Những Bài Giáo Huấn Của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Về Đời Thánh Hiến

26 Tháng Hai 20199:42 SA(Xem: 290)

Những Bài Giáo Huấn Của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Về Đời Thánh Hiến – Bài 1

LTS: Từ cuối tháng 9 năm 1994 cho đến cuối tháng 3 năm 1995, Đức thánh cha Gioan Phaolô II đã dành 19 bài huấn giáo nhân buổi tiếp kiến chung vào thứ tư hàng tuần để giới thiệu về đời sống thánh hiến. Để hiểu rõ nội dung của các bài này, thiết tưởng cần phải đặt trong bối cảnh của nó.

jesus-luoica1/ Một đàng, các bài huấn giáo về đời sống thánh hiến nằm trong khuôn khổ các bài huấn giáo về Mầu nhiệm Hội thánh, bắt đầu từ năm 1991, với những chiều kích huyền nhiệm và cơ chế, bao gồm các bí tích cũng như cơ cấu phẩm trật. Trong bối cảnh đó, Đức Thánh Cha trình bày huấn giáo về các linh mục và phó tế (31/3-20/10/1993), các giáo dân (27/10/1993 đến 21/9/1994).


2/ Đàng khác, các bài huấn giáo về đời sống thánh hiến trùng hợp với phiên họp Thượng hội đồng giám mục khoá IX, bàn về “Đời thánh hiến và sứ mạng trong Hội thánh và thế giới” (2-29/10/1994), với các kết quả được đúc kết trong tông huấn Vita Consecrata(25/3/1996). Những bài huấn giáo này có thể coi như sự đóng góp của Đức Thánh Cha cho Thượng hội đồng, và phần nào được trích dẫn trong tông huấn hậu thượng hội đồng (xc. các số chú dẫn 5 ; 37 ; 48 ; 54 ; 147).

Qua 19 bài huấn giáo này, độc giả có thể tìm được một toát yếu thần học đời sống thánh hiến.

1/ Bài mở đầu trình bày chỗ đứng của hàng ngũ thánh hiến trong mầu nhiệm Hội thánh. Đời thánh hiến nằm trong bản chất thánh thiện của Hội thánh : Hội thánh không chỉ mang lãnh nhận sứ mạng rao giảng Tin mừng cho thế giới, nhưng còn có nghĩa vụ thể hiện ơn gọi nên thánh (bài 1).


2/ Năm bài kế tiếp (bài 2-6) đi sâu vào nguồn gốc và bản tính của đời thánh hiến. Bài 2 khởi hành từ những hình thức thánh hiến ra đời vào thời cận đại để trở ngược lên khởi thủy của nếp sống này, bắt nguồn từ nếp sống và lời giảng của Chúa Kitô (bài 3). Để hiểu rõ bản tính của đời thánh hiến, cần tìm hiểu ý nghĩa của vài tư tưởng cốt yếu :

– lời gọi “hãy đi theo Thầy” ngỏ với người thanh niên trong Phúc âm cũng như với các bạn trẻ qua các thời đại để phục vụ Nước Trời (bài 4)

– thánh hiến (hoặc tận hiến) : sự khác biệt giữa sự thánh hiến chung của tất cả các tín hữu (nhờ bí tích Thánh tẩy) và sự thánh hiến của hàng ngũ tu trì (bài 5) ;

– ước muốn nên trọn lành (bài 6).


3/ Từ bài 7, Đức thánh cha giải thích những yếu tố cốt yếu của nếp sống thánh hiến :

– ba lời khuyên Phúc âm : khiết tịnh (bài 7-8) ; khó nghèo (bài 9) ; vâng phục (bài 10).

– đời sống chung (bài 11) ; sự cầu nguyện (bài 12).


4/ Hai bài 13 và 14 nêu bật vai trò của đời thánh hiến trong sứ vụ Hội thánh : phục vụ Hội thánh qua việc làm chứng cho những giá trị Nước Chúa.


5/ Các bài 15-17 xét đến vài hình thức phục vụ đặc thù của hàng ngũ thánh hiến : các tu sĩ linh mục, tu huynh, nữ tu.


6/ Hai bài cuối cùng (18-19) được dành cho ảnh hưởng của Chúa Thánh Linh và đức Trinh nữ Maria đối với đời thánh hiến.

Bản dịch những bài huấn giáo này từ nguyên văn tiếng Ý do nữ tu Maria Đinh Thị Sáng O.P.thực hiện.

—————————

 ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN TRONG GIÁO HỘI

(28/9/1994)

1. Trong các bài huấn giáo về Giáo Hội mà chúng ta đang trình bày từ lâu nay, nhiều lần chúng ta đã giới thiệu Giáo Hội như là đoàn dân tư tế, nghĩa là bao gồm những người thông dự vào chức tư tế của Đức Kitô, như là trạng thái hiến thánh cho Thiên Chúa và thi hành việc phụng tự hoàn hảo và chung cục mà Người dâng lên Chúa Cha nhân danh toàn thể nhân loại. Điều này diễn ra nhờ Bí Tích Thánh Tẩy, tháp nhập người tín hữu vào Thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô, đề cử họ B ra như do chức vụ ex officio và có thể nói được là do cơ chế – diễn đạt nơi bản thân mình điều kiện làm Tư tế và Hiến lễ (Sacerdos et Hostia) của Đầu[1].

Mọi Bí Tích khác B đặc biệt là Bí Tích Thêm sức B đều kiện toàn điều kiện thiêng liêng ấy của người tín hữu, và Bí Tích Truyền Chức Thánh còn trao ban quyền hành động thừa tác như là dụng cụ của Đức Kitô, trong việc loan báo Lời Chúa, diễn lại hy lễ thập giá và tha tội.

2. Để làm sáng tỏ hơn sự thánh hiến của dân Thiên Chúa, bây giờ chúng ta đề cập đến một chương khác cơ bản của Giáo hội, ngày nay được tăng thêm tầm quan trọng dưới khía cạnh thần học và tu đức. Đó là đời sống thánh hiến, mà không ít môn đệ của Chúa Kitô đã chấp nhận như là hình thái cao cấp, sâu sắc và cam go để thể hiện những hệ luận của Bí Tích Thánh Tẩy dưới khía cạnh của đức ái trổi vượt, dẫn đến sự trọn lành thánh thiện.

Thừa hưởng truyền thống thần học và tu đức của hai ngàn năm Kitô giáo, Công Đồng Vaticanô II đã đề cao giá trị của đời thánh hiến, được diễn ra cụ thể, theo sự chỉ dẫn của Tin mừng, qua việc “thực hành Y đức khiết tịnh tận hiến cho Thiên Chúa, đức khó nghèo và đức vâng lời”[2], mang tên là “các lời khuyên Phúc Âm”. Công Đồng đề cập đến đời thánh hiến như việc biểu lộ tự ý của tác động quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đấng đã gợi lên ngay từ thuở đầu nhiều linh hồn quảng đại, khao khát sự trọn lành và dâng hiến chính bản thân vì lợi ích của tất cả Thân Thể Đức Kitô (x. GH 43).


3.
 Đó là những cảm nghiệm cá nhân không hề suy giảm và vẫn phát triển kể cả vào thời nay trong Giáo Hội. Nhưng ngay từ những thế kỷ đầu, người ta ghi nhận khuynh hướng chuyển từ việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm với tính cách cá nhân B nói được như là “tư riêng” – đến một điều kiện được Giáo Hội nhìn nhận như là “công cộng”, dù qua nếp sống đơn độc của các ẩn sĩ, hay, với con số đông hơn, qua sự hình thành những cộng đoàn đan sĩ hoặc các dòng tu. Những cộng đoàn này muốn hỗ trợ nhau để đạt tới những mục tiêu của đời sống thánh hiến: tính bền vững, việc đào tạo đạo lý tốt hơn, đức vâng phục, sự giúp đỡ hỗ tương và sự tiến triển trong đức ái.

Ngay từ những thế kỷ đầu tiên cho đến thời đại chúng ta, “hình thức đa dạng kỳ diệu của các cộng đoàn” đã được phác hoạ, trong đó tỏ hiện “đức khôn ngoan muôn mặt của Thiên Chúa”[3], và biểu lộ sức sống phi thường của Giáo Hội, tuy vẫn duy trì sự duy nhất của Thân thể Đức Kitô, theo lời của thánh Phaolô : “Có nhiều đặc sủng khác nhau nhưng chỉ có một Thần Khí” (2Cr 12,4). Chúa Thánh Thần đổ tràn muôn vàn ân huệ để làm cho Giáo Hội duy nhất được thêm phong phú. Trong vẻ đẹp muôn màu, Giáo Hội phô bày qua lịch sử “sự giàu có khôn lường của Đức Kitô” (Ep 3,8), cũng hệt như tất cả mọi loài thụ tạo, “trong muôn hình dạng và trong từng phần riêng biệt” (multiplicter et divisim), biểu lộ điều tuyệt đối duy nhất ở nơi Thiên Chúa, như thánh Tôma đã viết[4].

4. Dù nói thế nào đi nữa, ân huệ của Chúa tự căn bản vẫn là duy nhất, tuy dù qua những hồng ân vừa nhiều vừa khác biệt, được ban cho các cá nhân và cộng đoàn, được gọi là đặc sủng [5]. Thật vậy, đặc sủng có thể là cá nhân hay tập thể. Những đặc sủng cá nhân được ban phát dồi dào trong Giáo Hội, với nhiều khác biệt từ người này qua người khác, khó mà xếp hạng và đòi Giáo hội phải phân định từng trường hợp. Còn nói chung, những đặc sủng tập thể được ban cho những người nam nữ, để sáng lập những công tác của Giáo Hội và đặc biệt là những Hội Dòng tận hiến. Các Hội Dòng này nhận được đặc tính của mình từ đặc sủng của vị sáng lập ; họ sinh sống và hoạt động dưới ảnh hưởng của các đặc sủng đó, và tùy vào mức độ trung thành ấy mà họ nhận lãnh những ân huệ và đặc sủng mới cho từng cá nhân và cho toàn thể Cộng đoàn. Nhờ vậy, các cộng đoàn này có thể tìm thấy những hình thức hoạt động mới, tuỳ theo nhu cầu của từng nơi và từng thời, mà không làm suy xuyển tính liên tục và phát triển mà vị sáng lập đã gợi hứng, hoặc có thể khôi phục lại căn tính và sức năng động của mình cách dễ dàng.

Công Đồng nhận định rằng “Giáo Hội dùng quyền hành của mình để đón nhận và phê chuẩn những dòng tu” (DT số 1). Điều này phù hợp với nhiệm vụ riêng của giáo quyền đối với các đặc sủng, với phận sự “không phải để dập tắt Thần Khí, nhưng để trắc nghiệm và giữ lại những điều thiện hảo (cf. 1Tx 5,12. 19-21)” (GH 12). Đó là lý do giải thích vì sao, đối với các lời khuyên Phúc âm “giáo quyền dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, ân cần giải thích các lời khuyên của Phúc Âm, hướng dẫn cách thực hành cũng như ấn định những lối sống vững bền” (GH 43).

5. Tuy nhiên, phải luôn nhớ rằng hàng ngũ đời sống thánh hiến không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Giáo hội. Công Đồng ghi nhận rằng : “Nếu nhìn theo cơ chế phẩm trật của Giáo Hội do Chúa thiết lập, thì hàng ngũ tu trì không nằm ở giữa bậc giáo sĩ và giáo dân, nhưng từ cả hai bậc đó, một vài tín hữu được kêu gọi hưởng nhận ân huệ đặc biệt này trong đời sống Giáo Hội, và tuỳ cách thức riêng mà góp phần vào sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội” (GH 43).

Tuy nhiên, liền sau đó Công Đồng thêm rằng hàng ngũ tu trì “được cấu thành do việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm, tuy không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, nhưng hẳn nhiên là gắn chặt với đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội” (GH 44). Từ ngữ “hẳn nhiên” muốn nói rằng tất cả những biến động có thể làm chao đảo cuộc sống của Giáo Hội, nhưng không thể nào dập tắt được đời sống thánh hiến, mà đặc trưng là việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm. Hàng ngũ này sẽ mãi tồn tại như là yếu tố thiết yếu của sự thánh thiện của Giáo Hội. Theo Công Đồng, đây là một chân lý “không thể chối cãi”.

Tuy nhiên, cần phải xác minh rằng không một hình thức đặc hữu nào của đời sống thánh hiến được bảo đảm là sẽ tồn tại vĩnh viễn. Các cộng đoàn tu trì đơn lẻ có thể bị tàn lụi. Trải qua dòng lịch sử, người ta nhận thấy rằng một vài cộng đoàn tu trì thực sự đã biến mất, cũng tựa như là một số Giáo Hội “địa phương” đã suy tàn. Các hội dòng nào không thích hợp với thời đại, hoặc không có ơn gọi nữa, thì có thể bị buộc phải đóng cửa hoặc phải sát nhập vào một hội dòng khác. Việc bảo đảm sẽ tồn tại vĩnh viễn cho tới ngày tận thế thì được ban cho toàn thể Giáo Hội, chứ không nhất thiết được cấp cho riêng từng hội dòng nào. Lịch sử cho thấy rằng đặc sủng đời thánh hiến luôn biến chuyển, với khả năng nói được là “sáng chế” ra nhiều hình thức mới, dù luôn trung thành với đoàn sủng của đấng sáng lập, đáp ứng trực tiếp hơn cho những nhu cầu và khát vọng của thời đại. Kể cả những cộng đoàn đã hiện hữu từ nhiều thế kỷ cũng được kêu mời thích ứng với những đòi hỏi và khát vọng này, để khỏi bị tự diệt.

6. Việc tuân giữ các lời khuyên Phúc Âm, dù mang những hình thức nào chăng nữa, được bảo đảm sẽ được duy trì trong suốt chiều dài của lịch sử, bởi vì chính Đức Giêsu Kitô đã chủ ý thiết lập nó như yếu tố vững bền thuộc về nhiệm cục thánh thiện của Giáo Hội. Quan niệm về một Giáo Hội chỉ bao gồm những người giáo dân dấn thân vào đời sống hôn nhân và những nghề nghiệp trần thế mà thôi, thì không phù hợp với ý định của Đức Kitô dựa theo sách Tin mừng. Nhìn vào lịch sử và thậm chí nhìn vào thời sự hôm nay, chúng ta nghĩ rằng sẽ luôn luôn có những thanh niên nam nữ (và thiếu niên thiếu nữ) biết dâng hiến toàn thân mình cho Đức Kitô và vương quốc của Người qua con đường độc thân, khó nghèo và vâng phục một bản luật sống. Những người đang theo đuổi con đường này vẫn tiếp tục, trong tương lai cũng như trong quá khứ, đảm nhận một vai trò quan trọng trong việc thăng tiến sự thánh thiện của cộng đồng Kitô hữu và sứ mạng loan báo Tin mừng. Ngày nay, hơn lúc nào hết, con đường các lời khuyên Phúc Âm đang mở ra một niềm hy vọng lớn lao cho tương lai của Giáo Hội.

Cước chú

[1] x. T. Tôma Aquinô, Summa theologiae, II, q. 63, a. 3 in c. et ad 2; a. 6.

[2] x. HT 43.

[3]x. Sắc lệnh Perfectae caritatis, 1

[4] Summa theologiae, q. 47, a. 1.

[5] x. Thánh Tôma, Summa theologiae, II-II q. 103, a. 2

Những Bài Giáo Huấn Của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Về Đời blankThánh Hiến – Bài 2

NHỮNG PHÁT TRIỂN VÀ KHUYNH HƯỚNG CỦA ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN VÀO THỜI NAY 
(5-10-1994)


1.
 Đời sống thánh hiến, tiêu biểu cho sự phát triển của Giáo Hội trải qua các thời đại, đã và đang chứng kiến nhiều hình thức khác nhau. Cần phải ý thức về sự đa dạng này trong khi đọc chương mà hiến chế Lumen Gentium dành cho việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm. Chương này mang tựa đề là “Các Tu sĩ”, nhưng tầm mức suy tư đạo lý và ý định mục vụ cũng bao gồm thực tại rộng lớn hơn và khác biệt của đời sống thánh hiến, được phác họa trong thời gian gần đây.


2.
 Kể cả vào thời nay không ít người chọn con đường sống thánh hiến trong khung khổ của Dòng tu hay các Hội Dòng hoạt động từ lâu trong Giáo Hội. Nhờ sự hiện diện sống động và phong phú của họ, Giáo hội vẫn tiếp tục thu nhận nhiều sức sống dồi dào và mới mẻ cho đời sống tâm linh.

Nhưng trong Giáo Hội hôm nay cũng có những đoàn ngũ hữu hình mới mẻ của những người thánh hiến, được nhìn nhận và quy định theo Giáo luật. Trước hết, đó là những Tu hội đời, trong đó theo như bộ Giáo luật : “Các tín hữu sống giữa đời nhắm tới sự trọn lành của đức ái và dấn thân mưu cầu sự thánh hoá đời, ngay từ hoạt động ở giữa đời” (điều 710). Những phần tử trong các Tu Hội này cũng đảm nhận những nghĩa vụ của các lời khuyên Phúc Âm, nhưng hài hoà sao cho phù hợp với một cuộc sống dấn thân giữa đời theo những hoạt động và những thể chế trần thế. Từ nhiều năm, ngay cả trước thời của Công Đồng, đã có những người tiên phong tài tình của hình thức sống đời sống thánh hiến này, bề ngoài giống hình thức “đời” hơn là “tu”. Đối với một vài người, lựa chọn này có thể bị lệ thuộc vào nhu cầu thật sự cần thiết, theo nghĩa là họ đã không thể bước vào cộng đoàn dòng tu do vài nghĩa vụ đối với gia đình hay vì những ngăn trở nào đó ; nhưng phần lớn là vì muốn dấn thân cho một lý tưởng đó là : kết hợp sự thánh hiến đích thực cho Chúa với một cuộc sống theo ơn gọi ở giữa những thực tại trần thế. Đức Giáo Hoàng Piô XII đã có công nhìn nhận tính cách hợp pháp của hình thức thánh hiến này bằng Tông hiến Provida Mater Ecclesia (1947).

Ngoài các Tu Hội đời, bộ Giáo luật cũng nhìn nhận các Tu Đoàn Tông Đồ, trong đó “các phần tử tuy không có lời khấn dòng, nhưng theo đuổi mục đích tông đồ riêng của Tu đoàn, và nhắm đến sự trọn lành của đức ái do việc sống chung theo một nếp sống đặc thù, và do việc tuân giữ hiến pháp” (số 731). Một số các Tu đoàn này được coi như “tương tự” với các Hội Dòng tận hiến, bởi vì các phần tử cũng cam kết tuân giữ các lời khuyên Phúc Âm, với một sợi dây ràng buộc do hiến pháp xác định. Và đây cũng là một hình thức của đời sống thánh hiến.

3. Trong thời gian gần đây hơn xuất hiện một số Phong trào hay Hội đoàn Giáo hội. Tôi đã phát biểu lòng quý mến đối với họ nhân dịp Hội Nghị về “Cộng đoàn Kitô hữu và các hội đoàn giáo dân” do Hội Đồng Giám Mục Italia xúc tiến : “Hiện tượng của các hội đoàn Giáo hội – như tôi đã nói – là một dữ kiện đặc trưng cho giây phút lịch sử hiện tại của Giáo Hội, và cũng cần phấn khởi xác định rằng chiều rộng của các hội đoàn này bao trùm tất cả địa bàn các thể thức hiện diện của Kitô hữu trong xã hội hiện thời” (Giovanni Paolo II, Insegnamenti, VII/2, 1984, 290). Và hồi ấy cũng như hôm nay, tôi mong ước rằng những hội đoàn giáo dân ấy nên sống “trong sự hiệp thông trọn vẹn với các giám mục”[1], ngõ hầu tránh nguy cơ tự mãn nào đó của những ai muốn lấy kinh nghiệm riêng của mình như giá trị tuyệt đối, cũng như nguy cơ tự tách rời ra khỏi đời sống cộng đồng của Giáo Hội địa phương và các vị Chủ chăn.

Những “phong trào” hay “hội đoàn” này, tuy gồm bởi các thành phần giáo dân, những cũng thường hướng các thành viên mình – hay một phần của thành viên mình – tới việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm. Hậu quả là dù tự nhận là giáo dân, nhưng từ giữa lòng họ đã nảy lên những nhóm hay cộng đoàn sống đời sống thánh hiến. Hơn thế nữa, hình thức này của đời sống thánh hiến cũng còn kèm theo việc mở rộng đến tác vụ linh mục, khi vài cộng đoàn đón nhận các linh mục hoặc hướng các thanh niên đến chức linh mục. Như vậy, một vài phong trào này mang trong mình hình ảnh của Giáo Hội theo ba hướng đi đã thành hình theo dòng lịch sử : các giáo dân, các linh mục và các linh hồn thánh hiến trong khuôn khổ những lời khuyên Phúc Âm.

4. Chúng ta chỉ rảo qua thực tại mới mẻ này, chứ không thể nào mô tả chi tiết hết tất cả các phong trào được, nhưng từng ấy cũng đã đủ làm nổi bật ý nghĩa của sự hiện diện của họ trong Giáo Hội hôm nay.

Thật là quan trọng nhận biết nơi họ một dấu hiệu của những đặc sủng do Chúa Thánh Thần ban cho Họi thánh dưới những hình thức luôn luôn mới mẻ, và nhiều khi không thể lường trước được. Kinh nghiệm của những năm vừa qua cho phép chúng ta khẳng định rằng, trong sự hoà hợp với nền tảng đức tin, đời sống đặc sủng không khô cạn nhưng lại tìm thấy trong Giáo Hội những lối diễn tả mới, nhất là trong những hình thức của đời thánh hiến.

Một khía cạnh rất cá biệt – và mơi mẻ theo một nghĩa nào đó – của kinh nghiệm này chính là sự chú trọng đến đặc tính giáo dân. Dĩ nhiên là từ “giáo dân” có thể bị hiểu lầm, cả trong lãnh vực tôn giáo. Khi các giáo dân cam kết sống trong con đường các lời khuyên Phúc Âm, thì hẳn nhiên là họ bước vào bậc sống thánh hiến một cách nào đó, rất khác với nếp sống của phần đông tín hữu chọn con đường hôn nhân và nghề nghiệp của thế trần. Tuy nhiên, các giáo dân “thánh hiến” muốn duy trì và cương quyết bảo vệ danh xưng là “giáo dân” của mình, xét vì họ muốn khẳng định mình như là những phần tử của dân Thiên Chúa, theo nguồn gốc của hạn từ “laico” (laos =dân chúng). Họ muốn làm chứng mình thuộc về một đoàn Dân mà không tách rời ly khỏi anh em họ, kể cả trong đời sống dân sự.

Một điểm quan trọng và hấp dẫn khác đáng chú ý đó là nhãn quan về Giáo hội của các phong trào này. Họ biểu lộ ý muốn dứt khoát sống trọn vẹn sự sống của Giáo Hội như cộng đoàn của các môn đệ Đức Kitô, và họ muốn phản chiếu sự sống đó qua sự hiệp nhất sâu xa và hợp tác giữa các “giáo dân”, tu sĩ và linh mục trong những chọn lựa cá nhân và trong hoạt động tông đồ.

Nói đúng ra, ba đặc tính vừa rồi : – ơn đặc sủng linh hoạt, ý định làm chứng cho việc làm thành phần dân Thiên Chúa, yêu sách hiệp thông giữa những người thánh hiến với các giáo dân và linh mục -, là những đặc tính chung cho hết mọi hình thức đời thánh hiến tu trì ; nhưng không thể nào không nhìn nhận rằng các đặc tính này được biểu lộ mạnh mẽ hơn ở nơi các phong trào hiện đại, nói chung nổi bật vì sự dấn thân sâu xa để gắn bó với mầu nhiệm của Giáo Hội và phục vụ hữu hiệu cho sứ vụ của Giáo Hội.

5. Ngoài các phong trào và cộng đoàn mang định hướng “giáo dân trong Giáo hội”, chúng ta phải nhắc tới những kiểu cộng đoàn gần đây, nhắm nêu bật những yếu tố truyền thống của đời tu. Một số cộng đoàn mới này mang một định hướng đan tu đúng nghĩa, đề cao việc cầu nguyện phụng vụ ; một số khác đi vào con đường của truyền thống “kinh sĩ”, rất phồn thịnh vào thời Trung cổ : ngoài những yếu tố “đan sĩ” họn còn thêm việc đảm trách các xứ và về sau mở rộng ra tầm hoạt động tông đồ. Ngày nay, khuynh hướng mới về sự “ẩn tu” cũng mang tính triệt để hơn, với việc thành lập và tái sinh các vùng ẩn tu mang dấu tích cả cổ cả kim.

Đối với người chỉ nhìn xem hời hợt, một vài hình thức này của đời sống thánh hiến có thể xem chừng không phù hợp với những hướng đi hiện tại của đời sống Giáo Hội. Tuy nhiên trong thực tế, Giáo Hội – chắc chắn rất cần đến những người thánh hiến hướng về thế giới cách trực tiếp hơn để loan báo Tin Mừng – nhưng cũng cần và có lẽ còn cần hơn nữa những người tìm kiếm, trau dồi và làm chứng cho sự hiện diện và thân tình với Thiên Chúa ; những người này cũng mang ý định muốn thánh hoá nhân loại. Đó là hai khía cạnh của đời sống thánh hiến biểu lộ nơi Đức Giêsu Kitô : Người đã đến với con người để mang cho họ ánh sáng và sự sống, nhưng mặt khác Người đã tìm đến sự cô tịch để dành thời gian cầu nguyện và chiêm niệm. Không được phép lãng quên bất cứ yêu sách nào trong hai điều vừa nêu trong đời sống hiện tại của Giáo Hội. Chúng ta phải biết ơn Chúa Thánh Thần, Đấng đã làm cho chúng ta luôn hiểu được điều đó qua những đặc sủng mà Ngài phân phát cách dồi dào và qua những công trình thường là lạ lùng do Ngài cảm hứng.

————–

[1] Giovanni Paolo II, *Insegnamenti+, VII/2, 1984, 292.

Những Bài Giáo Huấn Của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Về Đời nutucaunguyenThánh Hiến – Bài 3

TRÊN ĐƯỜNG Ý ĐỊNH SÁNG LẬP CỦA ĐỨC KITÔ
(12-12-1994)

1. Điều đáng kể hơn cả trong những hình thức cũ và mới của “đời sống thánh hiến” là trong đó phải nhận ra sự phù hợp căn bản với ý muốn của Đức Kitô, Đấng lập ra các lời khuyên Phúc Âm, và theo nghĩa đó, là Đấng sáng lập đời tu trì và mọi bậc sống thánh hiến tương tự. Như Công Đồng Vaticano II đã nói, các lời khuyên Phúc Âm “đặt nền tảng trên lời nói cùng gương lành của Chúa” ( GH 43).

Không thiếu người đã nghi ngờ sự sáng lập này, vì họ nghĩ rằng đời thánh hiến là một thể chế thuần tuý nhân loại, được phát sinh do các sáng kiến của những Kitô hữu khao khát sống lý tưởng của Tin Mừng cách sâu xa hơn. Đúng như vậy, Chúa Giêsu đã không trực tiếp thành lập một cộng đoàn tu trì nào để rồi dần dần phát triển trong Giáo Hội ; Ngài cũng không xác định những hình thức đặc thù nào của đời thánh hiến. Nhưng điều Ngài đã muốn và đã thiết lập là bậc sống đời thánh hiến, với những giá trị tổng quát và những yếu tố cốt yếu của nó. Không có một bằng chứng lịch sử nào cho phép giải thích bậc sống này là do một sáng kiến nhân loại về sau này ; và cũng không dễ quan niệm được rằng đời sống thánh hiến B đã từng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển sự thánh thiện và sứ vụ của Giáo Hội B mà không xuất phát từ ý muốn sáng lập của Đức Kitô. Nếu chúng ta khảo sát thật kỹ các chứng từ Tin Mừng, chúng ta sẽ khám phá ra rằng ý muốn này đã xuất hiện rất rõ ràng.

2. Tin Mừng cho thấy ngay từ lúc bắt đầu cuộc sống công khai, Đức Giêsu kêu gọi nhiều người đi theo Ngài. Lời kêu gọi này không nhất thiết phải diễn tả bằng lời : rất đơn giản có thể do bởi sự hấp dẫn từ nhân cách của Đức Giêsu trên những người mà Ngài gặp gỡ, giống như trường hợp của hai môn đệ đầu tiên theo trình thuật Tin Mừng Gioan. Hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả, Anrê và một anh bạn (xem ra chính là tác giả Tin Mừng) bị thu hút và hầu như bị chiếm đoạt bởi người được giới thiệu với họ như là “Chiên Thiên Chúa” ; và tức khắc họ theo Chúa Giêsu, cả trước khi Ngài ngỏ lời với họ. Khi Chúa Giêsu hỏi : “Các anh tìm gì ?”, họ đáp lại bằng một câu hỏi khác : “Thưa Thầy, Thầy ở đâu ?”. Bấy giờ họ nhận lời mời làm biến đổi cuộc đời họ : “Hãy đến và xem” (x. Ga 1,38-39).

Nhưng nhìn chung, cách diễn tả đặc trưng nhất của sự kêu gọi là câu nói “Hãy theo Ta” (Mt 8,22 ; 9,9 ; Mc 2,14 ; 10,21 ; Lc 9,59 ; 18,22 ; Ga 1,43 ; 21,19). Lời ấy biểu lộ sáng kiến của Đức Giêsu. Trước kia, những người ước ao nhận lãnh giáo huấn của một bậc thầy thì chọn lựa vị mà họ muốn trở thành môn đệ. Ngược lại, với lời “Hãy theo Ta”, Chúa Giêsu cho thấy rằng chính Ngài chọn những ai Ngài muốn trở nên bạn hữu và môn đệ. Thật vậy, Ngài sẽ nói với các Tông đồ : “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15,16).

Ở nơi sáng kiến của Chúa Giêsu, ta thấy có một ý muốn quyền năng, đồng thời với một tình yêu mãnh liệt. Trình thuật về lời kêu gọi người thanh niên giàu có cho thấy rõ rệt tình yêu này. Chúng ta đọc thấy rằng khi người thanh niên tuyên bố mình đã giữ các giới răn từ khi còn nhỏ, Chúa Giêsu “đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến” (Mc 10,12). Cái nhìn thẩm thấu tràn đầy tình yêu kèm theo lời mời gọi : “Anh hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, và anh sẽ được một kho tàng trên trời, rồi hãy đến theo tôi” (ibid). Tình yêu thần linh và nhân linh này của Đức Giêsu, thật đậm đà đến nỗi đã được một chứng nhân của câu chuyện này ghi lại, cũng là tình yêu được lặp lại trong mỗi lời kêu gọi trao dâng trót thân mình trong đời thánh hiến. Như tôi đã viết trong tông huấn Redemptionis donum : “tình yêu này phản ánh tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa Cha, Đấng  đã yêu mến thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Người, ngõ hầu mọi kẻ tin vào Người thì không phải hư đi nhưng được sự sống đời đời  (Ga 3,16)” (số 3).

3. Vẫn luôn theo chứng từ của Tin Mừng, lời kêu gọi bước theo Chúa Giêsu bao gồm nhiều yêu sách lớn lao : trình thuật về lời mời gọi người thanh niên giàu có nhấn mạnh tới việc từ bỏ những của cải vật chất ; trong những trường hợp khác thì nêu bật việc từ bỏ gia đình (x. ví dụ : Lc 9,59-60). Nhìn chung, đi theo Chúa Giêsu có nghĩa là từ bỏ tất cả để kết hiệp với Người và đồng hành với Người trên con đường sứ vụ. Đó chính là từ bỏ mà các Tông đồ chấp thuận, như thánh Phêrô tuyên bố : “Thầy coi, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy” (Mt 19,27). Chính trong câu trả lời cho Phêrô mà Chúa Giêsu chỉ cho thấy sự từ bỏ những điều tốt lành của thế gian là yếu tố nền tảng của việc đi theo Người (x. Mt 19,29). Cựu Ước cũng cho thấy Thiên Chúa yêu cầu Dân hãy đi theo Ngài qua việc tuân giữ các giới răn, nhưng lại chẳng bao giờ điễn tả những đòi hỏi triệt để như vậy. Trái lại, Chúa Giêsu biểu lộ quyền bá chủ thần linh khi đòi hỏi một sự dâng hiến tuyệt đối cho Người, đến mức cắt đứt hoàn toàn khỏi những của cải và khỏi những quyến luyến trần tục.

4. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng tuy lời kêu gọi bước theo Chúa Giêsu hàm chứa nhiều đòi hỏi mới, nhưng Người để cho những ai được gọi được tự do chọn lựa. Đó không phải là những mệnh lệnh mà là những lời mời hay “lời khuyên”. Người kêu gọi anh thanh niên giàu có với lòng yêu mến, nhưng tình yêu này không tước mất quyền tự do quyết định ; điều ấy được chứng tỏ qua việc anh từ chối đi theo Người bởi vì anh ưa thích những của cải mà anh đang sở hữu. Thánh sử Marcô ghi nhận rằng rằng anh ta “buồn rầu bỏ đi vì anh ta có nhiều của cải” (Mc 10,22). Chúa Giêsu không lên án anh vì thái độ này. Nhưng Người thấm buồn khi nhận xét rằng thật khó cho những người giàu vào Nước Trời, rằng chỉ duy có Thiên Chúa mới có thể tác thành những sự thứ thoát ly nào đó, những cuộc giải phóng nội tâm nào đó, ngõ hầu có thể đáp trả lời kêu gọi được (x. Mc 10,23-27).

5. Đàng khác, Chúa Giêsu đoan chắc rằng những sự khước từ do lời kêu gọi bước theo Người đặt ra sẽ được bù đắp, một “kho tàng ở trên trời”, có nghĩa là được hưởng dồi dào những của cải thiêng liêng. Thậm chí, Ngài hứa ban sự sống đời đời trong thời tương lai và gấp trăm ngay ở đời này (Mt 19,29). Cái gấp trăm này ám chỉ tới một cuộc sống có phẩm chất tốt hơn và một hạnh phúc cao cả hơn. Kinh nghiệm cho thấy rằng đời thánh hiến, theo kế hoạch của Chúa Giêsu, là một cuộc đời hạnh phúc sâu xa. Hạnh phúc này được đo lường theo sự trung thành với kế hoạch của Chúa Giêsu, bất chấp sự kiện là cái “gấp trăm” được liên kết với thập giá của Chúa, như thánh Marcô đã gợi lên cũng trong đoạn này (Mc 10,30) khi nói đến những sự ngược đãi bắt bớ.

6. Chúa Giêsu cũng đã gọi các phụ nữ đi theo Người. Một chứng từ Tin Mừng nói rằng có một nhóm các phụ nữ đã đi theo Đức Giêsu và họ rất đông (x. Lc 8,1-3 ; Mt 27,55 ; Mc 15,40-41). Điều này nói lên một nét mới mẻ so với tập tục của người Do thái. Duy chỉ ý muốn đổi mới của Chúa Giêsu, bao gồm sự thăng tiến và giải phóng phụ nữ một cách nào đó, mới có thể giải thích được sự kiện này. Sách Tin mừng không để lại trình thuật nào kể lại việc kêu gọi đích danh vài phụ nữ, nhưng sự hiện diện đông đảo của các phụ nữ với nhóm Mười Hai bên cạnh Chúa Giêsu, giả thiết một sự kêu gọi, một sự tuyển chọn về phía Người, dù âm thầm hay minh nhiên.

Trên thực tế, Chúa Giêsu chứng tỏ rằng bậc sống đời thánh hiến cốt ở việc bước theo Ngài, và không nhất thiết ràng buộc với việc tiến đến tác vụ linh mục. Chúa cũng cho thấy rằng bậc sống này gồm cả phái nữ lẫn phái nam, mỗi bên tùy theo lãnh vực riêng và theo chức năng mà Chúa trao phó khi kêu gọi. Trong nhóm phụ nữ đi theo Chúa Giêsu, ta có thể nhận ra sự tiên báo, hay đúng hơn, hạt nhân khởi đầu của con số đông đảo những phụ nữ sẽ dấn thân trong đời tu sĩ hoặc trong những hình thức khác của đời thánh hiến, trải qua các thế kỷ của Giáo Hội cho tới ngày hôm nay. Điều ấy có giá trị không những cho “những người thánh hiến” mà còn cho biết bao chị em khác đang theo mẫu gương đích thực của những cộng sự viên của Chúa Giêsu dưới những hình thức mới : ví dụ, những nữ giáo dân “tình nguyện” trong nhiều sinh hoạt tông đồ, trong nhiều tác vụ và chức vụ của Giáo Hội.

7. Kết thúc bài huấn giáo hôm nay, chúng ta nhìn nhận rằng khi gọi những người nam nữ từ bỏ mọi sự mà theo Người, Chúa Giêsu đã khai mạc một bậc sống sẽ từ từ phát triển trong Giáo Hội, dưới nhiều hình thức khác nhau của đời thánh hiến, được cụ thể hoá trong đời tu trì, hoặc trong chức linh mục – đối với vì những ai được Thiên Chúa tuyển chọn. Từ thời của các tác giả Tin Mừng cho tới ngày hôm nay, bậc sống này đã tiếp tục thực hiện ý muốn sáng lập của Đức Kitô, được diễn tả qua lời mời gọi đẹp nhất và thánh nhất hướng đến biết bao tâm hồn : “Hãy theo Ta !”.

Theo Hoc Vien Daminh
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Những ngày này cả thế giới hướng về vụ cháy nhà thờ Đức Bà Paris. Tạ ơn Chúa vì chúng ta đã khắc phục được ngọn lửa và cứu được nhiều thánh tích liên quan đến Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu, Chúa chúng ta. Trong đó phải kể đến Vương Niệm Gai hay Mão Gai của Chúa. Dưới đây là chút tóm tắt lịch sử của Mão Gai này:
Mục 1: ƠN KÍNH SỢ CHÚA Dựa theo lời Kinh thánh “kính sợ Chúa là khởi điểm của sự cao minh” (Tv 111,10), các tác giả tu đức đặt ơn kính sợ vào cấp bậc khởi đầu của hành trình tâm linh. I. Từ ngữ Danh từ timor tiếng La tinh có thể dịch sang tiếng Việt bằng nhiều danh từ (hoặc động từ): sợ hãi, sợ sệt, run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, kinh khiếp, kinh hoàng, kinh hãi, hãi hùng… Dĩ nhiên, có nhiều cấp độ khác nhau trong những cảm xúc vừa kể: có thứ sợ mà ta có thể dùng lý trí để phân tích đắn đo, có thứ hoảng hốt khiến cho ta không còn làm chủ được chính mình nữa. Ở đây, chúng tôi không muốn phân tích cái sợ dưới khía cạnh tâm lý, nhưng giới hạn vào cái sợ của con người đối diện với Thiên Chúa.
Là người Công giáo tại Việt Nam, nhất là những ai đã lớn lên trong một xứ đạo miền Bắc, Trung hoặc Nam, có lẽ họ không lạ gì sinh hoạt tôn giáo trong tháng Năm, tháng Hoa Đức Mẹ. Khi ngàn hoa xanh, đỏ, trắng, tím, vàng nở rộ trong cánh đồng, thì con cái Mẹ cũng chuẩn bị cho những đội dâng hoa, những cuộc rước kiệu, để tôn vinh Mẹ trên trời. Những điệu ca quen thuộc trìu mến bỗng nổi dậy trong tâm hồn cách thân thương,
Ý NGHĨA LỊCH SỬ NGÀY LỄ KÍNH LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA - LẠY CHÚA GIÊSU ! CON TÍN THÁC NƠI NGÀI - Năm 1931, Chúa hiện ra với thánh nữ Faustina trong một thị kiến. Thánh nữ nhìn thấy Chúa Giêsu mặc một chiếc áo trắng với cánh tay phải giơ lên như đang chúc lành. Tay trái của Ngài đụng vào áo nơi trái tim, nơi mà hai ánh sáng chiếu tỏa ra, một tia màu đỏ và một tia màu trắng lạt.
Mầu nhiệm Chúa Kitô chịu khổ hình, chết và sống lại là mầu nhiệm chỉ có thể đứng đàng sau mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, luôn lôi cuốn tâm trí từ người bình dân đến hàng thức giả bậc nhất của nhân loại. Và dù có cố gắng bao nhiêu, họ đành phải dừng lại chỉ để chiêm ngắm.
Để hiểu Tân Ước nói gì về sự phục sinh, chúng ta cần phải am tường bối cảnh tôn giáo của các bản văn Tân Ước cũng như bối cảnh của những người đọc các bản văn này. Chúng ta phải xét đến ngữ cảnh của người viết lẫn độc giả, nghĩa là thế giới ý nghĩa của người Do Thái. resurrec.jpg SỰ PHỤC SINH TRONG TƯ TƯỞNG DO THÁI
Thứ Năm Tuần Thánh là một trong những ngày quan trọng nhất trong toàn bộ lịch sử. Đó là ngày trụ cột chính trong cuộc đời Chúa Giêsu. Dưới đây là 10 điều bạn nên biết và làm thế nào để cử hành các điều ấy trong ngày Lễ quan trọng này. Trong mọi Thánh lễ chúng ta đều nghe những lời ‘Trong đêm Người bị trao nộp’. Đó chính là Thứ Năm Tuần Thánh, là đêm quan trọng nhất trong mọi đêm trong lịch sử.
Một trong những cổ vật hiếm hoi được cho là truyền từ thời Chúa Giêsu còn tại thế đã được phát hiện sau nhiều năm phân tích. Cái tên Phongxiô Philatô (tiếng Anh Pontius Pilate) vô cùng quen thuộc với các tín hữu. Thế nhưng, rất ít thông tin được truyền đến ngày nay về cuộc đời và công việc của ông ta. Các nhà khảo cổ học vừa bổ sung một manh mối vào danh sách chứng cứ ít ỏi về nhân vật lịch sử “khét tiếng” này: một chiếc nhẫn bằng đồng thau 2.000 năm tuổi mang tên Philatô.
Tất cả chúng ta có nhiều cơ hội để nhận được ơn toàn xá (plenary indulgence) trong Tuần Thánh cho bản thân chúng ta hay nhường lại cho những người thân trong luyện ngục. Những ơn toàn xá này được liệt kê trong “Enchiridion Indulgentiarum, Fourth Edition 1999” – Sổ Bộ Ân Xá, Ấn bản thứ Tư 1999. Tài liệu này đã được Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ dịch sang Anh Ngữ và in thành sách với tựa đề “Manual Of Indulgences: Norms and Grants” (Cẩm Nang Ân Xá: Quy tắc và Ân ban), được xuất bản lần đầu tiên vào vào tháng Sáu năm 2006 và được tái bản nhiều lần. Lần cuối là lần thứ 5 vào năm 2017.
Theo National Catholic Register, trong tuyên bố ý nghĩa nhất kể từ ngày từ nhiệm ngôi giáo hoàng năm 2013, Đức Giáo Hoàng Hưu Trí Bênêđíctô XVI vừa viết 1 tiểu luận khá dài về nạn giáo sĩ lạm dụng tình dục trong đó, ngài giải thích điều ngài cho là gốc rễ của cuộc khủng hoảng, hậu quả nó tạo cho chức linh mục và Giáo Hội nên đáp ứng tốt nhất ra sao.
Bảo Trợ