai trong đám xuân xanh ấy, Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi, Hổn hển như lời của nước mây, Thầm thì với ai ngồi dưới trúc, Nghe ra ý vị và thơ ngây… Khách xa gặp lúc mùa xuân chín, Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng: “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?” Có một chàng thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ 20 ở Nam Trung Bộ. 16 tuổi, chàng đã làm bài thơ đầu tiên. Chàng đã sống, đã đi, đã yêu tha thiết và đã đau đớn cùng cực.
Truyện Kiều là một tuyệt tác trong văn học sử Việt Nam, điều này ai cũng công nhận. Theo Phạm Quỳnh, “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn”, nhưng ông và nhiều học giả khác không phân tích rõ Truyện Kiều hay như thế nào và tại sao tác phẩm này đặc biệt. Dù sao thì Truyện Kiều cũng có ảnh hưởng rất rộng với đại chúng, đa số người Việt biết thưởng thức thơ hay và ít quan tâm đến những phân tích phê bình của những nhà nghiên cứu. Lãng Nhân có nhận xét về một điểm vô lý trong Truyện Kiều: Khi mấy chị em đi chơi lễ Thanh Minh và thấy một nấm mồ hoang, em trai Thúy Kiều là Vương Quan chỉ là một cậu bé học trò 14-15 tuổi, vậy mà kể rành rẽ tiểu sử người kỹ nữ quá cố giống như một tay ăn chơi lão luyện: Vương Quan mới dẫn gần xa, Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi Nổi danh tài sắc một thì, Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh. Phận hồng nhan có mong manh, Nửa chừng xuân, thoắt gẫy cành thiên hương!
- Chúng ta đa số đều biết rằng các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn từ 1934 - 1940 có gốc gác khởi xuất từ miền Bắc, viết văn, viết sách, thơ, truyện, thường họ chỉ dùng (GI) cho "giòng sông, giòng nước". Thí dụ như: a) Nhất Linh: "Giòng Sông Thanh Thủy". b) Tú Mỡ: "Giòng Nước Ngược". c) Thạch Lam: "Theo Giòng". - Còn các nhà văn, trí thức lớp sau, thường có xuất thân tại miền Nam, trước khi xảy ra biến cố 1975, họ hầu hết sử dụng (D) cho "dòng sông, dòng nước". Thí dụ như: a) Doãn Quốc Sỹ: "Dòng Sông Định Mệnh (1959). b) Nhật Tiến: "Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972). c) Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: "Dòng Nước Sông Hồng" (viết 1945, in lại vào thi tập năm 1985). - Và sau hơn nữa đó là: a) Ngô Thế Vinh: "Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007).
Bảo Trợ