Tại Sao Kính Thánh Giuse Vào Tháng Ba?

01 Tháng Ba 20194:01 SA(Xem: 1425)

Tháng Ba được dành để kính Thánh Giuse. Có lý do gì gắn liền tháng Ba với Thánh Giuse?

blankTrong một năm, lòng đạo đức bình dân thường dành ra vài tháng để kính nhớ một nhân vật nào đó, cụ thể là: tháng Năm kính Đức Mẹ, tháng Sáu kính Thánh Tâm Chúa, tháng Mười kính Đức Mẹ Mân Côi, tháng Mười Một nhớ các linh hồn đã qua đời. Nói chung, nguồn gốc của các tháng dâng kính như vậy không có gì khó hiểu. Lúc đầu, người ta mừng lễ kính một vị thánh. Nhằm để chuẩn bị mừng lễ, người ta tổ chức ba ngày hay chín ngày dọn mình; và rồi tính cách long trọng của lễ còn kéo dài ra suốt tuần bát nhật. Vị chi là non 20 ngày rồi, cho nên kéo dài ra thêm một tháng cũng chẳng vất vả gì. Điều này rõ rệt với phụng vụ Đông phương: ngày 15 tháng Tám là lễ Đức Mẹ Lên Trời; các đan sĩ dành 15 ngày trước đó để chuẩn bị và kéo dài thêm 15 ngày sau đó. Trong bối cảnh đó, chúng ta có thể hiểu được vì sao tháng Ba được dành cho Thánh Giuse, bởi vì lễ Thánh Giuse được mừng trong tháng Ba, ngày 19. Việc dâng kính tháng Ba cho Thánh Giuse được Đức Giáo hoàng Piô IX chuẩn nhận ngày 27/4/1865.

Tại sao lễ Thánh Giuse được mừng vào ngày 19 tháng Ba?

Thường lễ các thánh được mừng vào ngày qua đời, được coi như ngày sinh (dies natalis) vào cõi sống trường cửu. Thế nhưng, đối với Thánh Giuse cũng như nhiều thánh thời cổ, thì chúng ta không biết ngày qua đời của các ngài. Vì thế các ngày lễ thường được ấn định dựa theo một truyền thống địa phương nào đó, chẳng hạn như lễ cung hiến một thánh đường nào đó. Riêng đối với Thánh Giuse, chúng ta nên ghi nhận một điểm quan trọng. Trong khi lễ kính các thánh tử đạo đã xuất hiện từ những thế kỷ đầu tiên, tiếp đến là các lễ kính Đức Mẹ từ thế kỷ IV và các thánh hiển tu, nhưng nói được là trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất, không nơi nào mừng lễ kính Thánh Giuse hết. Quả thật Thánh Giuse là một con người thầm lặng, lúc còn sống cũng như sau khi đã qua đời. Đừng kể vài chứng tích lẻ tẻ, phải chờ đến thế kỷ XIV, mới thấy lễ kính Thánh Giuse được cử hành trong các dòng hành khất, chẳng hạn Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ (năm 1324), Dòng Phan sinh (năm 1339). Sang thế kỷ XV, lễ mới được mở rộng. Năm 1467, giáo phận Milano (Italia) ấn định lễ Thánh Giuse vào ngày 20 tháng Ba, và chuyển sang ngày 19 tháng Ba từ năm 1509. Phải chờ tới cuộc cải tổ phụng vụ sau công đồng Trentô, do Đức Piô V thì lễ Thánh Giuse mới được ghi vào lịch phổ quát của Giáo Hội (1568-1570). Lễ được mừng vào ngày 19 tháng Ba, và trở thành lễ buộc từ năm 1621, dưới thời Đức Grêgôriô XV.

Xin trở lại với câu hỏi, có gì liên hệ giữa ngày 19 tháng Ba với Thánh Giuse?

Các sử gia vẫn chưa tìm ra mối liên hệ. Tại vài Giáo Hội Hy Lạp, Thánh Giuse được mừng sau lễ Giáng Sinh (ngày 26 tháng Chạp), nhưng người cùng đứng chung với các tổ phụ từ ông Abraham cho đến Thánh Giuse. Bên Ai Cập, người ta mừng ngày qua đời của Thánh Giuse vào ngày 20 tháng Bảy, không hiểu dựa trên cơ sở nào. Bên Tây phương, lần đầu tiên tên Thánh Giuse được xướng ngày 19 tháng Ba là một cuốn Tử Đạo Thư của một đan viện Biển Đức ở Reichenau (trước đây thuộc tổng Zurigô Thụy sĩ) vào thế kỷ IX, có lẽ dựa theo một Phúc Âm ngụy thư thế kỷ IV.

Bên cạnh lễ mừng vào ngày 19 tháng Ba, phụng vụ còn dành một lễ nhớ nữa, đó là lễ Thánh Giuse Thợ, được Đức Piô XII thiết lập ngày 1/5/1955, nghĩa là vào Lễ Lao động. Điều này không có gì khó hiểu. Trước đó, phụng vụ còn mừng lễ Thánh Giuse Bổn Mạng Hội Thánh, được Đức Piô IX ấn định (10/9/1847), vào Chúa nhật thứ ba sau lễ Phục Sinh, nhưng sau đó được Đức Piô X (24/7/1913) dời vào ngày thứ tư trong tuần thứ hai sau lễ Phục Sinh. Lễ này bị bãi bỏ năm 1956, khi được thay thế bằng lễ Thánh Giuse Thợ.

Cũng nên biết là vài nơi, người ta còn mừng lễ đính hôn của Đức Mẹ và Thánh Giuse, vào ngày 23 tháng Giêng. Nguồn gốc lễ này bắt nguồn từ linh mục Jean Gerson vào thế kỷ XV. Còn lễ Thánh Gia (Chúa Giêsu, Mẹ Maria, Thánh Giuse) thì mang tính cách phổ quát, được mừng vào Chúa Nhật sau lễ Giáng Sinh, cũng có thể kể như một lễ kính Thánh Giuse, mặc dù không phải 100%. Lễ này được Đức Lêô XIII du nhập vào lịch chung của Giáo Hội năm 1893 (hồi đó, mừng vào Chúa Nhật thứ ba sau lễ Hiển Linh).

Tháng Ba được dành để kính Thánh Giuse, nhưng có những việc gì làm để tôn kính người?

Có lẽ việc tôn kính mà Thánh Giuse thích hơn cả là sống theo Phúc Âm, cũng như ngài đã cố gắng thi hành, đặc biệt trong việc tuân hành ý Chúa, và trung thành với việc bổn phận. Điều này được nhắc tới nhiều lần trong các văn kiện Toà Thánh, gần hơn cả là Tông huấn “Redemptoris Custos” (Người gìn giữ Chúa Cứu Thế) của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, ban hành ngày 15/8/1989. Khi bàn về các việc đạo đức, thì có nhiều hình thức, chẳng hạn như: Kinh cầu Thánh Giuse, ngắm 7 sự vui buồn Thánh Giuse, kinh cầu cho Hội Thánh. Có lẽ trong số này, kinh cầu Thánh Giuse được nhiều người biết đến hơn cả. Kinh cầu này dựa theo sườn của kinh cầu Đức Bà, và được sử dụng trong vài hiệp hội tại Rôma từ thế kỷ XVI (khoảng năm 1597). Bố cục như sau: Mở đầu là những lời khẩn cầu dâng lên Ba Ngôi Thiên Chúa, và Đức Mẹ Maria; tiếp theo là những lời cầu cùng Thánh Giuse dưới 25 tước hiệu. Các tước hiệu này có thể phân thành 5 nhóm. Nhóm đầu tiên nói sự thánh thiện cũng như nguồn gốc của Thánh Giuse (dòng dõi vua Đavít, thuộc hàng các tổ phụ). Nhóm thứ hai nói đến các chức vụ được ủy thác (bạn Đức Maria, dưỡng phụ Đức Giêsu, Đấng che chở cho Đức Kitô và Thánh Gia). Nhóm thứ ba ca ngợi 6 nhân đức của thánh nhân (công chính, khiết tịnh, khôn ngoan, mạnh bạo, vâng lời, trung thành). Nhóm thứ tư đề cao Thánh Giuse như khuôn mẫu cho các nhân đức xã hội (nhẫn nại, thanh bần, cần cù lao động, mẫu gương cho các gia trưởng, các người khiết tịnh cũng như người có đôi bạn, an ủi kẻ âu sầu). Nhóm cuối cùng nhắc đến những tước hiệu bổn mạng (của những người lâm tử và của toàn thể Hội Thánh).

Còn suy gẫm 7 sự vui buồn Thánh Giuse là suy gẫm cái gì?

Kinh này dựa theo việc suy gẫm bảy sự đau đớn Đức Mẹ do các tu sĩ Dòng Tôi tớ Đức Mẹ phổ biến. Việc suy gẫm bảy sự vui buồn Thánh Giuse được in thành sách từ thế kỷ XVI, suy gẫm các biến cố vui buồn của Thánh Giuse, dựa theo những trình thuật Tin Mừng thơ ấu của thánh Mathêu và Thánh Luca. Nên lưu ý là đối với Đức Mẹ thì chỉ nói tới bảy sự đau đớn, còn đối với Thánh Giuse, chúng ta vừa suy gẫm bảy sự buồn cùng với bảy sự vui. Nói cách khác, mỗi biến cố đều có mặt buồn của nó và liền đó là mặt vui. Bảy biến cố là: thứ nhất, việc Đức Mẹ mang thai Chúa Giêsu, gây ra nhiều băn khoăn cho Thánh Giuse, nhưng sau đó được thiên thần giải thích. Thứ hai, khi chứng kiến cảnh khó nghèo của Chúa Giêsu khi sinh ra tại Belem. Thứ ba, khi làm phép cắt bì cho Chúa Giêsu. Thứ tư, khi cụ Simêon tiên báo những đau khổ của Chúa Giêsu. Thứ năm, khi trốn qua Ai Cập. Thứ sáu, khi trở về Nadarét. Thứ bảy khi lạc mất và tìm lại Đức Giêsu trong đền thờ. Sau mỗi cảnh suy niệm, đọc một kinh Lạy Cha và Kính Mừng, có thể thêm kinh Sáng danh.

Giáo Hội chỉ mừng Thánh Giuse vào ngày lễ ở tháng Ba thôi hay sao?

Như đã nói ở đầu, trong năm phụng vụ có hai ngày kính Thánh Giuse: ngày 19 tháng Ba và ngày 1 tháng Năm. Còn những cơ hội khác thì để tùy theo lòng đạo đức và tập tục địa phương. Chẳng hạn như nhiều nơi mỗi tuần dành một ngày kính Thánh Giuse (ngày thứ Tư) cũng như ngày thứ Sáu dành kính Thánh Tâm Chúa (hoặc cuộc tử nạn), thứ Bảy kính Đức Mẹ. Có nơi chuẩn bị lễ Thánh Giuse không phải với tuần bảy ngày mà là 7 Chúa nhật, nhớ đến 7 sự vui buồn của Thánh Giuse. Thế rồi trong tháng Mười, tháng Mân Côi, Đức Lêô XIII đã muốn thêm vào kinh Thánh Giuse (Lạy ơn ông thánh Giuse, chúng con chạy đến cùng người…), kinh do ngài soạn ra và đăng ở cuối thông điệp Quamquam pluries (15/8/1889).

Tại sao ngày thứ tư mỗi tuần được dành để kính Thánh Giuse?

Dưới khía cạnh lịch sử, các học giả không thấy có một mối liên hệ nào hết. Vào những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, các tín hữu ăn chay mỗi tuần hai ngày (thứ Tư và thứ Sáu), khác với người Do Thái cũng ăn chay mỗi tuần hai ngày, nhưng là vào thứ Hai và thứ Năm. Theo sự giải thích của vài giáo phụ, ngày thứ Sáu tưởng niệm Chúa Giêsu chịu chết trên thập giá, còn ngày thứ Tư tưởng nhớ ngày Chúa bị Giuđa phản bội. Không rõ từ hồi nào người ta dành thứ Tư để kính Thánh Giuse, và vì lý do gì. Tuy vậy, cũng có người bóp trán để giải thích thế này: Ngày thứ Tư là ngày ở giữa tuần lễ, với nhịp độ làm việc cao, khác với nhịp độ uể oải hay cầm chừng của đầu tuần hay cuối tuần. Như vậy đáng để dành cho Thánh Giuse, gương mẫu của sự cần cù làm việc.

Dù sao, cũng nên biết là đối với người kính mến Thánh Giuse, thì họ vẫn nhớ đến tên của người mỗi ngày, cùng với việc kêu cầu Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria. Ngoài ra, tại vài nơi, người ta còn đọc một kinh riêng kính Thánh Giuse dưới hình thức quan thầy của người dọn chết lành. Truyền thống cho rằng Thánh Giuse là người có phúc nhất trên đời, bởi vì lúc lâm chung, người có Chúa Giêsu và Đức Mẹ đứng bên cạnh. Từ đó một hiệp hội được thành lập với trụ sở đặt tại Rôma, cầu xin Thánh Giuse giúp cho mọi người được chết lành. Tại Việt Nam, ở nhiều nhà thờ và gia đình, người ta đọc mỗi ngày hai lần kinh nguyện vắn tắt như sau: “Lạy ông Thánh Giuse, là cha nuôi Đức Chúa Giêsu cùng là bạn thanh sạch Rất Thánh Đồng Trinh Đức Bà Maria, xin người cầu nguyện cho chúng con và cho các kẻ mong sinh thì trong ngày (đêm) hôm nay”.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Hướng về Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội (Lễ Chúa Thăng Thiên), Kitô hữu chúng ta được mời gọi tìm hiểu và suy tư về chủ đề này, hầu có thể sử dụng hợp lý phương tiện truyền thông theo tinh thần Tin Mừng. Bài viết này mang nặng tính ‘đặt móng’, với hy vọng chỉ ra một định hướng nền tảng, dưới nhãn quan Kitô giáo, cho truyền thông xã hội Việt Nam. Cụ thể, bài viết trình bày ba điểm chính: thứ nhất, lược lại bản chất và ý nghĩa truyền thông theo Kitô giáo; thứ hai, nhìn lại thực trạng truyền thông xã hội của Việt Nam hiện nay và những thách đố của nó; thứ ba, nghĩ về một định hướng căn bản để trả lời cho những thách đố đó qua việc suy gẫm về Mẹ Maria như một gương mẫu tuyệt vời của truyền thông theo tinh thần Tin Mừng.
Grentchen R.Crowe Anthony Lai dịch từ simplycatholic.com WHĐ - Dễ dàng nhận thấy rằng người Công Giáo đã quá quen với chuỗi Mân Côi. Chúng ta thường mua các tràng chuỗi làm quà kỉ niệm, hoặc mang chúng theo bên mình, hoặc thậm chí là đeo chuỗi trên người – nhưng chúng ta quên đi sức mạnh to lớn của chuỗi Mân Côi mỗi khi chúng ta thực sự cầu nguyện bằng tràng chuỗi ấy. Điều đó thật đáng buồn, vì những lời cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi có thể mang lại câu trả lời cho rất nhiều vấn đề khó khăn trong thế kỷ XXI này.
1. Thánh Mátthêu chịu tử đạo ở Êthiôpia. Người ta đã dùng gươm để giết chết ngài. 2. Thánh Máccô chết ở Alexandria, Ai cập. Người ta đã dùng những con ngựa để kéo bừa ngài qua các đường phố cho đến chết. 3. Thánh Luca bị treo cổ ở Hy Lạp vì ngài đã giảng rất hùng hồn về sự lầm lạc, hư mất. 4. Thánh Gioan chịu tử đạo bởi hình phạt bị thiêu sống trong cái bồn khổng lồ chứa đầy dầu đang sôi, trong cuộc tàn sát ở Rôma. Tuy nhiên, Ngài đã đựơc cứu sống một cách nhiệm lạ. Rồi ngài bị kết án đi đày trong các hầm mỏ ở nhà tù trên đảo Pátmô. Thánh Gioan đã viết Sách Khải Huyền tại đảo này. Sau này, Tông đồ Gioan đựơc trả tự do và trở về thi hành sứ vụ giám mục của Edessa, Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài qua đời trong lúc tuổi già. Ngài là vị tông đồ duy nhất qua đời một cách bình an.
Phan Tấn Thành Từ lễ Phục sinh đến lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, Kinh Truyền tin được thay thể bằng Kinh Lạy Nữ Vương Thiên đàng. Kinh này phát xuất từ đâu? Thật là một câu hỏi được đặt ra đúng thời nhân mùa đại dịch. Theo một lưu truyền, kinh này được sáng tác từ trời nhân mùa đại dịch năm 590 tại Rôma, thời đức giáo hoàng Grêgôriô Cả.
Lúc 11h ngày 12/04, ĐTC Phanxicô dâng Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đọc sứ điệp Phục Sinh và ban phép lành toàn xá urbi et orbi (cho Roma và toàn thế giới). Vatican News Tiếng Việt xin gởi đến quý độc giả toàn văn sứ điệp. Chuyển ngữ: Mai Kha, SJ - CTV Vatican News
Adalberto Sisti OFM Tóm tắt. I. Đẹp và tốt: 1. Từ ngữ; 2. Vẻ đẹp theo Kinh thánh; 3. Nguồn gốc cái đẹp. II. Phản ánh của vẻ đẹp trên thế giới: 1. Bầu trời, mặt trời và mặt trăng; 2. Thảo mộc và động vật. III. Vẻ đẹp của con người: 1. Những nhân vật và nhân tố của vẻ đẹp; 2. Hương thơm và trang điểm; 3. Những giá trị và giới hạn. IV. Vẻ đẹp những công trình của con người: 1. Nghệ thuật; 2. Đời sống. (Nguồn: Nuovo Dizionario di Teologia Biblica, Ed. Paoline, Cinisello Balsamo, 1988, 161-168. Các chú thích của người dịch) ————————
Chuyển ngữ: Phêrô Bùi Huy Ngọc Nguồn: Righetti M., “La Domenica de Passione o Domenica in Palmis”, in Storia Liturgica 2, Ancora, Milano 1969, 184-195. Chúa nhật thương khó hay Chúa nhật lễ lá. Như chúng ta đã biết, tên gọi và nguồn gốc của Chúa nhật này trong nghi lễ Roma là "Cuộc Thương Khó của Chúa", được các giáo phụ Latinh thế kỷ IV-V nhắc đến và trong một số sách phụng vụ cổ đại[1]. Sau này nó được kết hợp với những cành cọ ở đông phương, nên gọi là Dominica palmarum o in palmis - Chúa nhật Lễ lá, như chúng ta thấy trong sách lễ Gelasiano (Reg. 316), đều có cả hai cách gọi. Sau đó, nghi thức làm phép lá ở các quốc gia bên kia dãy núi Alpi đã mang đến sự nổi bật khác thường cho tên gọi này, và từ đó không có tên gọi nào khác ngoài tên này.
Trong Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh năm nay, Tòa Thánh đã yêu cầu các linh mục trên khắp thế giới đọc thêm một lời cầu nguyện mới vào các Lời Cầu Long Trọng, và kêu gọi các ngài dâng các thánh lễ cầu nguyện cho đại dịch coronavirus sớm chấm dứt. Trước đại dịch coronavirus quá kinh hoàng đã cướp mất mạng sống của gần 50,000 người và làm gần 1 triệu người bị nhiễm bệnh, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã đưa ra một ý cầu nguyện mới trong Những Lời Cầu Long Trọng.
Bên trong nhà thờ San Marcello ở Rôma có cây thánh giá bằng gỗ cổ kính được tôn kính từ thế kỷ 15 và được các học giả xem là hiện thực nhất Rôma, cây thánh giá đã sống còn sau một trận hỏa hoạn và đã cứu Rôma khỏi nạn dịch hạch và Đức Gioan Phaolô II đã ôm hôn trong một sự kiện nổi bật đánh dấu Ngày Tha thứ năm 2000. Từ con đường Corso ở Quảng trường Venezia, trên quảng trường nhỏ phía bên phải là mặt tiền ngôi nhà thờ cổ San Marcello có từ thế kỷ thứ 4, thứ 5. Nhà thờ được nhắc đến lần đầu tiên năm 418 sau khi Giáo hoàng Zosime qua đời trong một thư của Rôma gửi hoàng đế Honorius. Năm 1368 các tu sĩ Dòng kính Đức Mẹ đến đó ở và vẫn còn ở đây.
Hôm thứ Sáu, ngày 20 tháng Ba năm 2020, Tòa Thánh đã công bố Sắc lệnh của Tòa Ân Giải Tối Cao, liên quan đến những ân xá đặc biệt dành cho các tín hữu trong cuộc khủng hoảng đại dịch coronavirus hiện nay. Đức Hồng Y Mauro Piacenza, Chánh Tòa và Đức Ông Krzydztof Nykiel, Nhiếp chính, đã ký Sắc lệnh vào ngày 19 tháng 3. Trường hợp thứ nhất được hưởng ơn Toàn Xá này là những người nhiễm bệnh đang cách ly tại nhà hoặc tại bệnh viện, theo lệnh kiểm dịch của Cơ quan Y tế, “nếu, với một ý chí từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi, tham gia về mặt tinh thần thông qua các phương tiện truyền thông các Thánh Lễ trực tuyến, hay lần chuỗi Mân Côi,
Bảo Trợ