Nghệ An Từng Vuột Mất Cơ Hội Trở Thành Kinh Đô Của Đại Việt

12 Tháng Ba 20194:14 CH(Xem: 701)

Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như:
ditich thanh co Vinh nghean(Di tích thành cổ Vinh còn sót lại (Ảnh: ST)

  • Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
  • Thời Hai Bà Trưng kinh đô ở Mê Linh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).
  • Thời Ngô Quyền kinh đô lại được chọn là Cổ Loa.
  • Thời Đinh kinh đô đóng ở Hoa Lư (nay thuộc Trường Yên, Ninh Bình).
  • Các nhà Lý, Trần, hậu Lê, Mạc đều chọn Thăng Long (Hà nội ngày nay) để đóng đô.
  • Nhà Hồ đóng đô ở Tây Đô (nay là Thanh Hóa).
  • Các đời chúa Nguyễn nhiều lần dời dinh, cuối cùng chọn Phú Xuân (Huế) làm chính dinh.
  • Nhà Tây Sơn chọn Quy Nhơn, rồi đến Phú Xuân.
  • Nhà Nguyễn chọn Huế làm kinh đô.


Nhưng bên cạnh những vùng đất trên còn phải kể đến Nghệ An, vùng đất suýt chút nữa đã trở thành kinh đô của nước ta vào thời nhà Tây Sơn, dưới sự trị vì của vua Quang Trung.

Quyết tâm xây kinh đô mới ở Nghệ An

Từ năm 1788, Nguyễn Huệ đã muốn xây một đô thành mới ở Phù Thạch, Nghệ An thay cho kinh đô Phú Xuân. Ông chọn La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp làm việc này.

Đô thành mới được đặt tên là “Phượng Hoàng Trung Đô” – “phượng hoàng” là tên một loài chim đã gắn với văn hóa truyền thống, còn “trung đô” là bởi nơi đây nằm giữa hai thành chính quan trọng của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ: Thăng Long và Phú Xuân. Phượng Hoàng Trung Đô cách Thăng Long 300 km, cách Phú Xuân 300 km.

Nguyễn Huệ đã gửi chiếu thư cho Nguyễn Thiếp ngày 1 tháng 6 năm Mậu Thân (1788) với nội dung như sau:

Chiếu truyền cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp được biết: Ngày trước ủy thác cho Phu tử về Nghệ An xem đất đóng đô cho kịp kỳ này ngự giá ở Bắc về trú. Sao ta về tới đây thấy chưa được việc gì? Nay ta hãy hồi giá về Phú Xuân cho sĩ tốt nghỉ ngơi. Vậy ban chiếu xuống cho Phu tử nên sớm cùng ông Trấn thủ Thận tính toán và làm việc xem đất đóng đô tại Phù Thạch

Khi biết Nguyễn Huệ muốn xây kinh đô mới ở Nghệ An trong thời gian ngắn, có lẽ lo lắng việc này sẽ làm khổ dân địa phương, nên Nguyễn Thiếp chưa thực thi. Trấn thủ Nguyễn Thận trình tấu thư cho Nguyễn Huệ báo La Sơn Phu Tử chưa chịu xem đất nên công trình chưa thể khởi công được.

Nguyễn Huệ gửi chiếu thư cho Nguyễn Thiếp trách cứ việc để chậm trễ, Nguyễn Thiếp gửi thư đến Phú Xuân khuyên Nguyễn Huệ không nên chọn vùng Phù Thạch, vì nơi ấy kề núi kề sông, đất chật hẹp, bờ sông lại hay sạt lở, việc đóng đô nơi ấy không thuận lợi.

Nguyễn Huệ trả lời trong tờ chiếu vào ngày 3 tháng 9 năm Thái Đức 11, tức năm 1788, đại ý rằng tiếp nhận lời khuyên của Nguyễn Thiếp, nhưng vẫn muốn chọn đóng ở Nghệ An:

Nếu bảo rằng những chỗ như Phượng Hoàng, Khánh Sơn không được đô hội thì sao chẳng tìm chỗ tốt khác cho thỏa ý quả cung trông mong? … Nhớ buổi hồi loan kỳ trước lúc qua Hoành Sơn, quả cung đã từng mở xem địa đồ, thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trường hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để  xây kinh đô mới. Thật là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy.

Nguyễn Huệ cũng giải thích thêm rằng:  

Nay kinh đô ở Phú Xuân thì hình thế cách trở, ở xa trị Bắc Hà địa thế khó khăn. Theo đình thần nghị rằng chỉ đóng đô ở Nghệ An là đường vừa cân, vừa khống chế được trong Nam ngoài Bắc và sẽ làm cho người  tứ phương đến kêu kiện tiện việc đi về.

Như vậy quyết định này được đưa ra chỉ vài tháng trước khi Nguyễn Huệ chính thức lên ngôi vua. Cũng trong tờ chiếu đó, Nguyễn Huệ còn ghi nhận ở Nghệ An “hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng, có thể chọn để xây dựng kinh đô mới. Thật là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy!”.

Phong thủy núi Dũng Quyết, Nghệ An – Nơi được chọn xây dựng kinh thành mới

Truyền thuyết kể rằng, thấy Nguyễn Huệ vẫn quyết xây kinh đô mới, Nguyễn Thiếp liền đi Nghệ An một chuyến. Vốn giỏi về dịch lý và phong thủy, ông đã xem kỹ hai cuốn sách của Cao Biền do Hoàng Phúc mang sang nhằm triệt phá phong thủy vùng Giao Chỉ (sau đó Hoàng Phúc bị nghĩa quân Lam Sơn bắt được và thu giữ hai cuốn sách này). Hai cuốn cách này có nói đến vùng đất quý ở núi Dũng Quyết, nên Nguyễn Thiếp quyết đến nơi đây một chuyến.

Đến khu vực núi Dũng Quyết, Nguyễn Thiếp tìm thấy Tổ sơn xuất phát từ khe Bò Đái nằm trong 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, khí mạch chạy xuống núi Dũng Quyết, bao bọc xung quanh rồi vòng lại Tổ sơn. Núi Dũng Quyết thành nơi tụ khí, có đủ âm dương rất đắc địa.

blank
Sông Lam – Núi Hồng Lĩnh. (Ảnh từ nghean.gov.vn)

Từ phía sông Lam quan sát sẽ thấy bên trái có Thanh Long, chính là dòng sông Lam; bên phải có Bạch Hổ chính là vùng núi Hà Tĩnh, cùng đưa khí tụ về núi Dũng Quyết. Còn ở mặt trước phía Đông núi Dũng Quyết là Chu Tước và phía sau là Huyền Vũ làm hậu phương. Nhận thấy nơi đây đắc địa hiếm có, Nguyễn Thiếp quyết định chọn làm nơi để xây “Phương Hoàng Trung Đô”.

Ông chọn vị trí xây dựng ở chỗ có ngọn núi nằm ngay giữa núi Phượng Hoàng và núi Kỳ Lân (còn gọi là núi Cánh Phượng và núi Con Mèo) vì nhận thấy nơi đây có đủ Long – Ly – Quy – Phượng. Ngày nay, địa điểm này thuộc xã Yên Trường, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An.

Nguyễn Thiếp báo cho Nguyễn Huệ về vùng đất mới tìm được ở Nghệ An, Nguyễn Huệ đồng ý nghe theo lời khuyên này.

Phượng Hoàng Trung Đô
Di tích “Phượng Hoàng Trung Đô”. (Ảnh từ ditichlichsuvanhoa.com)

Hiện nay dưới chân núi Dũng Quyết vẫn còn dấu tích của Phương Hoàng Trung Đô rộng khoảng 10 mẫu, với hai vòng thành là thành Nội và thành Ngoại hình thang. Thành ngoại cao 3 đến 4m, chu vi 2.820 m, diện tích 22 ha. Phía ngoài có hào rộng 3m, sâu 3m; thành nội xây bằng gạch vồ và đá ong, cao 2m, chu vi gần 1.680m. Ở giữa có tòa lầu 3 tầng nối với điện Thái Hòa. Xung quanh thành có các đồn.

Vì sao “Phượng Hoàng Trung Đô” cuối cùng không được chọn?

Theo các nguồn sử liệu thì Phượng Hoàng Trung Đô được xây dựng trong thời gian 4 năm, từ năm 1788 đến 1792, trùng với thời điểm Nghệ An bị mất mùa, dân tình đói kém. Tuy nhiên Nguyễn Huệ vẫn ban chiếu yêu cầu xây dựng: “Những công việc to, tạm thời hoãn lại. Nhưng Sở Ngũ Hành thì không thể lưỡng lự được, cần phải hoàn thành sớm”. Theo sử liệu nước ngoài thì người dân đói khổ nên phản đối, mạnh ai nấy trốn khiến việc xây dựng gặp khó khăn, việc cưỡng ép xây dựng trong thời điểm mất mùa khiến người dân oán thán.

Nghệ An từng vuột mất cơ hội trở thành kinh đô của Đại Việt dưới thời vua Quang Trung
Phượng Hoàng Trung Đô nhìn từ trên cao. (Tranh vẽ tay qua Wikimapia)

Sau khi lên ngôi, vua Quang Trung cũng từng đi thị sát việc xây dựng kinh đô mới vào các năm 1789, 1791, 1792. Thế nhưng khi việc xây dựng “Phượng Hoàng Trung Đô” đang gấp rút thì vua Quang Trung bị bệnh nặng rồi mất. Về nguyên nhân vua Quang Trung bị bệnh thì cũng có những ghi chép khác nhau. Cũng có thuyết cho rằng, bởi vì vua Quang Trung khi giành được Phú Xuân đã phá lăng tẩm 8 đời chúa Nguyễn, ném thi thể xuống sông, mạo phạm những vị chúa đã có công mở mang bờ cõi, nên sau này mới sinh bệnh (Đây cũng là nguyên nhân vua Gia Long đối xử tàn tệ với hài cốt của vua Quang Trung sau này). (Xem loạt bài Các đời chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ Đại Việt như thế nào?)


Sách  “Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện” ghi rằng:

Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm đến lăng tẩm của Liệt Thánh. Một ngày kia đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ màng thấy một lão trượng đầu bạc, áo trắng, cầm gậy sắt từ không trung đi đến, mắng rằng: Ông cha mày đều sinh ở đất vua, mày sao dám mạo phạm đến lăng tẩm. Nói vừa dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã xuống bất tỉnh hồi lâu mới tỉnh lại. Từ ấy bệnh càng ngày càng nặng, mới triệu viên trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về thương nghị việc dời đô ra Nghệ An.

Sách “Ngụy Tây liệt truyện” chép:

Từ đó bệnh của Vua không chữa khỏi được và trở nên nguy kịch. Trước khi mất vua Quang Trung căn dặn các cận thần rằng: “Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai có cả cõi Nam này. Nay đau ốm tất không khỏi được. Thái tử (Quang Toản) tư chất hơn cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định (Nguyễn Phúc Ánh) là quốc thù, mà Thái Đức (Nguyễn Nhạc) thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lảo thảo thôi. Lũ người nên hợp sức mà giúp thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô (Vinh) để khống chế thiên hạ. Bằng không, quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn thân.

Thế nhưng khi vua Quang Trung mất, việc xây dựng kinh đô mới bị gác lại, Quang Toản lên ngôi đã không thực hiện việc dời đô theo ý vua cha.

Nghệ An từng vuột mất cơ hội trở thành kinh đô của Đại Việt dưới thời vua Quang Trung
Điện thờ vua Quang Trung. (Ảnh qua Wikimapia)

Năm 1801, Nguyễn Phúc Ánh đưa quân tiến đánh Phú Xuân, vua Quang Toản chạy ra Thăng Long. Lúc này lầu rồng 3 tầng ngay chính giữa “Phượng Hoàng Trung Đô” ở Nghệ An đột nhiên sụp đổ.

Sách Hoang Lê nhất thống chí mô tả: 

Tháng 6 mùa hè năm ấy (tức 1801), thình lình viên trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Thận sai người báo tin là Lầu Rồng ba tầng ở đấy tự dưng đổ sụp, những người nghe tin đều cho là điềm chẳng lành.

Quả nhiên sang năm (1802) thì nhà Tây Sơn mất.

Ngày nay, qua thời gian và sự tàn phá trong loạn lạc, “Phượng Hoàng Trung Đô” chỉ còn lại những dấu tích mờ nhạt ở phía Nam của thành phố Vinh.

Trần Hưng
Theo Tri Thuc VN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
MUỐN CÓ NGƯỜI TÀI, TRƯỚC PHẢI DẸP BỌN TIỂU NHÂN - NGƯỜI XƯA NÓI VỀ VIỆC TIẾN CỬ, CHỌN LỰA VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI Thưa chư vị, Chúng tôi xin giới thiệu ở đây bài văn làm trong kỳ thi Đình (làm tại sân triều đình) - do nhà vua ra đề bài, chấm bài, để phân hạng các tiến sĩ. Người đỗ đầu (đủ 10 phân) là Trạng nguyên. Đề bài thường hỏi về các vấn đề lớn của đất nước và về việc trị nước. Bài thi đó gọi là Sách văn đình đối.
Tết Đoan Ngọ là một trong những ngày lễ Tết truyền thống ở Việt Nam. Tết Đoan Ngọ được tổ chức vào ngày mùng 5/5 âm lịch. Vậy năm 2018 Tết Đoan Ngọ rơi vào ngày nào? Tết Đoan Ngọ năm 2019 được tổ chức vào ngày mùng 5/5 âm lịch tức là rơi vào thứ 6 ngày 7/6 dương lịch. Tết Đoan Ngọ là cái Tết chung của một số nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, ở Việt Nam, Tết Đoan ngọ còn mang những ý nghĩa khác biệt. Hằng năm cứ đến mồng 5 tháng 5 (âm lịch) dân ta lại tổ chức ăn Tết Đoan ngọ. Tết Đoan ngọ còn gọi là Tết Đoan dương.
Hoàng đế Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở. Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trước hiểm hoạ ngoại xâm đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện – Đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam.
Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại kí tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thiện, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.
Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục Hưng - Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.
Nam Phương hoàng hậu (1914 – 1963) là vị hoàng hậu cuối cùng của lịch sử Việt Nam. Đúng như cái tên do hoàng đế Bảo Đại ban tặng, trong buổi biến thiên dữ dội của lịch sử, hoàng hậu Nam Phương – hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) – đã sống một cuộc đời lặng lẽ tỏa hương và giờ đây, mộ phần đơn sơ của bà vẫn lặng lẽ nhìn xuống thung lũng mái ngói dập dờn của một ngôi làng bình yên miền Tây Nam nước Pháp.
Sau khi bàn về tiếng Tàu, tiếng Pháp, chúng ta chuyển sang tiếng Anh và bước vào một nền văn hóa đã có những ảnh hưởng “tốt” cũng như “xấu” vào đời sống của người Việt trong khoảng 30 năm chiến tranh vừa qua. Có người gọi cuộc chiến vừa qua là “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc nhưng, theo báo chí phương Tây, đó là “cuộc chiến tranh Việt Nam”hay nói một cách khác là “cuộc đối đầu giữa hai phe”, một bên là Tự do gồm Việt Nam Cộng hòa, Mỹ và 5 nước Đồng minh (gồm Australia, New Zealand, Đại Hàn, Thái Lan và Philipin)
Năm 1884, ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam. Ngoài việc là một bác sĩ quân y, ông còn là một nhiếp ảnh gia. Ông đã chụp nhiều hình ảnh lịch sử quan trọng duy nhất còn lại về thành Hà Nội giai đoạn 1884-1885, và chúng trở thành kho tư liệu và đề tài cho các hoạ sĩ căn cứ để vẽ nên những loạt tranh minh hoạ vô cùng phong phú cho cuốn sách ‘Une campagne au Tonkin’ (Một chiến dịch ở Bắc Kì), xuất bản tại Paris, Pháp năm 1892.
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Thời nhà Nguyễn vào thế kỷ 19, lãnh thổ Việt Nam hết sức rộng lớn. Đỉnh điểm vào thời vua Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với diện tích ngày nay. Vậy lãnh thổ Việt Nam thời nhà Nguyễn gồm những vùng đất nào mà có thể rộng lớn đến vậy?
Bảo Trợ