Có Bao Nhiêu Mối Phúc Thật?

20 Tháng Hai 20192:36 SA(Xem: 477)

Có Bao Nhiêu Mối Phúc Thật?

Kính thưa quý vị độc giả,

Chúng ta thường nghe nói đến 8 mối phúc. Nhưng trong bài đọc Tin mừng chúa nhật hôm nay theo thánh Luca, người ta chỉ đếm 4 mối phúc. Xét cho cùng, có bao nhiêu mối phúc? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời.

giang day

Trước khi đi vào vấn đề, thiết tưởng nên nhắc lại khung cảnh của các bản văn. Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta được nghe bản văn của Luca, kể ra bốn mối phúc kèm theo bốn mối họa. Còn tuyên ngôn về tám mối phúc thì trích từ bài giảng trên núi theo thánh Matthêu. Dĩ nhiên là độc giả có lý để nêu lên thắc mắc: tại sao có sự khác nhau giữa hai danh sách như vậy? Thánh sử nào trung thực với lời giảng của Chúa Giêsu hơn? Một vấn nạn tương tự cũng được nêu lên liên quan đến hai phiên bản kinh Lạy Cha theo thánh Matthêu và thánh Luca, và Matthêu cũng dài hơn. Để trả lời cho các câu hỏi đó, đã có nhiều ý kiến khác nhau. Không cần phải là chuyên gia Kinh thánh, người ta cũng có thể đoán được là có ít nhất là ba chủ trương: một chủ trương cho rằng Luca sát với bài giảng của Chúa Giêsu hơn; một chủ trương thứ hai thì bênh vực Matthêu; và một chủ trương thứ ba cho rằng chẳng có ai trung thực hết. Và tôi ủng hộ chủ trương này.

Vì lý do gì?

Tôi thấy có ít là hai lý do mà không cần phải là nhà chuyên môn về Kinh thánh cũng có thể chấp nhận được. Lý do thứ nhất là vào thời xưa, chưa có máy ghi âm hay máy quay phim, cho nên đâu có ký giả nào ghi lại trọn vẹn các lời giảng của Chúa Giêsu. Lý do thứ hai, là nếu chịu khó mở sách Tân ước, chúng ta có thể đếm được cả chục mối phúc chứ không phải chỉ  có tám mà thôi. Chúng ta hãy rảo qua một vòng, bắt đầu từ các sách Tin mừng, rồi sau đó đến các tác phẩm khác. Trong các lời giảng của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Người công bố hạnh phúc cho nhiều người, đồng thời Người cũng làm cho nhiều người phải mang họa, nghĩa là “vô phúc” (hoặc “khốn thay”). Vô phúc cho những người không đón nhận tin mừng, chẳng hạn như các thành phố cứng lòng (Mt 11,21); vô phúc cho những người kinh sư và biệt phái vì bám sát vào tục lệ mà bỏ qua Luật Thiên Chúa (Mt 23,13-31). Ngược lại, phúc cho những ai nhận ra ơn cứu độ của Thiên Chúa được ban nơi bản thân và hoạt động của Đức Giêsu: đó là những kẻ lắng nghe lời Thiên Chúa (Lc 11,28), những kẻ tin tuy không thấy (Ga 20,29), những kẻ không vấp ngã vì Đức Giêsu (Lc 7,23; Mt 11,6). Phúc cho những cặp mắt đã nhìn thấy Đức Kitô (Mt 13,16); phúc cho thân mẫu của Đấng Mêsia vì đã sinh hạ Đấng Cứu độ thế gian (Lc 1,48; 11,27), và đã tin vào những lời Thiên Chúa hứa (Lc 1,45); phúc cho ông Simon Phêrô, bởi vì ông được Chúa Cha mặc khải cho biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (Mt 16,17); phúc cho những kẻ tỉnh thức trông chờ Chúa đến (Lc 12,37-38; Kh 16,15); phúc cho những tôi tớ trung thành và khôn ngoan (Mt 24,46: Lc 12,43); phúc cho những kẻ thực hành việc thương xót tha nhân (Lc 14,14), khiêm tốn phục vụ anh em (Ga 13,17); phúc cho ai kiên nhẫn chịu đựng những thử thách và chiến đấu cho đức tin (Gc 1,12.25; 5,11; 1 Pr 3,14; 4,14).

Thánh Phaolô ít khi đưa những lời khẳng định về hạnh phúc, nhưng những lần ít ỏi đó rất có ý nghĩa thần học. Khi trưng dẫn một đoạn văn Cựu ước (Tv 32,1-2), thánh tông đồ nói rằng phúc cho ai lãnh nhận sự tha thứ lỗi lầm, và hạnh phúc ấy phát sinh từ chỗ biết rằng mình đã nên công chính, nghĩa là đã được giao hòa với Thiên Chúa (Rm 4,7-9). Một lần khác, thánh Phaolô tuyên bố rằng phúc cho ai không bị lương tâm khiển trách về những quyết định liên quan đến các vấn đề luân lý còn đang hồ nghi (Rm 14,22). Sau cùng, ngài cho rằng một góa phụ không tái giá thì hạnh phúc hơn, ngõ hầu dành hết công sức để phục vụ Chúa (1Cr  7,40).

Một điều có lẽ ít người nghĩ đến là Sách Khải huyền chứa đựng 7 mối phúc (và 14 mối họa), bổ sung cho quan niệm Tân ước về hạnh phúc. Tác giả mở đầu với lời tuyên bố: “Phúc thay người đọc, phúc thay những ai nghe những sấm ngôn đó và  tuân giữ các điều chép trong đó” (1,3), và kết thúc với những lời tương tự (22,7). Những lời chúc phúc còn lại liên quan đến:
những người đã ly trần trong Chúa, bởi vì họ được nghỉ ngơi sau những công lao vất vả (14,13); những tín hữu đã tỉnh thức suốt đời và đầy dẫy những việc lành (16,15); những người được mời tham dự tiệc cưới của Con Chiên bởi vì niềm hạnh phúc được cứu rỗi (19,9: x. Lc 14,15; 22,30; Mt 26,29); những người được thông dự vào sự phục sinh lần thứ nhất bởi vì họ sẽ được giải thoát khỏi cái chết đời đời (20,6); những kẻ đã giặt áo mình trong máu của Con Chiên, nghĩa là đã được hưởng nhờ những hiệu quả của ơn Cứu chuộc, và như thế họ sẽ bước vào vinh quang trên trời (22,14).

Như vậy Tin mừng nói đến rất nhiều mối phúc. Tại sao thánh Matthêu rút lại thành 8, và thánh Luca lại giảm xuống 4?

Thật là khó biết được lý do vì sao hai thánh sử đã chọn lọc như vậy. Nhưng có một điều chắc chắn là các ngài không có chủ ý liệt kê tất cả các mối phúc. Thực ra, giữa hai bản văn, ta thấy có những điều trùng hợp và những điều khác biệt. Các mối phúc của Luca xem ra loan báo một sự đảo ngược tình trạng: đau khổ ở đời này, vui sướng ở đời sau (x. Lc 16,25). Các mối phúc của thánh Matthêu vạch ra một chương trình sống đức độ và nêu bật mối liên hệ giữa nếp sống đức hạnh với phần thưởng cánh chung. Thánh Matthêu trình bày diễn từ của Đức Giêsu ở ngôi thứ ba (“Phúc cho ai nghèo khó”), thánh Luca đặt ở ngôi thứ hai (“Phúc cho anh em là những người nghèo khó”). Theo thánh Luca, Đức Giêsu tuyên bố hạnh phúc cho những người nghèo, đói khát, khóc lóc và chịu bách hại (Lc 6,20-22); nơi thánh Matthêu, hạnh phúc dành cho những người nghèo, hiền lành, khóc lóc, đói khát, nhân từ, tâm hồn thanh sạch, hiếu hòa, chịu bách hại (Mt 5,3-12). Thánh Luca nhấn mạnh vị trí tuyệt đối của đời sống vĩnh cửu, còn đời sống trần thế chỉ là khí cụ: quả vậy, chỉ có một điều duy nhất cần thiết; những gì còn lại cần được nhìn như dụng cụ để đạt được cái giá trị tuyệt đối ấy. Vì thế ta hiểu được vì sao chịu đau khổ vì Đức Kitô lại là một mối phúc: “Anh em hãy vui mừng hớn hở vì phần thưởng dành cho anh em trên trời sẽ lớn lao” (Lc 6,23). Thánh Matthêu gắn cho các mối phúc một đặc tính thiêng liêng: những người nghèo có phúc không phải là những người nghèo túng nhưng là những người nghèo “trong tinh thần”; những người đói khát có phúc là những kẻ đói khát “sự công chính” chứ không phải đói cơm bánh. Thánh Luca đặt nặng chiều kích xã hội: hạnh phúc tương lai là phần thưởng cho những lầm than hiện tại. Thánh Matthêu chú trọng đến thái độ nội tâm, vạch ra lý tưởng nghèo khó. Tuy nhiên cả hai chiều kích, nội tâm và xã hội, đều có liên hệ chặt chẽ; bởi vì nếu ai có tinh thần nghèo khó đích thực thì trước sau cũng thoát ly khỏi tiền bạc của cải.

Bốn mối phúc chung – khó nghèo, đói khát, khóc lóc, chịu bách hại – nêu bật rằng hạnh phúc của người Kitô hữu chấp nhận điều kiện khó nghèo (đói khát và nước mắt là hệ luận của nghèo khó) với đức tin, hy vọng và yêu mến, thì đã là công dân của vương quốc Thiên Chúa, vương quốc mà hiện thời ở trong thế chiến đấu nhưng sẽ là vương quốc hạnh phúc vĩnh cửu trong vinh quang. Các mối phúc này cũng muốn nêu bật rằng hạnh phúc của một tín hữu chịu bách hại, không những phải chấp nhận cuộc sống cam go và khó nghèo mà còn phải chịu đựng sự đàn áp của những đối thủ của Thiên Chúa và tôn giáo, giống như dân Israel, các ngôn sứ và nhất là Đức Giêsu Kitô. Kể từ khi Đức Kitô chịu chết trên thập giá trước khi phục sinh thì đau khổ và vinh quang, chịu bách hại và hạnh phúc là những thực tại không thể tách rời nhau. Khó nghèo, đói khát và nước mắt, chịu ngược đãi, là những tình trạng ưu tiên để vào Nước Trời. Hạnh phúc thay ai chấp nhận những sự dữ ấy vì Đức Kitô và với Đức Kitô; mặc dù điều đó không đồng nghĩa với thái độ thụ động, buông xuôi khi đối diện với sự dữ.

Dù sao đi nữa, vấn đề chính yếu không chỉ dừng lại ở chỗ tuyên bố ai là người có phúc, nhưng là ở chỗ phát biểu nội dung của hạnh phúc, phần thưởng làm cho con người được hanh phúc.  Trong Bài giảng trên núi, Đức Giêsu diễn tả “phúc thật vĩnh cửu” qua các hình ảnh như: “Nước Trời là của họ … ; được Đất Hứa làm gia nghiệp …; sẽ được ủi an …; được Thiên Chúa cho thoả lòng …; được Thiên Chúa xót thương…; được nhìn thấy Thiên Chúa…; được gọi là con Thiên Chúa” (x. Mt 5,3-9).  Một cách tương tự, trong bảy lá thư được sách Khải Huyền chương 2-3 nói tới, những lời hứa về phần thưởng được diễn tả như: “ăn quả cây sự sống trồng nơi ngự uyển của Thiên Chúa” (2,7); “được ban triều thiên sự sống … không bị cái chết lần thứ hai làm hại” (2,10-11); “được ban một viên sỏi trắng, trên đó có khắc một tên mới” (2,17); “được ban Sao Mai” (2,28); “được mặc áo trắng, được Đức Kitô nhìn nhận trước mặt Chúa Cha” (3,5); “được làm cột trụ trong Đền thờ Thiên Chúa” (3,12); “dùng bữa với Chúa” (3,20). Nói cho cùng, hạnh phúc đích thực là được hưởng Thiên Chúa, chia sẻ đời sống vĩnh cửu của chính Thiên Chúa.
Hoc Vien Daminh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nhật báo L’Osservatore Romano ngày 27/4/2019 cho biết Ủy ban thần học quốc tế vừa công bố văn kiện về “Tự do tín ngưỡng” được Đức Thánh Cha Phanxicô phê chuẩn ngày 21 tháng 3 vừa qua. Có lẽ vì là văn kiện của một “cơ quan nghiên cứu” (chứ không phải “cơ quan quản trị”) của Tòa Thánh[1], cho nên không có buổi họp báo để ra mắt với báo giới. Trong số báo vừa nói, chỉ có một bài giới thiệu vắn tắt của cha Serge-Thomas Bonino O.P., Thư ký của ủy ban.
Đức ông (Monsignor) là một tước vị danh dự do Đức Thánh Cha ban theo đề nghị của các giám mục địa phương cho một số linh mục có công trạng trong việc phục vụ Giáo hội tại các giáo phận trên toàn thế giới, hoặc cho các linh mục nhân viên của Tòa Thánh làm việc trong các cơ quan trung ương tại Giáo triều Rôma hoặc trong các phái bộ ngoại giao của Tòa Thánh ở các quốc gia trên thế giới.
Nếu so sánh Đạo Tin Lành và Công giáo về các phương diện như : Giáo lý, Luật pháp, Lễ nghi, và Tổ chức thì chúng ta thấy có những điểm tương đồng và những điểm dị biệt kể ra sau đây:
Trong một số báo dành cho phụng vụ sau công đồng Vaticanô II, đề tài về Satan có thể chỉ giới hạn vào việc phân tích “Nghi thức trừ tà” được duyệt lại và phát hành năm 1998. Tuy nhiên, chúng tôi muốn lợi dụng cơ hội này để trình bày một đề tài thần học rộng lớn hơn, đó là: phụng vụ như một chứng tích của đức tin Hội thánh về sự hiện hữu của Satan.
Tại Hoa Kỳ, vào dịp này trong năm, thường có các buổi phong chức cho các tân linh mục. Và do đó, là dịp nhiều linh mục mừng kỷ niệm ngày mình được phong chức, một ơn phúc thật vĩ đại và là một thừa tác hệ trọng. Vào dịp này, Sách Lễ Rôma dự liệu việc các ngài được đọc thêm các lời nguyện cầu cho chính mình (Pro seipso sacerdote).
Phong trào Phụng vụ nảy sinh từ ước vọng muốn cho hành động phụng vụ được đích thực hơn, và từ nhu cầu lôi cuốn tín hữu tham dự một cách trực tiếp hơn vào việc cử hành phụng vụ, vì cho tới lúc bấy giờ họ thường tham dự một cách thụ động.
Giải Đáp Mục Vụ - Tin vào phong thủy có đi ngược với đức tin Công giáo ? -Linh Mục Giuse Phạm Quốc Văn Điều Hợp: Kim Thuý
Chúa Nhật Chúa Chiên Lành là ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu. Trước đây, người ta thường nói đến ơn gọi làm linh mục và ơn gọi làm tu sĩ; nhưng Thượng hội đồng giám mục (THĐ) họp năm ngoái về các bạn trẻ đã nới rộng khái niệm về ơn gọi. Trên thực tế, có bao nhiêu thứ ơn gọi ? Khi thiết lập ngày cầu nguyện cho ơn gọi năm 1964 (nghĩa là cách đây 55 năm), Đức Thánh Cha Phaolô VI nghĩ đến ơn gọi giáo sĩ. Đó là lý do ngài đã chọn đề tài Chúa Giesu, mục tử nhân lành, để trưng bày mẫu gương cho các mục tử trong Hội thánh. Sau đó, ngày cầu nguyện cũng được mở rộng cho ơn gọi đời sống thánh hiến.
Người đọc Sách Thánh hay còn được gọi là độc viên Sách Thánh là người thi hành tác vụ công bố Lời Chúa (qua các Bài đọc) trong Thánh lễ. Đây là một ơn gọi được Thiên Chúa kêu mời dành cho những người có tố chất và khả năng nói – đọc trước công chúng để họ trở thành tác viên phụng vụ trong chức năng công bố Lời Chúa. Họ có sứ mạng làm cho Thiên Chúa hiện diện đối với cộng đoàn trong phần Phụng vụ Lời Chúa. Họ có thể là người lãnh tác vụ đọc sách hoặc là người đã được chọn lựa, huấn luyện và chỉ định làm độc viên Sách Thánh. Họ thuộc về một đội hay một nhóm những người chuyên đọc Sách Thánh của cộng đoàn hay giáo xứ, chứ không phải bị chỉ định đột xuất.[1]
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Có lần cha xứ của con đã đọc lời truyền phép bánh hai lần: lần đầu trên bánh và lần sau trên rượu. Hình như ngài không nhận ra điều này - mặc dù một số giáo dân đã nhận ra. Chắc chắn ngài không quay lại và đọc lời truyền phép đúng. Như thế liệu việc truyền phép rượu có thành sự không? Thánh lễ có hợp lệ không? Có một thầy phó tế trong Thánh lễ đó, nhưng thầy không can thiệp. Thầy cũng giật mình như bất kỳ ai trong chúng con, và trước khi chúng con nhận ra điều gì đã xảy ra, linh mục vẫn tiếp tục với phần còn lại của Kinh Nguyện Thánh Thể. Liệu thầy phó tế nên can thiệp ngay lập tức chăng, thậm chí đến mức làm gián đoạn Kinh nguyện Thánh Thể? Liệu có ai đó nên can thiệp ngay lập tức chăng, ngay cả khi nói lớn tiếng từ ghế tín hữu?
Bảo Trợ