Lê Thái Tổ Lê Lợi ‘Thà Người Phụ Ta, Ta Chớ Phụ Người’

07 Tháng Mười Hai 20183:18 CH(Xem: 1007)
Những Bức Thư Để Đời (kỳ 5): Lê Thái Tổ Lê Lợi ‘thà Người Phụ Ta, Ta Chớ Phụ Người’

Chuyên mục Văn Hoá – Thời báo Đại Kỷ Nguyên xin trân trọng giới thiệu loạt bài: “Những bức thư để đời”. Trong loạt bài này, chúng tôi sưu tầm và giới thiệu những bức thư nổi tiếng của các danh nhân tự cổ chí kim, hoặc từ trong các tác phẩm văn học nghệ thuật đặc sắc. Ấy là những lời tâm huyết nhất của những người trong cuộc gửi trao cho nhau biết bao nỗi niềm tâm sự và tư tưởng tình cảm tốt đẹp, nhân văn, cao thượng; qua đó cung cấp cho ta sự tham khảo tốt để xử lý những tình huống trong cuộc sống; hay đơn giản là mang đến một góc nhìn mới mẻ về con người và sự kiện.

Kỳ 5: Lê Thái Tổ Lê Lợi “thà người phụ ta, ta chớ phụ người!”
Những bức thư để đời (Kỳ 5): Lê Thái Tổ Lê Lợi “thà người phụ ta, ta chớ phụ người!”

Năm Nhâm Dần (1422) ngày 24 tháng Chạp, giặc Minh lại cùng Ai Lao hẹn nhau, bên trước mặt, bên sau lưng, chẹt đánh nghĩa quân Lam Sơn ở trại Da Quan. Lê Lợi bảo các tướng sĩ rằng: “Giặc tới vây ta bốn mặt, muốn chạy thì chạy đi đâu! Đây tức là nơi mà binh pháp gọi là ‘đất chết’. Đánh mau thì còn! Không đánh mau thì mất!” Nói rồi sa nước mắt.

Năm 1406, nhà Minh lấy danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ” đem quân tràn vào nước ta. Chính lệnh ngặt nghèo, hình phạt tàn ác của giặc Minh khiến người Việt vô cùng căm giận:

“Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.

Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,

Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.

Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán;

Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.

Nặng nề những núi phu phen,

Tan tác cả nghề canh cửi.

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”.

(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

blank
Dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, quân Lam Sơn sau 10 năm chiến đấu gian khổ đã đánh bại quân Minh. (Ảnh theo vn360.net )

Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh khi thế giặc còn đương mạnh. Nhà vua dấy binh từ núi rừng Lam Sơn, trải qua hơn 10 năm trời “đau lòng nhức óc”, “nếm mật nằm gai” [1] với bao lần rơi vào hung hiểm. Khi thì bị giặc đánh úp, bắt mất vợ con cùng quyến thuộc; lúc thì tuyệt đường lương thực, phải đẵn măng tre, hái rau rừng mà ăn… Có phen Lê Lợi bị giặc vây khốn, Lê Lai liều mình cứu chúa, xông vào trại giặc xưng “Ta đây là chúa Lam Sơn!” để rồi bị giặc tra tấn, giết hại dã man.

Lê Lợi vốn thuộc dòng dõi nhiều đời làm quân trưởng Thanh Hoá: cụ nội là Lê Hối, “tính trời chất phác, ngay thẳng, giữ mình như kẻ ngu”, tự mình khai khẩn đất Lam Sơn, siêng năng cày cấy, gây nên sản nghiệp; ông nội là Lê Đinh, “hiền hoà để trị dân, khoan nhân mà thương người”; cha là Lê Khoáng, tính tình “hoà nhã, hiền lành, vui vẻ, thích làm việc thiện”, “mọi người không ai là không cảm Ngài về ơn đức mà phục Ngài về nghĩa khí”. “Nhà vua kế nghiệp cha, anh, không dám để sa sút; suy nghĩ sâu sắc, sao cho nối chí, noi việc, trọn được đạo thường”. Tướng nhà Minh biết tiếng Lê Lợi, trao cho chức quan để dụ theo, nhưng ông không chịu khuất phục.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn quả thực là một kỳ tích. Luận bàn về nguyên nhân thắng lợi, có người cho rằng vì Lê Lợi “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy trí nhân mà thay cường bạo” nên được lòng dân; lại cũng có ý kiến ngợi khen “Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh/ Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều” [2]. Hẳn đều có lý.

Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả.

Đại Kỷ Nguyên xin kính gửi tới quý độc giả những lời gan ruột của đức Thái Tổ nhà Lê đúc kết nguyên nhân sâu xa của chiến thắng, trích từ cuốn Lam Sơn thực lục. Tuy rằng nó không hẳn là một bức thư, nhưng nó đã được ghi lại như một bức thư gửi cho nghìn năm hậu thế.

Lời tổng kết nguyên nhân thắng lợi của vua Lê Thái Tổ

Trong khi muôn việc có rỗi, nhà vua thường cùng các quan bàn luận về duyên cớ thịnh suy, được, mất từ xưa đến nay. Cùng là giặc Ngô sở dĩ thua, nhà vua sở dĩ thắng là vì cớ làm sao?

Các quan đều nói rằng:

– Người Ngô hình phạt tàn ác, chính lệnh ngỗ ngược, mất hết cả lòng dân. Nhà vua làm trái lại đạo của chúng, lấy nhân mà thay bạo, lấy trị mà thay loạn, vì thế cho nên thành công được mau chóng là thế!

Nhà vua phán rằng:

– Lời các thầy nói, tuy là đúng lẽ, nhưng cũng còn có điều chưa biết. Trẫm trước gặp lúc loạn ly, nương mình ở Lam Sơn, vốn cũng mong giữ toàn được tính mệnh mà thôi! Ban đầu cũng không có lòng muốn lấy thiên hạ. Đến khi quân giặc càng ngày càng tàn ác, dân không sao sống nổi! Bao nhiêu người trí thức, đều bị chúng hãm hại. Trẫm đã chịu khánh kiệt cả gia tài để thờ phụng chúng! Vậy mà chúng vẫn đem lòng muốn hại Trẫm, không chịu buông tha! Việc khởi nghĩa, thực cũng là bất đắc dĩ mà Trẫm phải làm!

Trong lúc ấy, Trẫm thân trọ quê người, vợ, con, thân thích, đều tán lạc hết! Cơm không đủ hai bữa! Áo không phân đông, hè! Lần gặp nạn ở núi Chí Linh, quân thua, lương hết! Trời kia bắt lòng ta phải khổ, trí ta phải mệt, đến thế là cùng!… Trẫm thường dụ bảo các tướng sĩ rằng: “Hoạn-nạn mới gây nổi nước! Lo phiền mới đúc nên tài! Cái khốn khổ ngày nay là trời thử ta đó mà thôi! Các thầy nên giữ vững lòng xưa, cẩn thận, chớ vì thế mà chán nản”. Vậy mà tướng sĩ cũng dần dần lẩn trốn! Theo Trẫm trong cơn hoạn nạn, mười người không được lấy một, hai! Còn bỏ Trẫm mà đi, thì đại loại là phường ấy cả!

Kể như lúc ấy, nào ngờ lại có ngày nay! May mà Trời chán đứa giặc! Phàm lúc giặc làm cho Trẫm cùng, trí Trẫm lại càng thêm rộng! Phàm cách giặc làm cho Trẫm khổ, lòng Trẫm lại càng thêm bền. Trước kia quân lính đói thiếu, giờ lại nhờ lương của giặc mà số trừ súc của ta càng sẵn! Trước kia quân lính lẩn trốn, giờ lại mượn binh của giặc, mà trở giáo để chúng đánh nhau! Giặc có bao nhiêu mác, mộc, cung, tên, ấy là giúp cho ta dùng làm chiến cụ! Giặc có bao nhiêu bạc, vàng, của báu, ấy là cung cho ta lấy làm quân lương! Cái mà chúng muốn dùng để hại ta, lại trở lại làm hại chúng! Cái mà chúng muốn dùng để đánh ta, lại trở lại để đánh chúng!

Chẳng những thế mà thôi: Kìa như nước Ai Lao, với Trẫm là nước láng giềng, trước vẫn cùng nhau giao hảo. Khi Trẫm bị giặc vây khốn, đem quân sang nương nhờ. Nghĩ rằng môi hở, răng lạnh, thế nào chúng cũng chứa ta! Nào ngờ quân dạ thú, lòng lang, thấy ta bị tai vạ, thì lấy làm vui sướng! Rồi thông tin với giặc, ngầm chứa mưu gian, muốn để bắt vợ con của quân ta! Vậy mà ta tìm cách để đối phó với chúng, thật là thong thả có thừa! Nó vốn trông vào quân giặc để đánh úp ta! Ta cũng nhân vào thế nó, để đánh lui giặc! Nó vốn lấy khách đãi ta! Ta cũng lấy khách mà xử nó! Phàm ý nó muốn làm gì, ta tất biết trước! Vẻ nó muốn động đâu, ta tất chẹn trước! Cho nên có thể lấy đất đai của nó, làm nơi chứa quân cho ta; lấy hiểm trở của nó, làm nơi lừa giặc của ta! Binh pháp dạy: “Lấy khách làm chủ, lấy chủ làm khách”, có lẽ là như thế chăng?

Thế nhưng Trẫm đối đãi với ai cũng hết lòng thành thực. Thà người phụ ta, ta chớ phụ người! Phàm kẻ bất bình vì một việc nhỏ, mà đem lòng kia khác, Trẫm thường tha thứ, dong cho có lối đổi lỗi. Tuy nhiều khi chúng trở mặt làm thù ngay, nhưng Trẫm thường tin dùng như gan dạ! Biết đổi lỗi thì thôi, không bới lông tìm vết làm gì! Ấy cũng là bởi Trẫm trải nhiều lo nghĩ, nếm đủ gian nan, cho nên biết nén lòng nhịn tức, không lấy việc nhỏ mà hại nghĩa lớn, không lấy ý gần mà nhãng mưu xa. Trong khoảng vua, tôi, lấy nghĩa cả mà xử với nhau, thân như ruột thịt, có gì mà phải ngờ vực. Thế cho nên có thể được lòng người, mà ai ai cũng vui lòng tin theo.

Tuy vậy, trong khi hoạn nạn, mười chết, một sống, kẻ lâm vào nguy hiểm là thường! Ngày nay may được thành công, là do Hoàng Thiên giúp đỡ, mà Tổ Tiên Trẫm chứa nhân tích đức đã lâu, cũng ngấm ngầm phù hộ, cho nên mới được thế.

Đời sau kẻ làm con cháu Trẫm, hưởng cái giàu sang ấy, thì phải nghĩ đến Tổ, Tông Trẫm tích lũy nhân đức đã bao nhiêu là ngày, tháng; cùng công phu Trẫm khai sáng cơ nghiệp bao nhiêu là khó khăn! Mặc những gấm vóc rực rỡ, thì phải nghĩ đến Trẫm ngày xưa áo, quần lam lũ, không kể đông, hè! Hưởng những cỗ bàn ngon lành, thì phải nghĩ đến Trẫm ngày xưa hàng tháng thiếu lương, chịu đói nhịn khát! Thấy đền đài lộng lẫy, thì phải nghĩ đến Trẫm ngày xưa ăn mưa, nằm cát, trốn lủi núi rừng! Thấy cung tần đông, đẹp, thì phải nghĩ đến Trẫm ngày xưa thất thểu quê người, vợ con tan tác!

Nên nhớ rằng Mệnh Trời nào chắc được không thường, tất phải suy tính nỗi khó khi mưu toan việc dễ. Nghiệp lớn khó gây mà dễ hỏng, tất phải cẩn thận lúc đầu mà lo tính về sau. Phải đề phòng đầu mối họa loạn, có khi vì yên ổn mà gây nên. Phải đón ngăn ý nghĩ kiêu sa, có khi vì sung sướng mà sinh sự! Có như thế thì họa là mới giữ gìn được. Nên Trẫm nghĩ làm ra bộ sách này, thực là rất trông mong cho con cháu đời sau!

Thanh Ngọc DKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Hoàng đế Quang Trung mất sớm năm 39 tuổi trong bao niềm tiếc nuối khi giấc mộng đưa Đại Việt trở thành cường quốc hàng hải đành dang dở. Hơn 47 năm sau, nước Nam thời Nguyễn trước hiểm hoạ ngoại xâm đã xuất hiện một vị hào kiệt vô cùng giống với Quang Trung Hoàng đế về tài năng thống lĩnh và tầm nhìn đối với hải quân. Vị hào kiệt đó chính là Bùi Viện – Đô đốc hàng hải thương mại của tuần dương quân hiện đại duy nhất thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam.
Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại kí tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thiện, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.
Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục Hưng - Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.
Nam Phương hoàng hậu (1914 – 1963) là vị hoàng hậu cuối cùng của lịch sử Việt Nam. Đúng như cái tên do hoàng đế Bảo Đại ban tặng, trong buổi biến thiên dữ dội của lịch sử, hoàng hậu Nam Phương – hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) – đã sống một cuộc đời lặng lẽ tỏa hương và giờ đây, mộ phần đơn sơ của bà vẫn lặng lẽ nhìn xuống thung lũng mái ngói dập dờn của một ngôi làng bình yên miền Tây Nam nước Pháp.
Sau khi bàn về tiếng Tàu, tiếng Pháp, chúng ta chuyển sang tiếng Anh và bước vào một nền văn hóa đã có những ảnh hưởng “tốt” cũng như “xấu” vào đời sống của người Việt trong khoảng 30 năm chiến tranh vừa qua. Có người gọi cuộc chiến vừa qua là “nội chiến” giữa hai miền Nam-Bắc nhưng, theo báo chí phương Tây, đó là “cuộc chiến tranh Việt Nam”hay nói một cách khác là “cuộc đối đầu giữa hai phe”, một bên là Tự do gồm Việt Nam Cộng hòa, Mỹ và 5 nước Đồng minh (gồm Australia, New Zealand, Đại Hàn, Thái Lan và Philipin)
Năm 1884, ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam. Ngoài việc là một bác sĩ quân y, ông còn là một nhiếp ảnh gia. Ông đã chụp nhiều hình ảnh lịch sử quan trọng duy nhất còn lại về thành Hà Nội giai đoạn 1884-1885, và chúng trở thành kho tư liệu và đề tài cho các hoạ sĩ căn cứ để vẽ nên những loạt tranh minh hoạ vô cùng phong phú cho cuốn sách ‘Une campagne au Tonkin’ (Một chiến dịch ở Bắc Kì), xuất bản tại Paris, Pháp năm 1892.
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như: Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
Thời nhà Nguyễn vào thế kỷ 19, lãnh thổ Việt Nam hết sức rộng lớn. Đỉnh điểm vào thời vua Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với diện tích ngày nay. Vậy lãnh thổ Việt Nam thời nhà Nguyễn gồm những vùng đất nào mà có thể rộng lớn đến vậy?
LAIA SAN JOSÉ - Tác giả, giảng viên sử học tại đại học tư lập Madrid (Tây Ban Nha), đã mô tả vắn tắt lịch sử của phong trào nữ quyền (PTNQ: feminismo) dưới những hình dạng khác nhau, đặc biệt trong vòng ba thế kỷ gần đây tại Âu châu và Mỹ châu. Nguồn: https://historiadospuntocero.com/historia-las-mujeres-i-repaso-la-historia-del-feminismo (Trích Thời sự Thần học, số 79 (tháng 2/2018), tr. 121-137.) 1. Khái niệm : phong trào nữ quyền là gì? 2. Những giai đoạn của PTNQ 2.1 PTNQ tiền cận đại 2.2 Đợt một: PTNQ của chủ nghĩa Ánh sáng (từ cách mạng Pháp đến giữa thế kỷ XIX) 2.3 Đợt hai: PTNQ đòi phổ thông đầu phiếu (từ giữa thế kỷ XIX đến khi kết thúc thế chiến thứ hai) 2.3.1 PTNQ theo chủ nghĩa tự do 2.3.2 PTNQ theo chủ nghĩa xã hội 2.3.3 PTNQ vô chính phủ 2.4 Đợt ba: PTNQ đương đại (từ những cuộc cách mạng thập niên 60 đến nay) 2.4.1 PTNQ tự do 2.4.2 P
Bảo Trợ