Khi Nhạc Jazz Là Một Vũ Khí Bí Mật…

16 Tháng Sáu 20197:09 SA(Xem: 166)

Khi nhạc Jazz là một vũ khí bí mật…

Khi nhạc Jazz là một vũ khí bí mật…
 
Louis Armstrong, Duke Ellington, và Georges Auric (Académie du Jazz - 1960).© Claude Poirier/Roger Viollet

Năm 1945, Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Nhưng ngay sau đó, cuối những năm 1950, một cuộc chiến khác lại nảy sinh : cuộc Chiến Tranh Lạnh. Thế giới như bị phân thành hai khối : Một bên theo Hoa Kỳ và bên kia theo Liên Xô.

Người ta chứng kiến một cuộc chiến hình ảnh, tuyên truyền và gây ảnh hưởng dữ dội đến từ hai phía cứ như là Hoa Kỳ và Liên Xô làm mọi cách để chiếm lĩnh trái tim của người dân toàn cầu. Và cuộc chiến này cũng đã lan sang cả lĩnh vực nghệ thuật và âm nhạc.

Nếu như nhạc jazz giờ là một phần đời sống thường nhật của những người mê nhạc, ít ai biết rằng dòng nhạc này từng có giai đoạn « lẫy lừng » trong lịch sử thế giới đương đại. Jazz, một công cụ giải phóng của cộng đồng người Mỹ gốc Phi, từng được sử dụng như là một phương tiện để phô trương hình ảnh một nước Mỹ tự do trong suốt thời kỳ Chiến Tranh Lạnh.

Chính vì điều này mà Adam Clayton Powell Jr, nghị sĩ da mầu đầu tiên trong Quốc Hội Mỹ đã đề xuất một ý kiến nhằm chống lại những tuyên truyền đến từ Liên Xô ví Hoa Kỳ như là một quốc gia « tàn bạo »  « phân biệt chủng tộc » : Dùng nhạc jazz như là một vũ khí.

Một loại vũ khí không như bao kiểu vũ khí khác, một loại vũ khí rõ ràng có tính răn đe hơn, hoàn toàn không có hại so với các loại vũ khí thông thường. Và loại vũ khí này đã ra đời dưới một cái tên nổi tiếng « Jazz Ambassadors ».

Vì sao Hoa Kỳ thời ấy lại chọn jazz như là một vũ khí chính trị ? Trên làn sóng RFI, ông Claude Carrrière, chủ tịch danh dự Viện Hàn lâm nhạc Jazz giải thích :

« Đúng là nhạc Jazz là hình thức âm nhạc duy nhất đặc thù Mỹ. Chắc chắn đó là hình thức nghệ thuật duy nhất Mỹ. Và đúng như vậy, trong thế kỷ 20 hay đúng ra là kể từ thế kỷ 20, nhạc Jazz được coi là biểu tượng của nước Mỹ. Thật là tốt nếu như nước ngoài, đặc biệt là các nước cộng sản nghe được nhạc Jazz. Bởi vì đó là thứ âm nhạc lai trộn, có nguồn gốc châu Phi và sau đó, châu Âu phát triển cách hòa âm, sử dụng nhạc cụ. Nhạc Jazz phản ánh, minh họa khá rõ nét về xã hội Mỹ. »

Trong những năm 1950, dòng nhạc jazz đã đạt đỉnh tại Hoa Kỳ. Nhạc jazz phát triển mạnh mẽ, trở thành một dòng nhạc trí thức. Jazz là thể hiện bởi nhiều nhân vật nổi tiếng, Duke Ellington, Louis Armstrong và Dizzie Gillespie. Vẫn theo ông Claude Carrière, việc chọn nhạc Jazz là một ý tưởng độc đáo để có thể làm đối trọng vũ kịch ballet Bolchoi và Kirov đang tung hoàng ngang dọc trên khắp năm châu.

« Nước Mỹ chẳng có gì độc đáo để giới thiệu với thế giới bên ngoài. Chẳng lẽ họ lại đưa dàn nhạc sang châu Âu biểu diễn George Gershwin. Ở châu Âu, người ta chơi hay hơn nhiều, rồi có Ravel và người Nga thì có âm nhạc cổ điển theo truyền thống châu Âu thật tuyệt vời, có thể sánh vai với mọi loại âm nhạc khác. Trong khi đó, Jazz là một loại âm nhạc rất độc đáo, đã chinh phục được một phần lớn thế giới và tiếp tục chinh phục các nước ở bên kia bức màn sắt, nhờ có đài Tiếng Nói Hoa Kỳ. »

Và thế là những gương mặt tiêu biểu của dòng nhạc Jazz lúc bấy giờ đã được bộ Ngoại Giao Mỹ mời tham gia vào chương trình « Jazz Ambassadors ». Những vị đại sứ này đã thực hiện những chuyến lưu diễn huyền thoại trên toàn thế giới từ Châu Âu cho đến Nam Á, qua cả vùng châu Phi. Mục đích là nhằm đưa ra hình ảnh một nước Mỹ tự do, đầy hy vọng ngay giữa lòng cuộc chiến tranh lạnh đối mặt với các nước thuộc khối Hiệp ước Vacxava.

Nhưng rồi những đại sứ Jazz đó cũng nhanh chóng nhận ra rằng trong khi đang thực hiện sứ mệnh « cao cả » ở bên ngoài biên giới, ngay tại quê hương xứ sở của mình, họ và những người thân phải gánh lấy nỗi dằn vặt của một xã hội phân biệt và kỳ thị chủng tộc. Họ đã tận dụng các sự kiện này để thể hiện chính kiến theo cách có lợi cho mình. Claude Carrière không quên được câu nói nổi tiếng của Louis Armstrong :

« Ông đã thể hiện một cách rất mạnh mẽ. Và lại, ông đã nói : Tôi sẽ không đại diện cho một đất nước có những cấm đoán đối với những người cùng chủng tộc với tôi, họ tới trường thì phải hứng chịu những lời sỉ nhục của những kẻ thuộc cộng đồng khác. (…) Tôi thấy Louis Armstrong thật là tuyệt vời. Đôi khi ông không câu nệ câu chữ ngôn từ để bày tỏ suy nghĩ của mình. »

Chuyến lưu diễn bắt đầu từ tháng 3/1956, kéo dài trong vòng ba tháng. Mỗi một nơi họ đi qua từ Iran, Pakistan, Syria, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Nam Tư cũ, Anh Quốc hay Liên Xô đều để lại một dấu ấn riêng biệt.

Nhưng chuyến lưu diễn ngoại giao này cũng để lại trong tâm trí những nghệ sĩ da mầu này những nỗi đau khôn tả khi khám phá ở từng nơi họ đi qua những cảnh bần hàn tại những nước sống dưới chế độ độc tài. Và họ đã thể hiện một tình liên đới còn mạnh mẽ hơn so với những gì các sĩ quan Mỹ tại chỗ cho thấy.

Người ta còn nhớ đến câu nói nổi tiếng của Dizzie Gillespie tại Karachi, Pakistan khi biết rằng khán giả đến xem phải trả tiền vé đắt. Ông đã từ chối biểu diễn cho đến khi nào chiếc cổng nhà hát được mở rộng cho tất cả mọi người kể cả người nghèo có thể vào và nghe ông hát. Ông nói : « I came here to play for all people, not just for the elite » (Tôi đến đây để hát cho tất cả mọi người cùng nghe, chứ không chỉ cho người giàu).

Dĩ nhiên, không có gì là « toàn diện ». Cuộc lưu diễn tại Liên Xô, được cho là cuộc trình diễn quan trọng nhất đã xảy ra vài sự cố nhỏ. Tổng Bí thư đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ, ông Nikita Khrouchtchev vốn dĩ không thích nhạc Jazz nhưng cũng đến dự một buổi hòa nhạc, và đã bày tỏ thất vọng chỉ vì những bất đồng trong dàn nhạc. Ông Claude Carrière giải thích :

« Ông ta không thích nhạc Jazz nhưng cuối cùng cũng tới nghe hòa nhạc. Goodman là một người rất có học, ông có một dàn nhạc mà đa số nhạc công là người da trắng, chỉ có hai người thổi kèn trompette là người da đen và một nữ ca sĩ da đen, trước khi hát ở dàn nhạc của Duke Ellington. Ông ta là một người rất khó chịu, tới mức mà nhiều nhạc công và một người thổi trompette đã kiếm cớ để về nước sớm. Người thổi trompette bịa chuyện là mẹ vợ qua đời để rời dàn nhạc và về nước sớm nhất. Ông ta đối xử không tốt với nữ ca sĩ da đen. Lúc mới đi công diễn, ông ta để cho nữ ca sĩ này hát 3 bài, sau rút xuống hai bài và giai đoạn cuối chuyến đi công diễn, cô ta chỉ được hát có một bài. Một nửa cuốn sách của Bill Crow, người chơi contrebasse trong dàn nhạc của ông ta, kể lại chuyến đi biểu diễn đầy náo loạn này. »

Dẫu sao thì những chuyến lưu diễn đó đã để lại ấn tượng đáng nhớ trong lòng người hâm mộ. Thành công có được của các đại sứ Jazz cũng nhờ vào những chương trình phát sóng trên đài The Voice of America (Đài Tiếng nói Hoa Kỳ), một công cụ tuyên truyền nhắm vào các nước Đông Âu sau Đệ Nhị Thế Chiến. Những ai sống qua thời kỳ ấy hẳn sẽ không bao giờ quên chương trình Jazz Hour, nổi tiếng rất được nhiều người hâm mộ lắng nghe.
Theo BBC

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ở vùng viễn tây Na Uy, ánh sáng ban ngày dường như không bao giờ có thể xuyên qua lớp mây dày đặc của bầu trời mùa đông. Mỗi ngày, chỉ vài giờ để ta cảm thấy sự tuyệt vời của Solund, quần đảo vươn lên từ đáy biển như ảo ảnh với hơn 1.700 hòn đảo và vách đá hoang
Nam Mỹ là một vùng đất tập hợp những quốc gia nằm về phía Nam kênh đào Panama. Mỗi một quốc gia ở đây đều có điểm văn hóa riêng biệt của họ. Nếu Brazil có vũ điệu Samba nóng bỏng, Chile và Peru có những vũ điệu dân gian pha trộn giữa thổ dân Inca với Spain, thì Argentina nổi tiếng với điệu vũ Argentino Tango độc đáo riêng biệt của mình. Đây là một trong những nét văn hóa đặc biệt của thủ đô Buenos Aires Argentina.
Nếu bạn đã có lần viếng thăm thành phố New Orleans xinh đẹp, chắc hẳn sẽ có ai đó hướng dẫn bạn đến khu kinh doanh lâu đời của thành phố này, nơi tập trung các ngân hàng, cửa hiệu, khách sạn và sẽ chỉ cho bạn thấy một pho tượng được dựng vào năm 1884, đứng sừng sững tại quảng trường nhỏ ở đây.
Từ trước đến nay, chúng ta chỉ biết tới phong tục đàn ông năm thê bảy thiếp mà ít ai biết rằng, ở cộng đồng dân cư trên dãy Himalaya, tồn tại chế độ đa phu mà các anh em trai ruột lấy chung một vợ và chung sống dưới một mái nhà. Các anh em trai ruột lấy chung một vợ
1. Ca sĩ Madonna từng nhổ nước bọt vào mặt một bà cụ, lập tức tòa án Liên bang phán quyết cô phải bồi thường 5 triệu đô-la Mỹ (khoảng 113 tỷ VNĐ) cho bà lão. Quan tòa nói, sở dĩ mức phạt nặng như vậy không phải bởi miếng nước bọt đó đã mang đến tổn thương lớn ngần nào cho bà cụ. Lý do là với những người có tiền như Madonna nếu chỉ phạt bồi thường 50 nghìn đô-la, lần sau cô ấy chắc chắn sẽ tái phạm. Có thể cô ấy cũng sẽ gây tổn thương cho hơn 10 người khác nữa.
« Bún chả Obama», phở, bánh cuốn rồi cà phê trứng, có lẽ ẩm thực Hà Nội chưa bao giờ ngừng làm du khách hết ngạc nhiên. Riêng cà phê trứng, có lẽ chỉ Hà Nội mới nổi tiếng với đồ uống độc đáo này. Và nhắc đến cà phê trứng Hà Nội, sẽ thiếu sót nếu không nhắc đến cà phê Giảng.
(CNN) - Giống như hầu hết thế giới, trái tim của châu Phi được tìm thấy trong các thành phố của nó. Tuy nhiên, khách du lịch ở châu Phi dường như chủ yếu tìm kiếm động vật hoang dã của lục địa hơn là trung tâm thành phố văn hóa của nó. Safaris có thể rất thú vị, nhưng vấn đề, như nhà văn người Kenya Binyavanga Wainaina đã chỉ ra, là khi khách du lịch tưởng tượng toàn bộ một lục địa là một. Theo Ngân hàng Thế giới, 40% dân số châu Phi ở phía nam Sahara sống ở các thành phố, nhưng bạn sẽ không bao giờ biết nó nhìn vào poster hoặc trang web du lịch trung bình có hình con hươu cao cổ duyên dáng lướt qua những cây keo giống như chiếc ô trong hình bóng chống lại đám cháy. hoàng hôn.
Dưới chân dãy núi Himalaya là Hồ Lư Cô (hồ Lugu) thơ mộng đẹp như tranh vẽ, nơi sinh sống của tộc người Mosuo và là cổng nối vào một vùng đất bí ẩn, nơi thường được gọi là 'Vương quốc Đàn bà'. Người Mosuo hiện có khoảng 40 ngàn người, và trong hàng thế kỷ họ đã sống bên bờ Hồ Lugu nằm giữa tỉnh Tứ Xuyên và Vân Nam, nơi có những rặng núi bao quanh.
Trong mùa thứ nhất của chương trình truyền hình 'The Good Place', Chidi Anagonye, giáo sư về triết học đạo đức luân lý, lâm vào tình huống khó xử khi một đồng nghiệp hỏi ý kiến của ông về đôi ủng mới. Chidi rõ ràng là không thích đôi ủng màu đỏ sặc sỡ có nạm những viên pha lê. Nhưng để không làm cho người đồng nghiệp buồn, ông nói rằng ông thích.
Nằm gần biên giới xứ Wales trên sông Wye, Nhà thờ Hereford của Anh đã thu hút những người thờ phụng kể từ cuối Thế kỷ thứ 7. Cấu trúc ngày nay được xây dựng lại vào những năm 1100 và được coi là một trong những ví dụ điển hình nhất của Vương quốc Anh về kiến ​​trúc nhà thờ Norman.
Bảo Trợ