Khoa Học Thuần Hóa Lợn Rừng Thành Lợn Nhà?

11 Tháng Ba 201910:26 SA(Xem: 388)

Từ những con lợn rừng, các nhà khoa học tiến hành nhân giống và thuần hóa để cho ra loài lợn có thịt thơm ngon. Đến nay, các nhà khoa học đã thu thập, thuần hóa được khá nhiều giống lợn rừng thành lợn nhà.

Thông thường, lợn rừng lai là con lai giữa lợn rừng đực với lợn nái là lợn địa phương, chẳng hạn như ở một số nơi thuộc Việt Nam, lợn cái để lai với lợn rừng đực là lợn nái thả rông của người dân tộc thường nuôi giống lợn gần như hoang dã tạo ra con lai với ưu thế lai cao của cả bố và mẹ như có sức đề kháng mạnh, khả năng chịu đựng kham khổ với môi trường sống tự nhiên cao, ít dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp.

Lợn rừng là giống lợn có chất lượng thịt rất ngon và được ưa chuộng. Khoa học phát triển, giờ đây, nhiều giống lợn rừng đã được thuần hóa thành lợn nhà, hay có một số là lợn đực nguồn gốc từ rừng được lai với lợn nhà.

Một con lợn rừng lai.
Một con lợn rừng lai.

Từ năm 2001 đến nay, việc lai tạo giữa lợn rừng với các loại lợn địa phương tại Việt Nam như lợn Sóc Tây Nguyên, lợn Vân Pa, lợn ỉ, lợn Móng Cái... trở nên phổ biến. Khác biệt giữa lợn lai lợn rừng và các giống khác thay đổi tùy theo giống lợn để lai với giống lợn rừng là giống gì, tỷ lệ máu giống lợn rừng trong con lai cao hay thấp.

Ở những đàn lợn lai mà tỷ lệ gene lợn rừng cao, thì thế hệ con trông hệt như lợn rừng. Tuy nhiên, nếu mang thế hệ con đó mà phối với nhau thì đẻ ra một tỷ lệ lợn con (thế hệ cháu) có ngoại hình không phải lợn rừng, như lông sọc không đẹp, chân trắng, loang đen...

Việc nuôi lợn rừng đòi hỏi sự cầu kỳ, nhiều thời gian. Do bản tính hoang dã, lúc đầu lợn rừng rất sợ người, nhưng lại dữ tợn khi người đến gần và có thể tấn công thẳng vào người nuôi.

Ban đầu chúng chỉ ăn những thứ mà trong tự nhiên thường có như củ sắn, hạt ngô, khoai lang, chuối chín và một số loại rau củ quả khác. Dần dần sau một thời gian nuôi thuần hóa, chúng có thể sử dụng thức ăn tổng hợp khác. Tuy nhiên, đa phần chỉ ăn thức ăn có nguồn gốc tự nhiên, hoang dã.

Lúc đầu lợn rừng hoang dã cần được nuôi nhốt trong những ô chuồng nhỏ (khoảng 1m2/con) để tránh cho chúng chạy nhiều và thúc đầu vào tường hoặc lưới B40 xung quanh. Thời gian sau khi chúng đã quen với người nuôi thì có thể thả bán hoang dã ra các ô chuồng rộng hơn.

Ngoài ra, khẩu phần ăn hằng ngày ngoài chuối chín, khoai lang củ, rau lang, củ mỳ... mỗi con có thể cho thêm 100 - 300g thức ăn tổng hợp.

Hiện nay, từ nguồn lợn rừng Tây Nguyên thuần, các nhà khoa học đã nhân giống tạo đàn lợn rừng thuần chủng và thực hiện các công thức lai tạo để tạo ra các thế hệ con lai có thể chọn làm giống và nuôi thương phẩm bằng cách cho nhảy trực tiếp.

Cái tên lợn rừng lai và việc nuôi lợn rừng lai nếu có phần nào xa lạ là chỉ đối với những người sống ở vùng đồng bằng. Còn với người ở vùng rừng núi, cao nguyên như người dân tộc thiểu số thì đó là nghề có từ lâu đời của họ.

Lợn rừng lai với giống Lợn cái nội địa được dân tộc thiểu số nuôi nhiều ở miền thượng du, vùng rừng từ lâu đời nay. Giống Lợn nội địa này nhỏ con, lông đen, mõm dài như lợn rừng, và cũng có cách sống như Lợn hoang dã trong rừng.
Theo kienthuc

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Những năm gần đây, ngành chăn nuôi của tỉnh Lâm Đồng đã từng bước chuyển hướng từ sản xuất tự túc, tự cấp sang chăn nuôi hàng hóa. Nhiều gia đình đã chọn nghề chăn nuôi... Trong các vật nuôi được lựa chọn để phát triển thì con gà công nghiệp đã được các gia đình ở thành phố Đà Lạt, thị trấn Bảo Lộc và các vùng đông dân cư quan tâm. Trong 2 năm nay, đàn gà công nghiệp nuôi trong các hộ gia đình đã tăng từ 5000 con (1990) lên khoảng 20.000 con. Sở dĩ đàn gà công nghiệp phát triển mạnh là do tận dụng được lao động trong gia đình, đầu tư không lớn, nhanh có sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm dễ dàng và hiệu quả kinh tế cao.
Trước khi nuôi gà con cần phải nắm bắt được các thông tin về nguồn gốc đàn gà, uy tín của trại giống và nắm vững đặc tính năng suất của đàn gà sắp nuôi; đồng thời phải chuẩn bị chuồng trại đạt tiêu chuẩn.
Hiện nay ở nước ta chăn nuôi thỏ chưa thực sự phát triển mạnh dù giá trị kinh tế của thỏ rất lớn. Kythuatnuoitrong.edu.vn xin giới thiệu đến bà con kỹ thuật nuôi, chăm sóc thỏ. - 1. Chọn thỏ giống Nên mua thỏ giống từ những gia đình quen biết, tin tưởng họ là những người nuôi thỏ có nhiều kinh nghiệm, quản lý đàn giống tốt, chăm sóc thỏ cẩn thận.
Dê Boer là một giống dê đã được phát triển ở Nam Phi vào những năm 1900 để sản xuất thịt. Tên của chúng bắt nguồn từ Afrikaans (Hà Lan) từ “Boer”, có nghĩa là người nông dân. Với đặc điểm nổi bật là lớn rất nhanh và cho sản lượng thịt nhiều hơn các loại dê thông thường và thịt chứa nhiều chất béo.
Hiện nay loại Na Thái có quả to, năng suất cao, phù hợp với điều kiện ở Việt Nam được trồng phổ biến. Để có vụ na bội thu bà con nên tham khảo kỹ thuật trồng và chăm sóc Na Thái dưới đây. - 1. Đặc điểm cây Na Thái Na hay mãng cầu là loại cây ăn quả thân gỗ, sống lâu năm, chiều cao khoảng 4-10m. Quả na rất thơm ngon, ngọt, rất được ưa thích.
Đất nước ta là một quốc gia nông nghiệp, chính phủ đã rất đúng đắn khi quyết định nông nghiệp là nền tảng và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Lý do được đưa ra là chúng ta may mắn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có phù sa và lượng mưa hàng năm lớn tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng phát triển. Các loại cây công nghiệp như cà phê, điều, trà xanh… đang mang lại lọi ích kinh tế cao xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.
ĐẮK NÔNG, Việt Nam (NV) – Một nông dân ở Đắk Nông đã nhân giống thành công loại ớt Chaparita và bán thử nghiệm với giá hơn $2,000 đô la một kg khô, rẻ hơn chục lần so với hàng nhập cảng. Ớt Charapita được mệnh danh là gia vị “đắt nhất thế giới” ít được trồng đại trà nên càng trở nên quý hiếm. Loại nông sản này liên tục tạo “cơn sốt” ở Việt Nam khi được nhiều nhà hàng cao cấp và giới nhà giàu săn tìm. Theo báo VNExpress ngày 24 Tháng Tám, 2019, đoán trước nhu cầu, cách đây hai năm, ông Cường (ở Đắk Nông) đã nhập cảng giống ớt Charapita từ Châu Âu về trồng thành công và nhân rộng chúng lên được hơn 20,000 cây tại khu vườn nhà mình. Hiện khu vườn ớt nhà ông Cường đang cho trái đợt đầu với số lượng vài chục kg.
Thông thường trâu cái được nuôi theo phương pháp chăn thả truyền thống, mất 2 - 3 năm mới sinh được 1 lứa. Nhưng nếu chăn nuôi đúng kỹ thuật, chỉ một năm rưỡi, trâu lại sinh sản được 1 lứa, nghé con khỏe mạnh, nhanh lớn, hiệu quả kinh tế cao 1,5 - 2 lần so hình thức nuôi trâu sinh sản thông thường.
Kythuatnuoitrong.edu.vn xin giới thiệu đến bà con "Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng nái đẻ và heo con sinh sản" của Th.S Võ Văn Ninh & Th.S Bùi Thị Kim Phụng, ĐH Nông Lâm TP HCM - 1. Chăm sóc nuôi dưỡng nái sau khi đẻ và đang nuôi con Sau khi đẻ, nái thường mệt, ăn ít hoặc không ăn nhưng phải cung cấp đầy đủ nước uống. Nếu có điều kiện nên cho nái uống nước cháo tinh bột gạo, bắp, hay cám để cung năng lượng (chất bột đường) bù đắp cho cơ thể bị mất sau khi đẻ.
Cây chanh tứ quý còn được gọi với tên khác là chanh tứ thời, chanh 4 mùa, là loại cây họ bưởi có nguồn gốc từ chang Lim Ca Châu Mỹ. - Thời vụ trồng tốt nhất là vào mùa mưa để cây phát triển tốt và đỡ công tưới ban đầu - Miền Bắc trồng vào 2 vụ chính vụ xuân và vụ thu. - Miền Trung và miền Nam có thể trồng vào mùa xuân, cuối mùa khô, đầu mùa mưa.
Bảo Trợ