Nhẫn 2.000 Năm Tuổi Khắc Tên Tổng Trấn Philatô

17 Tháng Tư 20193:45 CH(Xem: 738)

Nhẫn 2.000 năm tuổi khắc tên Tổng trấn Philatô

Một trong những cổ vật hiếm hoi được cho là truyền từ thời Chúa Giêsu còn tại thế đã được phát hiện sau nhiều năm phân tích.

Cái tên Phongxiô Philatô (tiếng Anh Pontius Pilate) vô cùng quen thuộc với các tín hữu. Thế nhưng, rất ít thông tin được truyền đến ngày nay về cuộc đời và công việc của ông ta. Các nhà khảo cổ học vừa bổ sung một manh mối vào danh sách chứng cứ ít ỏi về nhân vật lịch sử “khét tiếng” này: một chiếc nhẫn bằng đồng thau 2.000 năm tuổi mang tên Philatô.

blank

Phát hiện hiếm có

Trên thực tế, chiếc nhẫn được tìm thấy vào cuối những năm 1960, nằm trong số hàng ngàn cổ vật đào được tại Herodium. Đây là tên của một pháo đài và lâu đài cổ ở phía nam Bethlehem, trên Bờ Tây. Tuy nhiên, phải đến gần đây, các nhà nghiên cứu trong lúc phân tích những cổ vật này bằng công nghệ hình ảnh hiện đại mới có thể giải mã được dấu hiệu được khắc trên nhẫn. Nó có nghĩa là “của Philatô”, bằng ký tự Hy Lạp chạy xung quanh một cái bình rượu vang thường được gọi là krater. Giới khảo cổ học cho hay, chiếc nhẫn là cổ vật thứ hai sau hơn 2.000 năm từng được tìm thấy với tên của quan tổng trấn nổi tiếng.

Phát hiện mới đã được công bố trên chuyên san về khảo cổ học của Israel là Israel Exploration Journal. Philatô là Tổng trấn tỉnh Judea, ở rìa phía đông trên bản đồ của đế quốc La Mã, từ năm 26 đến 36 sau công nguyên. Theo tờ The New York Times, rất tiếc là các chuyên gia không chắc chắn chiếc nhẫn này từng được Philatô đeo, chỉ vì nó quá đơn giản và thường thuộc về các binh sĩ hoặc quan chức cấp thấp, chứ không thể đeo trên tay của một người giàu có và quyền lực như vị tổng trấn.

blank
Khu Herodium ở phía nam Bethlehem

“Chúng tôi nghĩ rằng không hợp lý khi một tổng trấn sử dụng chiếc nhẫn mang dấu triện bằng kim loại và kiểu dáng đơn giản đến thế”, theo các chuyên gia. Thế nhưng, trên thực tế, việc tìm được một cổ vật mang tính kết nối cá nhân với Tổng trấn Philatô là một khám phá vô cùng quan trọng trong nỗ lực tìm thêm chứng cứ từ thời Chúa Giêsu. Và nhiều khả năng, chiếc nhẫn có thể thuộc về một tùy tùng của Tổng trấn. Tờ The Times of Israel dẫn lời nhà khảo cổ học Roi Porat, một trong những tác giả cuộc nghiên cứu cho hay cái tên Philatô không hề phổ biến tại khu vực Judea vào thời đó.

Hiểu thêm về lịch sử

Kinh Thánh kể lại câu chuyện về Tổng trấn Philatô cho đẩy Chúa Giêsu sau trận đòn roi đến trước một đám đông đang giận dữ và buông lời nói rằng “này là Người” – “ecce homo” theo tiếng Latinh. Và thời khắc này đã trở thành đề tài quan trọng của nghệ thuật thánh xuyên suốt nhiều thế kỷ. Ngoài Kinh Thánh, đa số những thông tin ít ỏi về Philatô đến từ những tác phẩm còn sót lại đến ngày nay của sử gia Flavius Josephus, học giả, nhà sử học người Do Thái vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên.

jesus - cross - philato
Bức tranh nổi tiếng “Này là Người” – “Ecce Homo” của họa sĩ Antonio Ciseri

Herodium, nơi chiếc nhẫn được tìm thấy, đã được xây dựng dưới thời vua Herod Cả và cũng là nơi đặt nấm mồ của ông. Một trong số các người con của vị vua này, cũng có tên Herod, làm vua vào thời Chúa Giêsu. Herodium hiện do Israel kiểm soát và phía Palestine tuyên bố chủ quyền. Chiếc nhẫn được phát hiện trong một căn phòng đầy mảnh vỡ thủy tinh, gốm sứ, các đầu mũi tên, những đồng tiền và các đồ vật khác.

Như đã đề cập, ký tự trên nhẫn là tiếng Hy Lạp, được các quan chức La Mã sử dụng khi liên lạc với những người ở phía đông Địa Trung Hải. Tiếng Hy Lạp cũng có thể được dùng trong các thư tín chính thức của Tổng trấn Philatô và các quan chức cần phải ký tên của ông. Cổ vật đầu tiên được tìm thấy ở Judea có thông tin liên quan đến Philatô là một mẩu đá có khắc chữ, được khai quật vào năm 1961 ở thành phố cảng Caesarea từ thời xưa. Nó được biết đến với cái tên là “mẩu đá Philatô”, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Israel ở Jerusalem.

blank
Lăng mộ của Herod Cả

Giáo sư Jonathan Price, chuyên ngành lịch sử cổ đại tại Đại học Tel Aviv, phân tích rằng Philatô chỉ là một trong các quan chức La Mã đã được điều đến Judea. Nếu không được nhắc trong Kinh Thánh, “ông này chỉ được nhớ đến như là một quan chức La Mã không làm nên công trạng gì”. Trong khoảng một thập niên cai trị Judea, Philatô tỏ rõ thái độ thù địch với người địa phương và suýt nữa đã thổi bùng 2 cuộc nổi dậy. “Ông ta đã bị triệu hồi vì lý do thiếu năng lực”, theo giáo sư Price, và sau đó chẳng ai còn nghe thấy thông tin gì về nhân vật này nữa. 

Ling Lang 
Giao Phan Ha Tinh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
DẪN NHẬP Internet và mạng lưới toàn cầu (World Wide Web) là phát minh vĩ đại của nhân loại. Phát minh này có tác động lớn, làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống con người. Giống như điện thoại ở những năm 1920 và truyền hình ở những năm 1950, Internet ngày nay đã trở thành phương tiện truyền thông nổi bật và chủ yếu. Internet có một số tính năng nổi bật như: tức thời, toàn cầu, phân tán, tương tác, tiếp cận không giới hạn, linh hoạt, dễ sửa đổi và dễ thích nghi. Nó mang tính bình đẳng, theo nghĩa bất cứ ai với phương tiện và kỹ năng cơ bản cũng có thể tham gia và hoạt động trên Internet.[1] Internet trở thành trung tâm kết hợp những người cùng khuynh hướng lại với nhau. Nhờ Internet, những người thường xuyên bị loại bỏ hoặc bị tôn giáo khai trừ, đều có thể tìm đến và hội nhập dễ dàng với những cộng đoàn tâm linh trực tuyến.
Hướng về Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội (Lễ Chúa Thăng Thiên), Kitô hữu chúng ta được mời gọi tìm hiểu và suy tư về chủ đề này, hầu có thể sử dụng hợp lý phương tiện truyền thông theo tinh thần Tin Mừng. Bài viết này mang nặng tính ‘đặt móng’, với hy vọng chỉ ra một định hướng nền tảng, dưới nhãn quan Kitô giáo, cho truyền thông xã hội Việt Nam. Cụ thể, bài viết trình bày ba điểm chính: thứ nhất, lược lại bản chất và ý nghĩa truyền thông theo Kitô giáo; thứ hai, nhìn lại thực trạng truyền thông xã hội của Việt Nam hiện nay và những thách đố của nó; thứ ba, nghĩ về một định hướng căn bản để trả lời cho những thách đố đó qua việc suy gẫm về Mẹ Maria như một gương mẫu tuyệt vời của truyền thông theo tinh thần Tin Mừng.
Grentchen R.Crowe Anthony Lai dịch từ simplycatholic.com WHĐ - Dễ dàng nhận thấy rằng người Công Giáo đã quá quen với chuỗi Mân Côi. Chúng ta thường mua các tràng chuỗi làm quà kỉ niệm, hoặc mang chúng theo bên mình, hoặc thậm chí là đeo chuỗi trên người – nhưng chúng ta quên đi sức mạnh to lớn của chuỗi Mân Côi mỗi khi chúng ta thực sự cầu nguyện bằng tràng chuỗi ấy. Điều đó thật đáng buồn, vì những lời cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể mang lại câu trả lời cho rất nhiều vấn đề khó khăn trong thế kỷ XXI này.
1. Thánh Mátthêu chịu tử đạo ở Êthiôpia. Người ta đã dùng gươm để giết chết ngài. 2. Thánh Máccô chết ở Alexandria, Ai cập. Người ta đã dùng những con ngựa để kéo bừa ngài qua các đường phố cho đến chết. 3. Thánh Luca bị treo cổ ở Hy Lạp vì ngài đã giảng rất hùng hồn về sự lầm lạc, hư mất. 4. Thánh Gioan chịu tử đạo bởi hình phạt bị thiêu sống trong cái bồn khổng lồ chứa đầy dầu đang sôi, trong cuộc tàn sát ở Rôma. Tuy nhiên, Ngài đã đựơc cứu sống một cách nhiệm lạ. Rồi ngài bị kết án đi đày trong các hầm mỏ ở nhà tù trên đảo Pátmô. Thánh Gioan đã viết Sách Khải Huyền tại đảo này. Sau này, Tông đồ Gioan đựơc trả tự do và trở về thi hành sứ vụ giám mục của Edessa, Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài qua đời trong lúc tuổi già. Ngài là vị tông đồ duy nhất qua đời một cách bình an.
Phan Tấn Thành Từ lễ Phục sinh đến lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, Kinh Truyền tin được thay thể bằng Kinh Lạy Nữ Vương Thiên đàng. Kinh này phát xuất từ đâu? Thật là một câu hỏi được đặt ra đúng thời nhân mùa đại dịch. Theo một lưu truyền, kinh này được sáng tác từ trời nhân mùa đại dịch năm 590 tại Rôma, thời đức giáo hoàng Grêgôriô Cả.
Lúc 11h ngày 12/04, ĐTC Phanxicô dâng Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đọc sứ điệp Phục Sinh và ban phép lành toàn xá urbi et orbi (cho Roma và toàn thế giới). Vatican News Tiếng Việt xin gởi đến quý độc giả toàn văn sứ điệp. Chuyển ngữ: Mai Kha, SJ - CTV Vatican News
Adalberto Sisti OFM Tóm tắt. I. Đẹp và tốt: 1. Từ ngữ; 2. Vẻ đẹp theo Kinh thánh; 3. Nguồn gốc cái đẹp. II. Phản ánh của vẻ đẹp trên thế giới: 1. Bầu trời, mặt trời và mặt trăng; 2. Thảo mộc và động vật. III. Vẻ đẹp của con người: 1. Những nhân vật và nhân tố của vẻ đẹp; 2. Hương thơm và trang điểm; 3. Những giá trị và giới hạn. IV. Vẻ đẹp những công trình của con người: 1. Nghệ thuật; 2. Đời sống. (Nguồn: Nuovo Dizionario di Teologia Biblica, Ed. Paoline, Cinisello Balsamo, 1988, 161-168. Các chú thích của người dịch) ————————
Chuyển ngữ: Phêrô Bùi Huy Ngọc Nguồn: Righetti M., “La Domenica de Passione o Domenica in Palmis”, in Storia Liturgica 2, Ancora, Milano 1969, 184-195. Chúa nhật thương khó hay Chúa nhật lễ lá. Như chúng ta đã biết, tên gọi và nguồn gốc của Chúa nhật này trong nghi lễ Roma là "Cuộc Thương Khó của Chúa", được các giáo phụ Latinh thế kỷ IV-V nhắc đến và trong một số sách phụng vụ cổ đại[1]. Sau này nó được kết hợp với những cành cọ ở đông phương, nên gọi là Dominica palmarum o in palmis - Chúa nhật Lễ lá, như chúng ta thấy trong sách lễ Gelasiano (Reg. 316), đều có cả hai cách gọi. Sau đó, nghi thức làm phép lá ở các quốc gia bên kia dãy núi Alpi đã mang đến sự nổi bật khác thường cho tên gọi này, và từ đó không có tên gọi nào khác ngoài tên này.
Trong Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh năm nay, Tòa Thánh đã yêu cầu các linh mục trên khắp thế giới đọc thêm một lời cầu nguyện mới vào các Lời Cầu Long Trọng, và kêu gọi các ngài dâng các thánh lễ cầu nguyện cho đại dịch coronavirus sớm chấm dứt. Trước đại dịch coronavirus quá kinh hoàng đã cướp mất mạng sống của gần 50,000 người và làm gần 1 triệu người bị nhiễm bệnh, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã đưa ra một ý cầu nguyện mới trong Những Lời Cầu Long Trọng.
Bên trong nhà thờ San Marcello ở Rôma có cây thánh giá bằng gỗ cổ kính được tôn kính từ thế kỷ 15 và được các học giả xem là hiện thực nhất Rôma, cây thánh giá đã sống còn sau một trận hỏa hoạn và đã cứu Rôma khỏi nạn dịch hạch và Đức Gioan Phaolô II đã ôm hôn trong một sự kiện nổi bật đánh dấu Ngày Tha thứ năm 2000. Từ con đường Corso ở Quảng trường Venezia, trên quảng trường nhỏ phía bên phải là mặt tiền ngôi nhà thờ cổ San Marcello có từ thế kỷ thứ 4, thứ 5. Nhà thờ được nhắc đến lần đầu tiên năm 418 sau khi Giáo hoàng Zosime qua đời trong một thư của Rôma gửi hoàng đế Honorius. Năm 1368 các tu sĩ Dòng kính Đức Mẹ đến đó ở và vẫn còn ở đây.
Bảo Trợ