Mật ước Thành Đô: Đập như thế là… tan?

15 Tháng Hai 20191:24 CH(Xem: 434)

Người Việt ở cả trong lẫn ngoài Việt Nam đang cố gắng xác định xem tại sao hệ thống truyền thông chính thức lại đồng loạt đề cập đến cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc Việt Nam cách nay 40 năm (17/02/1979 – 17/02/2019). Rõ ràng là hệ thống đèn tín hiệu trong tuyên truyền về quan hệ Việt – Trung đã chuyển từ đỏ sang xanh nhưng cho đến giờ, vì sao thì chỉ là những… đồn đoán!

Hội nghị Thành Đô đã diễn ra trong bí mật.

Kể từ đầu thập niên 1990, sau khi Việt Nam “bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc”, cuộc chiến vệ quốc kéo dài từ 1979 đến 1988 trở thành một trong những chủ đề cấm kỵ. Chẳng riêng hệ thống truyền thông chính thức, hệ thống giáo dục, văn nghệ sĩ cũng phải làm ngơ. Không ai được phép để công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ… ngộ nhận về Trung Quốc như một hiểm họa tiềm ẩn đối với vận mệnh quốc gia, tương lai dân tộc.

Đã có một số người cho rằng, sở dĩ hệ thống truyền thông chính thức ở Việt Nam đang đồng loạt “xông lên”, thậm chí đài truyền hình quốc gia, đài phát thanh quốc gia hăm hở phát lại những lời hiệu triệu, những nhạc phẩm từng được phát rộng rãi cách nay 40 năm, kêu gọi toàn quân, toàn dân theo đảng bảo vệ biên cương, vô hiệu hóa dã tâm của Trung Quốc là vì bối cảnh chính trị, tương quan giữa thế và lực trong khu vực đang thay đổi… Một số người khác thì cho rằng, hệ thống truyền thông chính thức ở Việt Nam được phép “ôn cố” vì năm nay là năm chẵn – tròn 40 năm tính từ ngày Trung Quốc xua đại quân tràn sang Việt Nam, dạy cho Việt Nam một bài học…

Những nhận định, lý giải theo hướng đó dường như không ổn lắm. Đâu phải đến bây giờ bối cảnh chính trị, tương quan giữa thế và lực trong khu vực mới thay đổi. Việt Nam đã mất toàn bộ quần đảo Hoàng Sa năm 1974, mất phần quan trọng nhất ở quần đảo Trường Sa vào cuối thập niên 1980. Bảy bãi đá mà Trung Quốc cưỡng đoạt của Việt Nam năm 1988 đã trở thành bảy căn cứ quân sự, khống chế toàn bộ biển Đông. Khi đường ra biển của ngư dân Việt Nam bị thu hẹp, ngư nghiệp trở thành èo uột. Nợ Trung Quốc được phán đoán là càng ngày càng lớn, dấu hiệu lệ thuộc Trung Quốc về chính trị - kinh tế càng ngày càng rõ, tại sao không ai được bình phẩm, cảnh báo? 40 năm là chẵn nhưng chẳng lẽ 30 năm, 20 năm không… chẵn? Thế thì tại sao trước đây vẫn phải làm ngơ?

***

Không phải tự nhiên nhiều người Việt ở cả trong lẫn ngoài Việt Nam cùng cho rằng, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam “hèn với giặc, ác với dân”. Năm 2014, sự âu lo chuyển thành phẫn nộ, lan rộng đến cả cán bộ, đảng viên, giới lão thành cách mạng, sau khi Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo đồng loạt tiết lộ một phần “Kỷ yếu Hội nghị Thành Đô”: 

“Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc” (1).

Rất khó phân định thông tin của Tân Hoa Xã, Hòan Cầu Thời Báo là thực hay hư nhưng cách hành xử của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam khiến sự ngờ vực càng ngày càng lớn. Cho dù uy tín của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam sút giảm nghiêm trọng, cho dù có rất nhiều ông tướng hữu công, cán bộ lão thành cách mạng yêu cầu bạch hóa “Mật ước Thành Đô” nhưng hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam vẫn im lặng. Thay vì bạch hóa “Mật ước Thành Đô” hoặc công khai phản bác “luận điệu bịa đặt với ý đồ kích động, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân” của Tân Hoa xã, Hoàn Cầu Thời Báo, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam chỉ phát hành một “tài liệu lưu hành nội bộ”, khẳng định: “Không hề có cái gọi là thỏa thuận Việt Nam sẽ thành khu tự trị thuộc Trung Quốc” và nhấn mạnh: “Hội nghi Thành Đô thể hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của đảng ta, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước” (2).

Năm tới là 2020 – thời điểm mà theo Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu Thời Báo, Việt Nam sẽ hoàn tất việc chuẩn bị để trở thành một Khu Tự trị của Trung Quốc. Dẫu cho sự âu lo và phẫn nộ của công chúng càng ngày càng lớn, dẫu cho sự kiện hệ thống truyền thông chính thức đã và đang đồng loạt đề cập đến cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc Việt Nam cách nay 40 năm (17/02/1979 – 17/02/2019), sẽ cung cấp cho hệ thống tuyên giáo bằng chứng cần thiết để “đập tan” những chỉ trích, trấn an những nghi ngại về “Mật ước Thành Đô” nhưng không thể chỉ vì thế mà đoan chắc, đó là lý do hệ thống đèn tín hiệu trong tuyên truyền về quan hệ Việt – Trung đột nhiên chuyển từ đỏ sang xanh.

***

Giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam luôn luôn “tài tình, sáng suốt”, luôn luôn có giải pháp để chuyển nguy thành an.

Trước, người Việt phải cùng nhau thực thi “tinh thần bốn tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt), tụng niệm “16 chữ vàng” (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) vì Việt Nam và Trung Quốc có một “di sản quý báu là sự tương đồng ý thức hệ”. “Đặc trưng của ý thức hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một đảng Cộng sản lãnh đạo”. Chính “điểm tương đồng đó đã tạo ra mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc”, “chi phối cách ứng xử của hai nước” bởi “nếu có được một người bạn xã hội chủ nghĩa rất lớn bên cạnh ủng hộ và hợp tác cùng có lợi thì sẽ vô cùng thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (3). Để khuynh hướng ghét Trung Quốc trở thành phổ biến, ngại nói điều tích cực về Trung Quốc là “nguy hiểm cho dân tộc” vì “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ vẫn phải bảo vệ hòa bình, ổn định chính trị, thành quả cách mạng và giữ quan hệ hữu nghị với Trung Quốc, tăng cường phát triển toàn diện kinh tế - xã hội đất nước” (4).

Nay, đồng loạt nhắc lại cuộc chiến vệ quốc 40 năm trước, chủ yếu là đề cao tinh thần ái quốc của người Việt. Trấn an người Việt rằng khi họ luôn sẵn sàng theo… đảng, hy sinh tất cả để bảo vệ lãnh thổ thì ngoại xâm chẳng bao giờ là họa. Những chuyện như thường dân bị thảm sát, các thị xã, thị trấn, làng mạc ở khu vực biên giới bị san thành bình địa vì “không ai nghĩ đang là ‘đồng chí’ lại đánh nhau” như ông Vương Dương Tường, Bí thư Cao Bằng giai đoạn 1979 - 1992 từng thú nhận là… không được phép (5). Chưa biết đúng ngày 17 tháng 2, các viên chức lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam có đến thắp hương tưởng niệm những người Việt đã bỏ mình trong cuộc chiến vệ quốc cách nay 40 năm hay không (?). Chắc là không vì điều đó không có lợi cho quan hệ hữu nghị với Trung Quốc, dùng truyền thông “đối nội” là tình thế, không thể gây bất lợi trong… “đối ngoại”. Còn nếu có thì đó là thừa.

Làm sao có thể tin vào những thẻ nhang, vòng hoa, diễn văn bày tỏ sự biết ơn khi vẫn còn khoảng 2.500 hài cốt liệt sĩ đang phơi mưa nắng tại các cao điểm 1.800A, 1.800B, 1.722, 1.220, 1.030,… mà hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam không thèm bận tâm đến chuyện mang về. Tháng 11 năm 2017, tướng Sùng Thìn Cò – Phó Tư lệnh Quân khu 2 đồng thời là đại biểu của tỉnh Hà Giang tại Quốc hội khóa 14, từng khẩn khoản xin Quốc hội cấp tiền cho Bộ Quốc phòng và Quân khu 2 một lần để đưa hết toàn bộ hài cốt các liệt sĩ về với gia đình, về với quê hương (2) nhưng chẳng ai thèm đoái hoài. Ngoài Hà Giang với 2.500 hài cốt đang phơi mưa nắng, bao giờ thì hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam tính đến chuyện tìm kiếm, an táng hài cốt những liệt sĩ tử trận ở Cao Bằng, Lạng Sơn trong giai đoạn 1979 - 1981? Chắc chắn là còn lâu. Trong nhận thức của những người cộng sản Việt Nam, bán đất để có tiền xây dựng những công viên, tượng đài tưởng niệm… Fidel Castro hữu lý hơn.

Cho rằng hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam “hèn với giặc, ác với dân” dường như không đúng. Những hệ thống đó không “hèn” cũng chẳng “ác” mà duy lợi. Duy lợi nên không bận tâm đến vận mệnh quốc gia, tương lai dân tộc, không trước, không sau, không tình đồng chí, chẳng nghiã đồng đội. Mục tiêu duy nhất, trước sau như một vẫn chỉ nhằm duy trì được đặc quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối tại Việt Nam để một số cá nhân thủ đắc đặc lợi. Chỉ thế mà thôi!

Chú thích

(1) https://vi.wikipedia.org/wiki/Hội_nghị_Thành_Đô

(2) https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2014/10/141014_chengdu_meeting_circular

(3) http://tuoitre.vn/khong-ai-quen-loi-ich-quoc-gia-dan-toc-527794.htm

(4) http://thanhtra.com.vn/chinh-tri/doi-ngoai/xu-the-ghet-trung-quoc-nguy-hiem-cho-dan-toc_t114c1065n84289

(5) https://daotuanddk.wordpress.com/2014/02/13/hoa-dao-bien-vien/

(6) http://soha.vn/tuong-sung-thin-co-nhin-len-dinh-nui-biet-rang-hang-nghin-dong-chi-van-nam-do-20171102162626581.htm


16x9 Image

Trân Văn VOA

Trân Văn là bút danh của một nhà báo có 28 năm làm việc ở nhiều vị trí khác nhau (Cộng tác viên, Phóng viên, Biên tập viên, Thư ký Tòa soạn) của một số đài truyền hình, đài phát thanh, nhật báo, tuần báo, báo điện tử tại Việt Nam và Hoa Kỳ.



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
“Nếu một quốc gia vô tình phóng một hỏa tiễn mang bom hạch tâm làm chết 650,000 người, thì chắc giới lãnh đạo cả thế giới phải yêu cầu điều tra toàn diện xem chuyện gì đã xẩy ra để trong tương lai sẽ tránh được.” Thí dụ trên do ông Jamie Metzl nêu ra để hỏi tại sao không ai đòi phải điều tra vụ bệnh dịch Covid 19 xuất phát từ Vũ Hán đã gây họa làm chết một số người lớn tương tự, mà chính quyền cộng sản Trung Quốc chịu trách nhiệm! Jamie Metzl là một nhà “nghiên cứu tương lai,” trong các lãnh vực kỹ thuật, y học, địa lý chính trị, vân vân. Ông đã từng làm việc trong Ủy ban An ninh Quốc gia và Bộ Ngoại giao thời chính phủ Clinton, làm điều tra viên của Ủy ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc tại Campuchia. Năm 2019 ông tham dự ủy ban tư vấn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Chuyên gia Việt Nam và nhà điều hành ENI (Ý) trong ngày phát hiện dầu khí tại Mỏ Kèn Bầu Ngành dầu khí Việt Nam vừa công bố phát hiện một mỏ dầu khí - Mỏ Kèn Bầu - được cho là lớn nhất trong lịch sử của ngành trên Biển Đông. Kế hoạch khai thác mỏ này như thế nào? Và liệu rằng Việt Nam có nguy cơ lại bị Trung Quốc đe dọa đến mức phải từ bỏ việc phát triển mỏ khí này? BBC News Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Lê Minh, chuyên gia tư vấn chiến lược và thị trường, thành viên Hội đồng Biên tập và Phản biện Tạp chí Năng lượng Việt Nam, quanh các vấn đề này. BBC: Được biết vừa qua ngành dầu khí Việt Nam mới đây công bố việc phát hiện ra mỏ Kèn Bầu với trữ lượng dầu khí rất lớn. Ông có thể cho biết về phát hiện này?
Trung Quốc đã từng lừa được chính phủ Barack Obama để quân sự hóa các đảo ở Trường Sa và họ không mấy lo ngại trước việc gia tăng hoạt động tuần tra bảo vệ tự do hàng hải của Hải Quân Mỹ. Nhưng với tuyên bố lập trường ngày 13 Tháng Bảy của Bộ Ngoại Giao Mỹ, Bắc Kinh bắt đầu thấy chột dạ. Tuyên bố của Mỹ một mặt bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông là “bất hợp pháp,” một mặt cho thấy Mỹ thay đổi quan điểm, đứng về phía các nước nhỏ đang tranh chấp với Trung Quốc, và quan trọng hơn, kích thích các nước nhỏ lên tiếng đòi quyền lợi chính đáng của họ, hình thành một liên minh không chính thức kháng cự lại các yêu sách của Bắc Kinh. Nếu không muốn tỏ ra “yếu thế” trước dân chúng trong nước và các nước láng giềng, chắc chắn Trung Quốc sẽ hành động.
Vừa Hán hóa vừa thực dân, ‘giấc mộng Trung Hoa’ sẽ chỉ là giấc mộng ? Nhà báo François Bougon phân tích, Hán tộc được coi là chủng tộc ưu việt, và đảng Cộng Sản có nhiệm vụ đưa một Trung Quốc của người Hán vào vị trí trung tâm thế giới. Thế nên phải thực hiện mưu đồ đế quốc mà Bắc Kinh gọi là « Giấc mộng Trung Hoa » : vừa Hán hóa các sắc tộc trong nước, vừa thực dân hóa thế giới bên ngoài qua « Con đường tơ lụa mới ». Đại dịch corona là trọng tâm chính của các tuần san kỳ này, bên cạnh đó là mối đe dọa từ Trung Quốc. L’Express dành 30 trang báo cho việc « Tìm lại chỗ đứng », nói về cuộc chiến...
Đại dịch COVID-19 đã làm đảo lộn tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của cả thế giới. Riêng những thay đổi đã và tiếp tục xảy ra ở Mỹ như thế nào và có tầm ảnh hưởng đến Việt Nam ra sao, sẽ là đề tài của bài này. Đầu tiên chúng tôi xin trình bày về tình hình tại Mỹ.
“Muốn bảo vệ tự do cho nước Mỹ và tự do cho Thế giới, Trung Hoa phải có tự do” chính là tóm tắt chiến lược “thoát Trung” được giải thích qua 4 bài phát biểu của 4 vị lãnh đạo hành chánh Mỹ gần đây. Mỹ thụ động và ngây thơ … Ngày 24/6/2020, Cố vấn an ninh quốc gia Robert O’Brien nêu lên một sự thật phũ phàng là gần nửa thế kỷ qua các chính trị gia cả hai đảng, các nhà khoa bảng, nhà giáo dục, nhà báo, nhà kinh doanh Mỹ đều thụ động và ngây thơ (passivity and naivety) trước Trung cộng.
“Cuộc chiến công hàm” tại Liên hợp quốc (LHQ) giữa các bên tranh chấp trên Biển Đông đã có chuyển biến mới khi Malaysia gửi công hàm bác bỏ tuyên bố trước đó của Trung Quốc nói rằng Kuala Lumpur không có quyền xin thiết lập thềm lục địa ở vùng biển phía Bắc của Biển Đông. Ngày 29/7, Phái đoàn thường trực của Malaysia tại LHQ đã gửi công hàm số HA26/20 tới Tổng thư ký LHQ, trong đó khẳng định định tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các thực thể tại Biển Đông không có cơ sở pháp lý.
Từ nhiều năm trước Stephen Hawking đã dự đoán về những thảm cảnh mà nhân loại sẽ phải chịu đựng. Rất ít người tin vào điều đó cho đến lúc nó thực sự xảy ra… Bắt đầu từ năm 2019, bức tranh thế giới đầy những gam màu tối, đầy biến động và bất ổn. Cháy rừng ở Australia trong bốn tháng, lửa cháy lan ra nhiều thành phố xung quanh, bầu trời biến thành một màu đỏ máu. Thủ đô Canberra lần đầu tiên trong suốt 17 năm phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Nạn châu chấu hoành hành ở Châu Phi khiến người dân kinh hãi. Số lượng châu chấu sa mạc ở khu vực Ethiopia, Kenya và Somalia đạt đến 360 tỷ con, nhiều nhất trong 25 năm qua. Trung Đông thì giống như một thùng thuốc nổ, chạm nhẹ là phát nổ, chỉ là không biết ai sẽ là người rút dây nổ
Leo thang căng thẳng Mỹ - Trung bước sang một nấc mới : « Cuộc chiến lãnh sự ». Hoa Kỳ và Trung Quốc trong tuần qua ra lệnh đóng cửa các tòa lãnh sự lẫn nhau : Một của Trung Quốc tại Houston và một của Mỹ tại Thành Đô. Hoa Kỳ đặc biệt tố cáo Bắc Kinh gia tăng các hoạt động gián điệp, đánh cắp công nghệ nhằm phục vụ cho mục tiêu « Tầm nhìn Made in China 2025 » đầy tham vọng. Chỉ trong vòng vài ngày từ 21-24/07/2020, nhiều sự kiện dồn dập xảy ra, khiến cho mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc, vốn dĩ đã xấu đi nay thêm phần tồi tệ. Ngày 21/07/2020, bộ Tư Pháp Hoa Kỳ thông báo
Ngành công nghiệp vũ khí của Mỹ lệ thuộc Trung Quốc. Nhà Trắng và Lầu Năm Góc cùng ý thức được về nghịch lý này và đã có những bước chuẩn bị đề phòng Bắc Kinh cắt nguồn cung cấp « nguyên liệu của thế kỷ 21 », như nhận định của nhà báo Guillaume Pitron, tác gia cuốn « Chiến tranh kim loại hiếm », NXB LLL (2018). Truyền thông quốc tế dồn dập đưa tin về chiến tranh thương mại Mỹ-Trung từ mùa xuân 2018 với những vòng đàm phán kéo dài, rồi đến thỏa thuận bán phần, trong đó hai đối thủ tuyên bố tạm buông vũ khí.
Bảo Trợ