Luật Sư Của Đức Hồng Y Pell Bác Bỏ Tin Giả Tung Ra Nhằm Gây Công Phẫn Và Hạ Nhục

07 Tháng Ba 201912:09 SA(Xem: 115)
Luật sư của Đức Hồng Y Pell bác bỏ tin giả tung ra nhằm gây công phẫn và hạ nhục
Đặng Tự Do
blank
Robert Richter, luật sư bào chữa của Hồng Y George Pell, cho biết vào hôm thứ Ba rằng ông chưa bao giờ nghĩ đến việc rời khỏi nhóm các luật sư bào chữa cho Đức Hồng Y George Pell. 

Trong một cố gắng nhằm bôi nhọ Đức Hồng Y, sáng thứ Ba 5 tháng Ba, tờ The Age, một tờ báo có thế giá tại Úc đã bất chấp đạo đức nghề nghiệp dựng đứng lên câu chuyện luật sư Robert Richter đã rời bỏ nhóm các luật sư bào chữa.

Luật sư Robert Richter, rất tức giận trước câu chuyện hoàn toàn bịa đặt này, đã nói với thông tấn xã Australian Associated Press vào chiều cùng ngày rằng “Tôi chưa bao giờ bỏ cuộc. Tôi không bỏ cuộc.” 

Tờ The Age khi dựng đứng lên câu chuyện luật sư Robert Richter bỏ cuộc đã giải thích rằng “vì ông ta không có ‘đủ khách quan ở giai đoạn này’ để tham dự trong một loạt các phiên tòa tại Tòa Kháng Cáo Victoria”. Cụm từ ‘sufficient objectivity at this stage’ - ‘đủ khách quan ở giai đoạn này’ – là lối chơi chữ, nói thật mơ hồ, ai muốn hiểu sao thì hiểu nhưng với chủ ý xấu. 

Luật sư Robert Richter là người đã phản bác trước phiên tòa thứ nhất rằng vào năm 2013, cảnh sát Victoria đã phát động “Cuộc Hành Quân Tethering” để điều tra Đức Hồng Y Pell, mặc dù không có khiếu nại nào chống lại ngài. Sau đó, một chiến dịch kéo dài bốn năm để tìm những người sẵn sàng cáo buộc lạm dụng tình dục, bao gồm những biệt đội cảnh sát được trao nhiệm vụ lấy quảng cáo trên báo yêu cầu người ta khiếu nại về lạm dụng tình dục tại nhà thờ chính tòa Melbourne - trước khi có bất cứ khiếu nại nào.

Luật sư Robert Richter cho biết trong phiên tòa đầu tiên, vào tháng 9, bồi thẩm đoàn đã gặp gỡ và nghe trực tiếp người tố cáo đến nay chỉ được biết với bí danh là “AA”. 10 người trong số họ đã cho rằng Đức Hồng Y vô tội, nhưng họ không thuyết phục được 2 người còn lại trong bồi thẩm đoàn là những người cứ khăng khăng buộc tội Đức Hồng Y. Vì không đạt được sự nhất trí nên mới có phiên tòa hồi tháng 12.

Trong phiên tòa thứ hai, cảnh sát không cho bồi thẩm đoàn gặp gỡ “AA” nhưng chỉ cho họ nghe băng thu âm những gì anh ta nói. Theo luật sư Robert Richter, bồi thẩm đoàn đầu tiên, những người được nghe người khiếu nại trực tiếp, thấy anh ta ít đáng tin hơn bồi thẩm đoàn thứ hai, những người không gặp anh ta trực tiếp.

Luật sư Robert Richter nói thêm với thông tấn xã Australian Associated Press có trụ sở ở Melbourne: “Tôi rất tức giận về bản án này, bởi vì nó là một bản án biến thái.”

“Tôi tin chắc rằng ngài là một người vô tội đã bị kết án oan uổng. Đó không phải là một kinh nghiệm tôi thường thấy trong đời.”

Luật sư Bret Walker sẽ là trưởng nhóm các luật sư bào chữa cho Đức Hồng Y Pell với sự cộng tác của các luật sư Robert Richter, Paul Galbally và Ruth Shann.

Đã có những phản ứng khác nhau trước tin tức về việc Đức Hồng Y Pell bị kết án. Trong khi nhiều nhân vật trong truyền thông Úc đã chào đón điều này như một chiến thắng huy hoàng của họ, những lời chống đối và các cuộc tranh luận đã và đang diễn ra sôi nổi tại Úc.

Giáo sư Greg Craven, hiệu phó Đại học Công Giáo Úc, một Giáo sư Luật Khoa về Hiến Pháp, cho rằng quá trình công lý đã bị “bôi nhọ bởi các thế lực truyền thông và các lực lượng cảnh sát” xúm nhau lại “bôi đen danh dự” của Đức Hồng Y Pell “ngay cả trước khi ngài ra tòa.”

“Đây không phải là một câu chuyện một bồi thẩm đoàn là đúng hay sai, hay là công lý có ngự trị hay không”. Giáo sư Craven viết trong một bài bình luận hôm 27 tháng 2 trên tờ The Australian. “Đó là một câu chuyện về việc bồi thẩm đoàn có bao giờ được cho cơ hội công bằng để đưa ra quyết định hay không, và liệu rằng hệ thống công lý của chúng ta có được lắng nghe hay không vượt lên đám đông truyền thông đang hò hét la ó?”

Tiến sĩ Leah Kaufmann, một giảng viên về tâm lý học tại ngay trường Đại học Công Giáo Úc, một người vận động cho quyền lợi của người đồng tính, đã lớn tiếng chỉ trích giáo sư Craven và cho rằng việc chất vấn của Giáo sư Craven về tính khách quan “cho thấy sự coi thường” đối với những lo ngại về bảo vệ trẻ em và việc “hỗ trợ những nạn nhân bị lạm dụng tình dục.”

Bà Leah Kaufmann đã viết thư cho hiệu trưởng của nhà trường đòi cách chức Giáo sư Craven. 

Mặc dù, theo nguyên tắc của luật học bị cáo được coi là vô tội cho tới khi bị kết tội chung thẩm, nhưng trong thư, bà Leah Kaufmann đã yêu cầu Trung tâm Pell tại cơ sở Ballarat của trường phải được đổi tên, và bức chân dung của ngài tại một cơ sở của nhà trường tại North Sydney phải bị ném xuống.

Tờ The Australian tường thuật rằng trước các đòi hỏi và phê phán của Tiến sĩ Leah Kaufmann, người phát ngôn của ACU nói rằng nhà trường tôn trọng quyền phát biểu của các nhân viên như một vấn đề về tự do tư tưởng. Người phát ngôn nói thêm Giáo sư Craven “đưa ra nhận xét về phiên tòa với tư cách là luật sư về hiến pháp và là một cựu luật sư của Tòa án Victoria. Đó là một điều hoàn toàn đúng đắn.”

blank

Vietcatholic
Source:Catholic Herald

ĐHY George Pell: Tự thuật về cuộc đời, vai trò của Kitô hữu trong thế giới đương đại
Đặng Tự Do
blank
Linh mục Raymond J. de Souza, chủ bút tập san Convivium, gọi đích danh vụ khởi tố Đức Hồng Y Pell là Bách Hại Tôn Giáo trong bài “Calling Cardinal Pell’s Prosecution What It Is: Religious Persecution”. Chữ nghĩa nghe táo tợn vì ai cũng biết Úc là một quốc gia dân chủ tiên tiến. Tuy nhiên, cần phải đọc một cách nghiêm chỉnh bài viết của ngài. 

Nếu muốn biết rõ hơn những nhận định của cha Raymond J. de Souza, và tìm ra chút ý nghĩa cho những chiến dịch phỉ báng hết đợt này đến đợt khác nhắm vào Đức Hồng Y Pell đã kéo dài từ gần 3 thập niên qua, mà đỉnh cao là vụ khởi tố này; cũng như những xung đột giữa Giáo Hội và chính quyền dân sự như việc bắt các linh mục vi phạm ấn tín giải tội, yêu sách đòi Giáo Hội bỏ luật độc thân linh mục, câu chuyện khởi tố Đức Cha Wilson của tổng giáo phận Adelaide… có lẽ ta nên đọc qua cuốn “God and Caesar” của chính Đức Hồng Y George Pell.

Ngay trong những dòng đầu tiên của cuốn sách, Đức Hồng Y, một tác giả viết rất nhiều, rất hay, nổi tiếng đến mức từng được coi là ứng viên Giáo Hoàng sáng giá trong Cơ Mật Viện 2013, sau khi Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 tuyên bố thoái vị, đã nói về nền dân chủ tại Úc, và cho biết rằng tại Úc đã có những thời tâm tình bài Công Giáo trắng trợn đến mức không hiếm những quảng cáo về công ăn việc làm ghi rõ “Người Công Giáo và Do Thái Giáo xin miễn nộp đơn.” Miễn nộp đơn không có nghĩa là khỏi cần nộp đơn, cứ ngang nhiên vào làm thẳng. Không. Miễn nộp đơn là “đi chỗ khác chơi đi”.

Trong những ngày này, người ta nghe và thấy nhan nhãn trên các đài truyền hình những tiếng hò reo và những biểu ngữ “Cút đi, đừng thống trị thế giới chúng tôi.” Trước đó, hơn một thập niên trước, sau khi cuốn “God and Caesar” của Đức Hồng Y được tung ra vào năm 2007, có những người như David Marr viết hàng chục cuốn sách khác, cũng như tổ chức hàng trăm buổi diễn thuyết để công kích ngài. Những điều này tiêu biểu cho sự cọ sát quyết liệt giữa Giáo Hội và chủ nghĩa thế tục cực đoan tại Úc.

Bàn về hiện tượng này, Đức Hồng Y George Pell đã viết trong cuốn “God and Caesar”:

“Một trong những vấn đề then chốt vẫn tồn tại cho đến nay là tiến trình dân chủ có ý nghĩa gì và đâu là mức độ nó cho phép sự hội nhập các giá trị căn bản Kitô Giáo như cơ sở cho các luật cụ thể. Quan điểm đương đại và đang lan tràn cho rằng Giáo Hội không thể áp đặt các ý tưởng của mình trong một xã hội tự do thời nay. Tuy nhiên, cần phải chỉ ra những chỉnh lý cần thiết cho quan điểm đương đại và đang thịnh hành này, chẳng hạn như sự ngộ nhận của đa số dân chúng đối với lương tâm cá nhân, khuynh hướng đẩy lùi niềm tin và qua đó là các giáo huấn của Giáo Hội vào bầu khí cá nhân như thể các giáo huấn ấy không phản ảnh những sự thật cơ bản, tầm quan trọng của việc ta phải có thể khẳng định niềm tin của mình, và tiến trình dân chủ phải thực sự khích lệ một sự thảo luận mạnh mẽ về bản chất thực sự của việc tham gia vào tiến trình xây dựng dân chủ. Sự kiện đơn giản là Giáo Hội có một vai trò căn bản trong việc hình thành các giá trị của một quốc gia, đặc biệt thông qua các tranh luận một cách dân chủ. Bất cứ mưu toan nào nhằm làm câm nín vai trò thực sự này của Giáo Hội là một mối nguy hiểm cho xã hội đương đại.”

Xin được dịch sang Việt ngữ toàn văn nhận định của ngài về nền dân chủ tại Úc; và vai trò của Kitô hữu trong thế giới đương đại: phê phán và đối thoại.

Nền dân chủ tại Úc là một thiện ích đối với cộng đoàn Công Giáo, những người trải rộng trên toàn thể lục địa này, nhưng chẳng chiếm được đa số ở bất cứ một địa phương nào. 

Từ năm 1986, Công Giáo đã thay thế Anh Giáo trong vai trò là tôn giáo có đông tín hữu nhất quốc gia, với hơn một phần tư dân số một chút. Người Công Giáo đã hoan nghênh việc tách biệt giữa Giáo Hội và Nhà nước, đầu tiên như một sự bảo vệ cho họ chống lại khối đa số Anh Giáo – Tin Lành, trong khi lặng lẽ lờ đi thông điệp Vehementer Nos của Đức Giáo Hoàng Piô thứ Mười công bố vào tháng Hai 1906, trong đó ngài gọi việc tách biệt giữa Giáo Hội và Nhà nước là “một bất công nghiêm trọng” chống lại Thiên Chúa. Cũng như tại Hoa Kỳ, họ nhận thức rằng nền dân chủ của họ, về cơ bản, không nhằm chống lại Thiên Chúa cũng như tôn giáo của họ.

Nhiệt tình bài tôn giáo hiếm khi bùng lên tỏ tường tại Úc. Chẳng hạn, chưa từng có nhà thờ Công Giáo nào bị đốt bởi một nhóm côn đồ gây rối người Úc. Thực hành tôn giáo thấp hơn hầu hết mọi miền tại Hoa Kỳ, nhưng sự hung hăng thể hiện bằng bạo lực của chủ nghĩa thế tục cũng ít hơn. Người ta cho rằng người Úc bị cám dỗ để tầm thường hóa Chúa Kitô nhưng không đến mức đóng đinh Ngài. Chắc chắn là việc tách biệt giữa Giáo Hội và Nhà nước không ngăn chặn những khoản trợ cấp của nhà nước cho vốn ban đầu và chi phí điều hành các trường học của các tôn giáo như các trường của Công Giáo, Tin Lành, Do Thái Giáo, Hồi Giáo và các tôn giáo khác.

Trong hầu hết các phần của thế giới nói tiếng Anh bên ngoài Anh quốc và Ái Nhĩ Lan, đức tin Công Giáo được gieo trồng bởi các di dân Ái Nhĩ Lan, là những người không có chút cảm tình nào với Hoàng Gia và cái hệ thống đã đối xử tệ bạc với họ hàng bao nhiêu thế kỷ tại Ái Nhĩ Lan. Do đó, khác với nhiều miền tại lục địa Âu Châu, người Công Giáo tại Úc không mặn mà chút nào với những gì liên hệ đến nữ hoàng, triều đình và thường bỏ phiếu cho đảng Lao Động hay đảng Dân Chủ. Điều này ngày nay đang thay đổi hay đã thay đổi.

Chủ nghĩa bè phái, lan tràn như một trận dịch tái đi tái lại nhiều lần trong lịch sử Úc cho đến sau Thế Chiến Thứ Hai, là một sự xung đột giữa người Anh và người Ái Nhĩ Lan, giữa người Tin Lành và người Công Giáo hơn là bất cứ cuộc chiến nào giữa chủ nghĩa thế tục và tôn giáo, mặc dù ngày nay căng thẳng xã hội đáng kể nhất là giữa chủ nghĩa tự do thế tục và một hình thức liên minh mới giữa Kitô Giáo và Do Thái Giáo, mà các thành viên tích cực là những người Công Giáo và người Tin Lành.

Úc không có một miền tương đương với miền New England của người Thanh Giáo vào thế kỷ thứ 17, ngay cả tại khu vực Nam Úc, và cũng không có một miền nào so sánh được với vùng vành đai Tin Lành (Bible Belt) đương đại tại các tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ.

Sinh ra trong thời Thế Chiến Thứ Hai, kết thúc với thắng lợi của Đồng Minh trước khi tôi đủ trí khôn để nhận thức được cuộc xung đột này, tôi là một thiếu niên trong thập niên 50 đỉnh cao của cuộc chiến tranh lạnh, và rất ngưỡng mộ Đức Giáo Hoàng Piô thứ 12, và các Hồng Y trong Giáo Hội Công Giáo như Wyszyński, Mindszenty, Stepinac, Beran, và Slipyj là những vị công khai dám đương đầu với chủ nghĩa cộng sản [Đây có thể là một trong những lý do Đức Hồng Y Pell rất yêu mến người Việt Nam tị nạn – chú thích của người dịch].

Ở tiểu bang quê hương tôi là Victoria ở miền đông nam Úc châu, đời sống người Công Giáo diễn ra dưới quyền cai quản của Đức Tổng Giám Mục Melbourne từ 1917 đến 1963 là Đức Tổng Giám Mục Daniel Mannix, một người Ái Nhĩ Lan. Ngài là người ái mộ Đức Giáo Hoàng Lêô thứ 13, và tin rằng người Công Giáo đã quá chậm lụt trong việc nắm lấy những cơ may của nền dân chủ mở ra trước mắt họ. Ngài cũng là người phê phán mạnh mẽ các “sacristy priests” (linh mục trong phòng thánh nhà thờ), là những vị cho rằng tôn giáo không nên vươn ra bên ngoài bốn bức tường nhà thờ. Cũng như Đức Hồng Y Moran của Sydney và Đức Tổng Giám Mục Duhig của Brisbane, ngài dấn thân trở thành một gương mặt của công chúng, và dùng điều đó như một phương tiện để khích lệ người Công Giáo tăng cường sự tham gia vào đời sống công cộng tại Úc.

Những ưu tiên chủ đạo của Đức Tổng Giám Mục Mannix là vấn đề tôn giáo, và khi ngài qua đời vào năm 1963, đàn chiên của ngài đã có một đức tin sâu sắc và việc thực hành đạo cao một cách hiếm thấy trong lịch sử Kitô Giáo. Ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến nở rộ. Khích lệ của ngài trong ngành giáo dục thể hiện nơi một hệ thống trường học kéo dài suốt 90 năm mà không cần bất cứ tài trợ nào của nhà nước, được điều hành thông qua các dòng tu, đã hình thành một tầng lớp trung lưu người Công Giáo so sánh được – và có lẽ vượt qua cả - những thành công tại Hoa Kỳ.

Khi ngài đặt chân đến đất Úc, nhan nhãn những quảng cáo về công ăn việc làm ghi rõ người Công Giáo và Do Thái Giáo xin miễn nộp đơn. Sự phân biệt đối xử và cô lập là rất thật, cho dù thường là nhẹ nhàng. Ngài khích lệ niềm tự tin và lòng trung thành với Chúa Kitô trong cộng đoàn chủ yếu là người Ái Nhĩ Lan của ngài với những lời bình luận và phê phán xã hội thường xuyên của ngài.

Hai vấn đề gây tranh cãi liên quan đến thời gian cai quản lâu dài của ngài là thành công của ngài trong việc chống lại chính sách bắt buộc thi hành quân dịch trong hai kỳ trưng cầu dân ý hồi Thế Chiến Thứ Nhất và việc ngài công khai ủng hộ các thành viên nghiệp đoàn có xu hướng chống cộng sản (là những người hoạt động trong “các nhóm kỹ nghệ” trong đảng Lao Động thường được gọi là “Groupers”). Bị trục xuất khỏi đảng Lao Động sau những chia rẽ từ 1954 đến 1955, những người này hình thành nên đảng Dân Chủ Lao Động. Trong cố gắng thứ hai này, Đức Tổng Giám Mục Mannix được sự ủng hộ của nhà văn và chính trị gia nổi tiếng người Melbourne B. A. Santamaria.

Tôi ngưỡng mộ Đức Cha Mannix và ông Santamaria khi còn là một thiếu niên, và ngày nay, sau 50 năm, tôi vẫn hết sức ngưỡng mộ các vị. Họ linh hứng trong tôi quyết tâm chống lại bất cứ mưu toan nào nhằm đẩy các giáo huấn Kitô và Công Giáo vào bầu khí riêng tư, và hình thành đáng kể trong tôi nền tảng tri thức cho tư duy của mình. Gương sáng và những bài viết của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng nâng đỡ và khích lệ tôi, và vô số những người khác, giúp tôi kiên trì trong các cuộc chiến về văn hóa, đặc biệt là trong cuộc chiến chống lại “nền văn hóa sự chết”. Thoạt đầu, tôi không thích từ này lắm, nghĩ rằng nó cường điệu quá, thậm chí là có vẻ gây hấn, nhưng khi tôi suy tư về sự lan tràn của nạn dịch phá thai (mà có lẽ một phần ba phụ nữ Úc là nạn nhân), khi tôi nghĩ đến nhiệt tình của công chúng đối với an tử và trợ tử, trào lưu đòi hợp pháp hóa ma túy và những hậu quả của nó, tình trạng suy thoái nhân khẩu học mọi nơi trong thế giới phương Tây, chúng ta phải thấy rằng thuật ngữ này là chính xác và có tính tiên tri.

Quan tâm chủ yếu của tôi là vấn đề tôn giáo. Những bài viết triết học này không phải là một sự thay thế cho lời mời gọi hoán cải, ăn năn và tin vào Tin Mừng của Chúa Kitô, nhưng như là một hệ quả tất yếu quan trọng của lời mời gọi ấy, là chúng ta phải đóng góp vào cuộc đối thoại với xã hội chung quanh chúng ta. Lịch sử và xã hội học chỉ ra rằng các tôn giáo lớn sản sinh ra một cách khác biệt đáng kể các xã hội và các nền văn hóa. Các tôn giáo không chân thật các loại có thể là thuốc độc, nhưng quan tâm của tôi là sự đóng góp của Kitô Giáo và Công Giáo vào đời sống xã hội phương Tây.

Có một vài xác tín cơ bản xuyên suốt những luận văn này. Căn cơ nhất là sự cam kết và kính trọng dành cho lý trí, với tin tưởng rằng trong nhiều trường hợp lý trí có thể giúp chúng ta nhận thức được chân lý. Không có xác tín này, việc bàn cãi về những khác biệt trở thành vô vị và thậm chí là nguy hiểm về lâu dài.

Trong diễn từ gây nhiều tranh cãi của ngài tại Đại Học Regensburg vào năm 2006, Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 đã hùng hồn nhấn mạnh tầm quan trọng của lý trí trong truyền thống tư duy Công Giáo. Chúng ta được mời gọi đến với cuộc gặp gỡ giữa đức tin và lý trí, một cuộc gặp gỡ giữa sự khai sáng thực sự và tôn giáo, vì chính Thiên Chúa là hợp lý. Lý trí là cây cầu chung mà chúng ta bước đi với những người thuộc các tôn giáo khác và những ai không có niềm tin tôn giáo khi chúng ta hoạt động để duy trì và cải thiện các cộng đồng và xã hội chúng ta thông qua đối thoại và bàn cãi. 

Năm chương đầu tiên cố gắng xác định những đóng góp của các tín hữu Kitô cho đời sống dân chủ, những gì chưa được nhìn nhận và những gì đã được xác định, những gì được khích lệ và những gì bị người ta chống lại. Trong một nền dân chủ, các Kitô hữu có quyền hoạt động để đa số trong xã hội chấp nhận quan điểm của họ cũng như đã và đang chấp nhận quan điểm của các công dân khác nhưng không phải được chấp nhận chỉ vì quan điểm ấy được diễn dịch từ các giá trị Kitô nhưng vì nó đóng góp cho sự thăng tiến của nhân loại. Chính trị là lãnh địa của người tín hữu giáo dân hơn là hàng giáo sĩ, đó là một hệ quả tốt từ việc tách biệt giữa Giáo Hội và Nhà nước.

Các tín hữu Kitô tin rằng Thiên Chúa là một mầu nhiệm của tình yêu, rằng hai giới giới răn trọng nhất đòi buộc tình yêu dành cho Chúa và dành cho tha nhân. Tình yêu chân thật là tình yêu hoàn toàn tự do trao ban, và mọi xã hội tốt phải hoạt động để mang lại một cấu trúc cho tự do. Cái khó khăn ở đây là tự do chỉ có thể tìm thấy nơi sự thật. Tự do, lý trí, và tình yêu là một thể thống nhất ba ngôi vị và đây là lý do trọng tâm tại sao học thuyết xã hội Công Giáo không thể bị cho là công khai hay che đậy việc cổ vũ cho một nền chính trị thần quyền.

Năm chương cuối cùng bàn về quan hệ giữa chân lý Kitô Giáo và các giá trị khác nhau trong các lãnh vực của cuộc sống phương Tây.

Dù cho có một ít các khoa học gia vẫn khăng khăng cho rằng tôn giáo đang héo tàn, vai trò của thần học và siêu hình học vẫn còn quan trọng trong đời sống Đại Học, quan trọng như cuộc đối thoại về sự tương hợp giữa Thiên Chúa và thuyết tiến hóa, về khả năng hay nhu cầu của một Đấng Hoạch Định Sáng tạo đằng sau sự sắp đặt trật tự thế giới. 

Tính hợp lý về sự hiện hữu của Thiên Chúa phải được đề cập thường xuyên, đặc biệt cho những người Công Giáo trầm lặng, cho dù tỉ lệ người vô thần có suy giảm đi chăng nữa, trong hoàn cảnh mà các quan điểm trái ngược về hôn nhân, gia đình, sự sống thường gắn bó với việc có niềm tin tôn giáo hay không vẫn tiếp tục khơi lên các xung đột chính trị tại Hoa Kỳ, Úc và các nơi khác.

Chính Chúa Kitô bảo chúng ta rằng “của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” (Lc 20:25) Điều này vẫn là điểm khởi đầu cho mọi suy tư về Kitô hữu và đời sống chính trị.
Vietcatholic
Source:Catholic University of America Press


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
=Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng hôm 23-3-2019 dành cho 1.150 người gồm ban giám đốc, các học sinh và phụ huynh cũng như các cựu học sinh của Học viện Barbarigo ở thành phố Padova, bắc Italia, nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập cơ sở giáo dục này.
Hôm 20-3-2019, Đức Cha Florentin Crihalmeanu, GM giáo phận Cluj-Gherla bên Rumani, cho biết như trên vào nói thêm rằng lễ phong chân phước sẽ diễn ra tại Campia Libertatii (Quảng trường tự do), thuộc giáo phận Blaj. Hôm 19-3 trước đó, Bộ Phong Thánh đã công bố sắc lệnh nhìn nhận cuộc tử đạo của 7 GM Rumani, bị chế độ cộng sản Rumani sát hại trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến 1970.
Hôm 19-3 vừa qua, với sự chấp thuận của ĐTC, Bộ Phong Thánh đã công bố 8 sắc lệnh liên quan đến các án phong chân phước.
Trưa Chúa nhật 17.03, ĐTC đã cầu nguyện và bày tỏ tình liên đới gần gũi với cộng đoàn Hồi giáo sau vụ tấn công ở New Zealand. Hồng Thủy - Vatican Sau khi đọc Kinh Truyền tin vào trưa Chúa nhật 17.03, ĐTC nhắc lại các cuộc khủng bố tại New Zealand vào ngày 15 .03 vừa qua và mời gọi cầu nguyện và hoạt động cho hòa bình.
SÁNG KIẾN 24 GIỜ CHO CHÚA NĂM NAY ĐƯỢC TỔ CHỨC VÀO NGÀY 29/3/2019 VỚI CHỦ ĐỀ “TÔI CŨNG KHÔNG LÊN ÁN CHỊ ĐÂU”....Trong thông báo đưa ra hôm 8 tháng Ba, Hội Đồng Tòa Thánh Tái Truyền Giảng Tin Mừng cho biết như sau: Vào ngày Thứ Sáu, 29 tháng Ba năm 2019, lúc 17:00, tại Đền Thờ Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ chủ sự Phụng Vụ Thống Hối khai mạc truyền thống 24 giờ cho Chúa, là một sáng kiến của Hội Đồng Tòa Thánh Tái Truyền Giảng Tin Mừng diễn ra hàng năm vào Thứ Sáu và Thứ Bảy trước Chúa Nhật thứ Tư Mùa Chay.
Bà Barbara Jatta, giám đốc Viện Bảo tàng Vatican, đại diện cho Vatican tham dự phiên họp lần thứ 63 của Ủy ban về Phụ nữ của Liên hiệp quốc (LHQ), diễn ra từ ngày 11-22.03. Hồng Thủy - Vatican
Ngày 13.03.2019 hôm nay là tròn 6 năm ĐTC Phanxicô được chọn làm Giáo hoàng, kế vị thánh Phêrô tông đồ để hướng dẫn con thuyền Hội Thánh. Hồng Thủy - Vatican ĐTC Phanxicô là vị GH thứ 265 của Giáo hội, nhưng là GH đầu tiên đến từ châu Mỹ, là GH đầu tiên thuộc dòng Tên, là GH đầu tiên chọn tên Phanxicô – người nghèo của Assisi.
Ba cám dỗ mà Chúa Giêsu phải chịu đó chính là ba con đường mà thế gian luôn đề nghị, hứa hẹn những thành công lớn, ba con đường để lừa gạt con người: ham muốn thành công, vinh quan trần thế, biến Thiên Chúa thành công cụ. Đây là cách làm cho chúng ta hư mất. Phương dược thắng cám dỗ: đời sống nội tâm, tin tưởng vào Thiên Chúa, chắc chắn vào tình yêu Thiên Chúa.
TOÀN VĂN SỨ ĐIỆP NGÀY THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI LẦN THỨ 56 CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ....Hôm 8 tháng Ba, Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố Sứ điệp Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi lần thứ 56 sẽ được cử hành vào Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh, 12 tháng Năm tới đây. Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi đã được thiết định bởi Thánh Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục khi Công Đồng Vatican II đang diễn ra và được cử hành lần đầu tiên vào năm 1963.
Thông tín viên Jeanne Smits của Life Site News có bài tường trình từ Paris nhan đề “Is French cardinal convicted of sex-abuse cover up latest victim of anti-Catholic witch hunt?” (“Có phải vị Hồng Y người Pháp bị kết án bao che lạm dụng tính dục là một nạn nhân mới của trào lưu bài Công Giáo như săn phù thủy không?”).
Bảo Trợ