Alexandre Yersin – Ân Nhân Vĩ Đại Của Người Việt (2): Chuyện Ông Năm Ở Xóm Cồn

22 Tháng Giêng 20192:56 SA(Xem: 480)

Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa… Lịch sử đời đời nhớ đến ông – bác sĩ, nhà bác học Alexandre Yersin, không phải chỉ trong những trang giấy, mà còn trong cả trái tim những người ở lại.

Nếu bạn đã từng một lần được tiêm chủng, chích ngừa…hãy biết ơn người đã cứu mạng mình.

Nếu bạn đã từng được thưởng thức một ly cà phê hay ca cao nóng… hãy nhớ ơn người đã mang chúng về Việt Nam

Nếu bạn đã từng được ăn cà rốt, súp lơ, su su… hay ngắm nhìn vẻ đẹp của hoa lay-ơn, cẩm tú cầu… đừng quên người đã trồng nên chúng…

yersin - dalat

 

***

Bởi tình yêu với thành phố biển Nha Trang, bác sĩ Alexandre Yersin đã quyết định dành cả cuộc đời mình cho mảnh đất này. Ông dựng nhà từ một lô cốt 2 tầng bỏ hoang lâu ngày và mở phòng khám cho bà con ở xóm Cồn. 

Sống bình dị nơi xóm Cồn

Dù là một tỷ phú, cổ đông chính của Hongkong and Sanghai Bank (nay là ngân hàng HSBC) nhưng Alexandre Yersin luôn thích sống cùng những người dân lao động nghèo. Người dân nơi đây hàng ngày tiếp xúc với ông, họ không hề có cảm giác xa lạ như một người nước ngoài, mà thấy gần gũi như người làng. Vậy nên, họ gọi ông với cái tên thân thương là “ông Năm”.

blank
Bác sĩ Alexandre Yersin. (Ảnh: pinterest.com)

Ông Năm chẳng bao lâu đã trở thành bạn với đám trẻ con. Thỉnh thoảng, ông cho chúng kẹo và tiền lẻ để mua quà. Ông cũng thường xuyên chiếu phim cho chúng xem, dạy chúng về thiên văn, khí tượng. Có lần, chúng đánh vỡ chậu hoa, ông chẳng những không nổi giận mà còn căn dặn người giúp việc: “Đừng rầy đánh, người ta sợ”.

blank
Lầu ông năm. (Ảnh:uk.wikipedia.org)

BS Kiều Xuân Cư – người may mắn từng được tiếp xúc với ông Năm kể lại:

“Nhà Yersin sát bãi biển, có thư viện mở và tủ sách hồng dành cho trẻ em. Kỷ niệm cách đây hơn tám mươi năm, nhưng tôi vẫn nhớ giọng nói của “ông Năm” mỗi lúc gọi chúng tôi là “người bạn nhỏ thân thiết”. Ngày ấy, tôi thường cùng đám bạn khoảng 12 – 14 tuổi, đạp xe từ Thành (Diên Khánh) xuống Nha Trang tắm biển, mỗi lần vào thư viện của bác sĩ hỏi mượn sách, đều được ông phát kẹo và được nói chuyện bằng tiếng Pháp”

Thời ấy, người dân xóm Cồn có thói quen hay uống rượu say, cãi lộn, chửi bới, gây gổ, thậm chí ẩu đả. Ông Năm lặng lẽ lấy máy quay phim, ghi lại những chuyện không hay ấy. Sau đó, mời mọi người đến xem phim, hỏi họ có hay không, đẹp không? Ai cũng cảm thấy xấu hổ. Nhờ đó mà xóm Cồn gần như không còn nạn say rượu, chửi rủa hay đánh nhau.

blank
Xóm cồn và lầu ông Năm. (Ảnh: delcampe.net)

Vì Nha Trang thường có bão táp nên ông Năm làm thêm trên nóc nhà một vòng tròn để dựng kính thiên văn. Nhờ đó, ông biết được thời tiết nắng mưa để giúp ngư dân đi biển. Ông làm hai cái bồ to, có đường kính một mét, trên sơn màu đen. Khi có bão, hai cái bồ được kéo lên hai cây cột bằng phi lao trên núi Sinh Trung để báo hiệu. Thời bấy giờ, ngư dân tránh được tai họa do bão cũng đều là nhờ ông. 

Tháng 11 năm 1939, đoán biết rằng một cơn bão lớn sẽ đổ vào bờ biển Nha Trang, ông Năm vội tập trung tất cả ngư dân xóm Cồn vào trong nhà mình. Cơn bão biển dữ dội đêm ấy đã cuốn trôi nhiều nhà cửa xóm Cồn, nhưng bà con vẫn an toàn. Từ hôm ấy, ông Năm được nhiều người dân xóm Cồn tặng cho danh hiệu “người đã trị cơn sóng thần”.

Nhà nhân văn lớn nặng lòng với dân nghèo

Người dân xóm Cồn lưu truyền rất nhiều câu chuyện về ông Năm của họ. Kể rằng, một hôm đi xe đạp từ nhà đến sở, ông Năm bị một tài xế bất cẩn đụng ngã. Không nói một lời nào, ông vội vã dựng xe đạp lên, rồi đi đến viện để băng bó, không đả động gì đến lỗi sai của người tài xế.

blank
Dù là một tỷ phú, nhưng Alexandre Yersin luôn thích sống cùng những người dân lao động nghèo. Người dân nơi đây gọi ông với cái tên thân thương là “ông Năm“. (Ảnh: delcampe.net)

Lần khác, ông gặp người nông phu nằm ngủ trên chiếc xe bò dưới gốc cây bàng. Mặt trời lên cao, bóng mát đổi chiều, ông bảo những người phụ tá đẩy xe bò vào chỗ mát cho họ ngủ ngon. 

Ông Năm bỏ tiền riêng thuê kéo ống nước, đặt máy nước nhiều nơi cho dân sử dụng. Ông còn thường khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho dân nghèo. Ông tự coi mình như một người dân trong làng, một người có phần may mắn hơn người khác, vì vậy ông thấy cần có bổn phận an ủi và giúp đỡ những người kém may mắn hơn.

Mẹ hỏi con có thích ngành y không. Có và không. Con rất vui được chữa trị cho những người đến nhờ con khám, nhưng con không muốn biến y học thành một cái nghề, nghĩa là con sẽ không bao giờ có thể đòi một người bệnh trả tiền vì đã chữa bệnh cho người đó. Con coi y học là thiên chức, là mục vụ. Đòi tiền để chữa trị cho bệnh nhân thì chẳng khác nào nói với người đó rằng: tiền hay mạng sống.

(Trích Thư gửi mẹ của bác sĩ Alexandre Yersin)

blank
Alexandre Yersin trong phòng làm việc của ông tại Viện Pasteur vào năm 1900. (Ảnh: pasteur.fr)

Alexandre Yersin đến với người Việt bằng một tấm lòng nhân văn và chân thật hiếm có. Ông thông thạo tiếng Việt, sống chan hòa, vui buồn cùng bà con, như những người thân trong nhà. Có người bảo ông không có vợ và phải sống cô độc, nhưng tôi cho rằng, ông không cô độc chút nào. Ông có một trái tim đủ lớn để yêu thương và bao dung tất cả mọi người. 

Trần Phong DKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tại hội thảo chủ đề Đọc lại Truyện Kiều tổ chức tại Hà Nội mới đây, tôi có dịp gặp những nhà nghiên cứu hàng đầu, trong đó phải kể đến GS TS Trần Đình Sử để hiểu thêm về hành trình xuất chúng của Kiều- từ một nữ nhân bên lề tiến trình lịch sử Trung Quốc tới nữ chính mẫu mực tiêu biểu trong văn học Việt Nam. Kiều được người Việt nhớ tới như một biểu tượng về tài sắc hơn là cuộc đời đầy truân chuyên của nàng. Khi mới tiếp xúc với Truyện Kiều, tôi còn nhớ mình có cảm giác hơi "chạnh lòng" khi tượng đài văn chương lẫy lừng của Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc.
MUỐN CÓ NGƯỜI TÀI, TRƯỚC PHẢI DẸP BỌN TIỂU NHÂN - NGƯỜI XƯA NÓI VỀ VIỆC TIẾN CỬ, CHỌN LỰA VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI Thưa chư vị, Chúng tôi xin giới thiệu ở đây bài văn làm trong kỳ thi Đình (làm tại sân triều đình) - do nhà vua ra đề bài, chấm bài, để phân hạng các tiến sĩ. Người đỗ đầu (đủ 10 phân) là Trạng nguyên. Đề bài thường hỏi về các vấn đề lớn của đất nước và về việc trị nước. Bài thi đó gọi là Sách văn đình đối.
Tết Đoan Ngọ là một trong những ngày lễ Tết truyền thống ở Việt Nam. Tết Đoan Ngọ được tổ chức vào ngày mùng 5/5 âm lịch. Vậy năm 2018 Tết Đoan Ngọ rơi vào ngày nào? Tết Đoan Ngọ năm 2019 được tổ chức vào ngày mùng 5/5 âm lịch tức là rơi vào thứ 6 ngày 7/6 dương lịch. Tết Đoan Ngọ là cái Tết chung của một số nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, ở Việt Nam, Tết Đoan ngọ còn mang những ý nghĩa khác biệt. Hằng năm cứ đến mồng 5 tháng 5 (âm lịch) dân ta lại tổ chức ăn Tết Đoan ngọ. Tết Đoan ngọ còn gọi là Tết Đoan dương.
Hoàng đế Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở. Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trước hiểm hoạ ngoại xâm đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện – Đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam.
Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại kí tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thiện, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.
Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục Hưng - Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.
Nam Phương hoàng hậu (1914 – 1963) là vị hoàng hậu cuối cùng của lịch sử Việt Nam. Đúng như cái tên do hoàng đế Bảo Đại ban tặng, trong buổi biến thiên dữ dội của lịch sử, hoàng hậu Nam Phương – hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) – đã sống một cuộc đời lặng lẽ tỏa hương và giờ đây, mộ phần đơn sơ của bà vẫn lặng lẽ nhìn xuống thung lũng mái ngói dập dờn của một ngôi làng bình yên miền Tây Nam nước Pháp.
Sau khi bàn về tiếng Tàu, tiếng Pháp, chúng ta chuyển sang tiếng Anh và bước vào một nền văn hóa đã có những ảnh hưởng “tốt” cũng như “xấu” vào đời sống của người Việt trong khoảng 30 năm chiến tranh vừa qua. Có người gọi cuộc chiến vừa qua là “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc nhưng, theo báo chí phương Tây, đó là “cuộc chiến tranh Việt Nam”hay nói một cách khác là “cuộc đối đầu giữa hai phe”, một bên là Tự do gồm Việt Nam Cộng hòa, Mỹ và 5 nước Đồng minh (gồm Australia, New Zealand, Đại Hàn, Thái Lan và Philipin)
Năm 1884, ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam. Ngoài việc là một bác sĩ quân y, ông còn là một nhiếp ảnh gia. Ông đã chụp nhiều hình ảnh lịch sử quan trọng duy nhất còn lại về thành Hà Nội giai đoạn 1884-1885, và chúng trở thành kho tư liệu và đề tài cho các hoạ sĩ căn cứ để vẽ nên những loạt tranh minh hoạ vô cùng phong phú cho cuốn sách ‘Une campagne au Tonkin’ (Một chiến dịch ở Bắc Kì), xuất bản tại Paris, Pháp năm 1892.
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Bảo Trợ