Chúa dẫn con đi

19 Tháng Mười Một 20123:00 CH(Xem: 5085)

Nhân dịp viếng thăm California, Hoa Kỳ, tôi đã đến thăm ngôi Nhà thờ Kính, theo tên gọi bình dân của người Việt, nhưng tên chính thức là Crystal Cathedral. Nghe nói nhà thờ này vừa được Cộng đoàn Tin Lành bán cho giáo phận Orange County và đang được tu bổ cho hợp với phụng vụ công giáo, hy vọng sẽ chính thức sử dụng vào giữa năm tới. Đây là một ngôi nhà thờ mang kiến trúc hiện đại, được hoàn thành vào năm 1981 và có đủ ghế ngồi cho 2.736 người. Sau khi mua, giáo phận Orange County đã đổi tên nhà thờ thành “nhà thờ Chính tòa Chúa Kitô” (Christ Cathedral).

blankBên cạnh nhà thờ, có một khu nghĩa trang rất rộng, được trình bày như một công viên tươi mát, phủ kín cỏ và cây xanh. Khi bước vào nghĩa trang, du khách đều có thể nhìn thấy một bức tranh bằng đá màu rất đẹp. Bức tranh diễn tả hai bàn tay: một bàn tay lớn, chắc là bàn tay phải, từ trên cao đưa xuống; một bàn tay nhỏ, bụ bẫm như một bàn tay trẻ thơ, từ dưới vươn lên. Vì bàn tay trẻ thơ quá nhỏ, nên cố hết sức cũng chỉ nắm trọn được ngón cái của bàn tay lớn. Chắc hẳn bức tranh này được đặt ở lối vào nghĩa trang muốn diễn tả câu Thánh vịnh: “Chúa là Mục tử dẫn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 22,1). Bức tranh rất đơn sơ mà mang ý nghĩa tượng trưng sâu sắc, vì nó diễn tả sự quan phòng yêu thương của Chúa, luôn dắt dìu lối bước của con người. Bức tranh vừa diễn tả tình Chúa, vừa nói lên tình người: Chúa từ trời cao cúi xuống; con người từ đất thấp vươn lên. Chúa với ta gặp gỡ nhau, như Cha gặp con. Chúa rất mạnh mẽ, con người lại bé nhỏ. Cuộc hội ngộ thật thân tình, tràn ngập yêu thương. Hình ảnh ấy làm cho sự chết bớt vẻ bi quan đen tối, nhưng bừng lên niềm hy vọng ủi an. Bức tranh diễn tả hai bàn tay nói với chúng ta rằng, những người đang bước đi trong cuộc lữ hành dương gian cũng như những người đã nằm xuống, đều được Chúa dẫn đưa bằng cánh tay quyền năng và yêu thương của Ngài.

Lời Thánh vịnh rất quen thuộc trên đây thường được hát hoặc đọc trong thánh lễ cầu cho người qua đời. Lời hát hé mở con đường hy vọng đối với người nằm xuống, đồng thời sưởi ấm tâm hồn đối với người ở lại trong lúc biệt ly. Cánh tay của Chúa thật mạnh mẽ, từ cao vươn xuống để nắm lấy tay con người; cánh tay con người thật nhỏ bé, cố gắng vươn lên để được Chúa dẫn dắt. Trong cuộc đời này, có chỗ dựa nào đáng tin cậy hơn là chỗ dựa của người cha? Có tình yêu nào bao la và nồng ấm hơn tình yêu của người mẹ? Chúa vừa là Cha nâng đỡ dìu dắt ta qua những phong ba cuộc đời. Ngài cũng vừa là Mẹ, luôn che chở bao bọc ta trong tình yêu thương ấp ủ.

“Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ

Trong con hồn lặng lẽ an vui

Cậy vào Chúa, Israen ơi

Từ nay đến mãi muôn đời muôn năm” (Tv 130,1-3).

Khi xác tín Chúa là Đấng hướng dẫn đời tôi, tôi cảm thấy an bình thư thái, mặc dù luôn phải đối diện với phong ba bão táp. Tiếc rằng có những lúc trong đời, tôi không nhận ra điều đó. Phải chăng vì thế mà tôi vẫn lo lắng băn khoăn, sợ hãi trước những khó khăn thử thách trong đời?

Ý thức Chúa đang dẫn dắt tôi đi, tôi sẽ nhận ra Ngài hiện diện mọi nơi mọi lúc trong cuộc sống này. Điều đó cũng giúp tôi từng bước nên hoàn thiện. Bởi lẽ nếu Chúa ở gần tôi và dẫn dắt tôi, có lẽ nào tôi còn hận thù, mưu mô, thủ đoạn, dối trá và rắp tâm làm hại người anh em tôi? Có lẽ nào tôi còn buồn sầu chán nản và than vãn ưu phiền, vì có Chúa đang cùng tôi bước đi trong cuộc sống?

Có một câu chuyện rất quen thuộc mang tựa đề “Dấu chân trên cát”. Câu chuyện này đã minh họa cho ta thấy: vào lúc ta gặp giông tố của cuộc đời lại chính là lúc Chúa gần ta hơn cả, vì Ngài bồng ta trên cánh tay của Ngài. Cũng như con cái có những lúc ngộ nhận về cha mẹ mình trước những lời dạy khuyên của cha mẹ mà mình chưa hiểu nổi, nhiều lúc tôi đã băn khoăn, thậm chí phàn nàn kêu trách Chúa, vì dường như Ngài bỏ rơi tôi. Chúa không buồn về điều ấy, vì Ngài hiểu sự yếu đuối và lòng dạ hay thay đổi của tôi. Cũng như cha mẹ chẳng ai nỡ giận con mình mãi mãi, Chúa cũng sẵn sàng tha thứ và nâng tôi dậy. Mỗi khi sa ngã và được Chúa nâng dậy, tôi càng cảm thấy Ngài gần tôi hơn bao giờ hết. Thất vọng sẽ biến thành hy vọng. Đau khổ sẽ biến thành niềm vui. Nước mắt sẽ biến thành nụ cười. Sức mạnh chữa lành của đức tin diệu kỳ là thế.

Tôi vẫn thường cầu nguyện với Chúa: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, nhưng hình ảnh của tôi về Chúa nhiều khi lại chẳng phải là một người Cha. Thế nên, lời cầu nguyện vẫn chỉ là những công thức trên môi miệng, chứ chưa thực sự đem lại cho tôi sự an bình đích thực. “Nguyên nhân tâm hồn chúng ta chưa được hoàn toàn thanh thản là vì chúng ta đi tìm sự thanh thản ở những sự vật tự chúng không có hay chỉ có ít sự thanh thản, trong khi chúng ta lại không quan tâm đến Thiên Chúa, Đấng là Toàn Năng, Toàn Trí, Toàn Thiện, và là sự thanh thản đích thực duy nhất” (Chân phúc Julian Norwich). Vì yếu đuối và bất toàn, tôi cần cầu xin Chúa chỉ cho tôi đâu là con đường đến gặp Ngài, là con đường dẫn tới cội nguồn của Chân Thiện Mỹ:

“Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa;

xin dạy bảo con về lối bước của Ngài.

Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con,

vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con,

và con luôn luôn cậy trông vào Chúa” (Tv 24,4).

Năm Đức Tin đã khởi đầu. Đức tin giúp chúng ta nhận ra cánh tay của Chúa đang yêu thương dẫn dắt và ấp ủ chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Nhận ra Chúa, chúng ta sẽ thấy cuộc đời bớt cô quạnh.

Cánh tay Chúa to lớn và mạnh mẽ, bàn tay tôi nhỏ bé yếu hèn. Khi bàn tay tôi chạm vào bàn tay Chúa, tôi được tiếp thêm nghị lực siêu nhiên. Khi dang tay cầu nguyện là tôi cố gắng chạm tới bàn tay Chúa. Khi phó thác cậy trông là tôi muốn làm cho trái tim tôi được chạm đến trái tim Ngài, để Ngài thông chuyển cho tôi sức mạnh.

Có Chúa dẫn đưa, đời tôi sẽ tìm được bến bờ hạnh phúc. Cũng như chẳng có người cha nào lại không muốn cho con mình được sung sướng, Chúa luôn mong muốn cho tôi được hưởng niềm vui bất tận. Hình ảnh được Chúa dẫn dắt làm tôi nhớ lại cuộc sống thần tiên ở vườn Địa đàng vào thuở bình minh của lịch sử. Trước khi con người phạm tội, Chúa vẫn đi dạo với họ trong làn gió thổi của buổi chiều hôm (x. St 3,8). Ôi một khung cảnh thật an bình. Khi tay tôi nắm lấy tay Chúa, tôi tìm được niềm vui và hạnh phúc của vườn Địa đàng năm xưa.

Cùng đi với Chúa, tôi sẽ tìm được niềm vui, vì tôi không còn đơn lẻ trong cuộc đời. Trong Chúa, tôi cũng gặp gỡ anh chị em tôi, vì tôi với họ có cùng một Cha trên trời. Cùng với họ, tôi đang từng bước tiến về Nhà Chúa, để hưởng trọn niềm vui Ngài dành cho những ai yêu mến Ngài.

Cùng đi với Chúa, tôi chắc chắn an tâm vì hướng tôi đã chọn là hướng tốt cho tôi trong hiện tại và tương lai. Có thể tôi sẽ bị thiệt thòi về vật chất, về danh dự, nhưng tôi không hối tiếc, vì chính Chúa đã giúp tôi chọn “phần tốt nhất”, là phần không ai có thể chiếm đoạt được.

Khi xác tín Chúa đang đi với tôi trên đường đời, tôi sẽ thường xuyên “dốc bầu tâm sự” với Ngài qua tâm tình cầu nguyện. Những lời yêu thương của đôi tình nhân chẳng bao giờ nhàm chán. Những dòng tâm sự của lòng hiếu thảo chẳng bao giờ cạn vơi. Những giãi bày nỗi niềm của tôi với Chúa nói mãi mà chẳng hết, vì “Tâm hồn con khắc khoải khôn nguôi, cho đến khi nào được nghỉ yên trong Chúa” (Thánh Agustinnô).

Vâng, mỗi ngày khởi sự đối với tôi là một chặng đường mới có Chúa đi cùng. Tin vào sự dẫn dắt của Chúa sẽ đem lại cho tôi niềm vui, an bình và hạnh phúc.

Hải Phòng, những ngày cuối tháng 11-2012

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Chúa Nhật 24 tháng Giêng, Giáo Hội cử hành Chúa Nhật thứ Ba mùa Quanh Năm với chủ đề “Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Tin Mừng theo Thánh Máccô thuật lại cho chúng ta biết hoàn cảnh Chúa kêu gọi các tông đồ đầu tiên như sau: Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Đang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ba Vua là ba khuôn mặt không thể thiếu vắng trong mùa Giáng Sinh. Nhắc đến Giáng Sinh là nhắc đến mục đồng thôn Bêlem và Ba Vua. Nhưng người Kitô hữu nói chung rất mù mờ về thân thế của Ba Vua. Nếu đặt câu hỏi, “Ba Vua tên gì?” nhiều tín hữu sẽ lúng túng và ngập ngừng trước câu hỏi vừa được nêu. I. Ba Vua Trong văn bản tiếng “phổ thông Hy Lạp,” theo như thánh sử Mátthêu, khi “Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, xứ Giuđê, trong đời vua Hêrôđê, mágòi (μάγoi) từ phương Đông tìm đến Giêrusalem. Các ông hỏi, — Vua người Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao của Người ở phương Đông, và chúng tôi đến để triều bái Người” (Mátthêu 2:1). Trong tiếng cổ Hy Lạp mágòi (μάγoi) không có nghĩa là vua. Mágòi là danh từ số nhiều của mágọs (μάγos), một danh từ giống đực. Mágói, theo như Raymond Brown, là một thuật ngữ bao gồm nhiều nghĩa: chiêm tinh gia, giải mộng gia, phù thủy (pháp sư), và thầy tư tế của tôn giáo vùng Trung Đông.
Thiên Chúa đã phái các thiên thần đến báo cho những người chăn cừu biết một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra: “Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: “Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, tức là niềm vui cho toàn dân: là hôm nay, đã sinh ra cho các ngươi vì Cứu Chúa, tức là Đức Kitô Chúa, trong thành của Đavit” (Lc 2,9-11). Hôm nay Ngài báo tin cho chúng ta Giáng sinh đã được một thế giới vô thần tục hóa đến nỗi ngày càng nhiều người cùng thời với chúng ta đã quên đi nguồn gốc của nó. Chắc chắn, khung cảnh Chúa giáng sinh cho họ một ý tưởng chung, nhưng họ không biết rằng trẻ nhỏ nằm trong máng cỏ đơn sơ này đã đến để mang lại cho họ tình yêu và niềm vui mà họ tìm kiếm trong vô vọng.
Lễ Giáng Sinh luôn rất lạ. Lạ đủ thứ. Lạ từ nội tại tới ngoại tại. Giáng Sinh tại Việt Nam chỉ se lạnh một chút, chẳng thấm gì so với cái lạnh của Hài Nhi Giêsu năm xưa, nhưng cũng là lời nhắc để chúng ta nhớ tới cái lạnh của những phận người cơ nhỡ, những kẻ cô đơn, nghèo khó, thiếu thốn những thứ cơ bản nhất,… Việt ngữ thật chí lý khi nói là giá lạnh hoặc lạnh giá, cái “giá” này mới “đáng giá,” chứ cái “lạnh” chưa thấm thía chi đâu. Điều đáng quan tâm là cái lạnh ngoại tại gợi nhớ tới cái lạnh tâm hồn, cái lạnh linh hồn, cái lạnh tâm linh. Cái lạnh này khủng khiếp, cái lạnh giá băng. Có nhiều kiểu lạnh.
Chuyện kể rằng: Có một người đàn bà giàu có đang hấp hối trên giường bệnh. Trong tờ chúc thư để lại, bà kể tên của tất cả mọi người thân thuộc và xa gần sẽ hưởng gia tài của bà. Tuyệt nhiên, bà không hề đá động đến cô gái nghèo và trung thành hầu hạ bà từng giây từng phút. Quà tặng duy nhất mà bà tặng cho cô đó là một thánh giá được bọc thạch cao. Cô gái nhận lấy món quà nhưng lòng cô đầy cay đắng buồn phiền. Cô tự nghĩ: mình đã trung thành phục vụ, hầu hạ sớm hôm để rồi chỉ được món quà không ra gì. Không còn đủ bình tĩnh để nuốt lấy từng giọt cay đắng, cô đã kéo thập giá xuống khỏi tường và ném tung trên nền nhà. Cây thập giá vỡ tung và kìa, trước sự ngạc nhiên của cô, tất cả những mảnh vụn thoát ra khỏi lớp vỏ thạch cao đều là những viên kim cương óng ánh...
“Thì giờ hay đời sống là món quà quý Đức Chúa Trời ban cho mỗi người chúng ta. Đời sống quý vì nó đến từ chính Chúa là Đấng Tạo Hóa.” Đời sống thật mong manh và ngắn ngủi. Con người sống đó rồi chết đó cũng mấy hồi. Bởi vậy, con người quy về Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc. Tiền bạc quan trọng nhưng không là tất cả. Quyền lực, thú vui rồi cũng chỉ là cát bụi mà thôi. Vì thế, một nhạc sĩ đã từng cảm nhận: “Làm con người trong cuộc đời được bấy nhiêu năm. Ai vốn giàu sang, ai vốn kiếp bần hàn, ai giãi dầu một nắng hai sương, mai lìa đời nhắm mắt xuôi tay. Đua đòi nhiều chỉ khổ thêm thôi”. /post 19 Tháng Tám 2012(Xem: 7000) Tâm Thương - TgpSaigonnet/
Nếu vào một ngày nào đó tôi không còn sống nơi trần gian này nữa, thì những đứa trẻ vẫn lần lượt lớn lên, người thân người thương của tôi họ vẫn ăn, vẫn uống và làm việc theo lẽ sinh tồn, những ngôi nhà, con đường tôi quen thuộc bỗng chốc trở nên xa lạ, mặt trời vẫn giải nắng trên đồng cỏ xanh và cơn mưa vẫn tưới mát trên những thửa ruộng khô cằn… Không gian yên tĩnh ngày nào chẳng còn, khi người viếng, kẻ thăm, người khóc, kẻ cười,… tạo nên khung cảnh bi đát, chua xót và đau thương. Thân xác tôi vẫn nằm đó chẳng cử động hay nhúc nhích, chẳng thở than hay kêu gào mặc cho lũ ruồi muỗi đậu bay. Người ta thức cố thức tôi dậy sau giấc ngủ dài nhưng kết quả nhận được là sự thinh lặng chẳng một lời hồi âm phát ra. Tôi biết và tôi cố gồng mình ngồi dậy để an ủi những người thân đang ngồi than khóc, nhưng bàng hoàng chợt nhận ra tôi đã chết rồi!
Khi những chồi non đua nhau chởm nở, đó là lúc báo hiệu về một mùa xuân đang kéo đến. Khi những áng mây đen kéo về phía cuối trời, cũng là khi báo hiệu cơn mưa. Và khi những biến cố xảy ra trong đời là khi báo hiệu cho ta về dấu chỉ của lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa muôn đời là tình yêu. Ngài cảm thấu nỗi đau, nỗi mất mát của phận người. Những cảnh tượng xảy ra trong thời đại hôm nay mà ta chứng kiến, như thiên tai, đại dịch Covid 19, như một màu tím đang bao trùm toàn nhân loại. Trước những cảnh tượng đó, có ý kiến cho rằng đó là một cuộc đại thanh tẩy của Đấng Tạo Hóa, cũng có người cho rằng, nếu Thiên Chúa là Đấng toàn năng và tình yêu, tại sao Ngài lại để những thảm họa khủng khiếp ấy xảy ra? Phải chăng đó là một dấu chỉ mà Thiên Chúa gửi đến để cảnh tỉnh nhân loại này?
Diễn đàn Quốc tế vì Sự Sống đã phát động sáng kiến có tên “Một cây nến cho trẻ em không được chào đời” nhắm cổ võ một loạt các Thánh lễ, từ ngày 25/10 đến 2/11, với những ý chỉ đặc biệt, cầu nguyện cho các trẻ em không được chào đời. - Sáng kiến được nhiều thành phố ở Slovakia tham gia. Mục đích của sáng kiến là “hy vọng rằng người dân mở lòng và hộ trợ tài chính cho tất cả các phụ nữ chờ sinh con và cho các tổ chức giúp đỡ họ.” Sáng kiến cũng “cầu nguyện cho những cặp vợ chồng có ý định thực hành thụ tinh nhân tạo và cho những người trẻ để họ bảo vệ sự sống từ khi thụ thai đến khi chết tự nhiên.”
GNsP (04.03.2018) – Ngay từ khi tạo dựng nên con người, Thiên Chúa đã ban thiên chức là mẹ cho người phụ nữ, niềm yêu mến sâu xa dành cho người mẹ định cư trong đáy thâm sâu của trái tim con người khiến tất cả mọi hoạt động của loài người cách này cách khác đều bày tỏ lòng yêu mến và trân trọng dành cho người mẹ. Thánh Phanxico Assi đã cất cao lời ca tụng “Mẹ trái đất”, người Việt Nam gọi ba chữ “Mẹ tổ quốc” với tất cả lòng trìu mến yêu thương, Dòng Chúa Cứu Thế gọi “Mẹ nhà dòng” trong một bài thánh ca truyền thống.
Bảo Trợ