Ethiopia, Nơi Con Người Lần Đầu Biết Đến Cà Phê

10 Tháng Ba 20192:28 SA(Xem: 1501)

Ethiopia, nơi con người lần đầu biết đến cà phê

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

Từ túp lều hẻo lánh tới quán sành điệu nơi đô thị, nghi lễ uống cà phê là tâm điểm trong đời sống xã hội ở nơi món đồ uống thần kỳ này ra đời.

Ở vùng đất này, con người vẫn duy trì nghi thức pha, uống cà phê cổ xưa nhất, với hơn 5.000 loại cà phê từ những khu rừng nguyên sinh.

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

Linh hồn của xã hội Ethiopia

"Hãy mời họ dùng cà phê bằng cốc tre," bà Annaz Haile, người chủ gia đình nói trong lúc tôi và người bạn đồng hành Thomas ngồi giữa những vị khách trong nghi thức uống cà phê mà bà tổ chức bên ngoài nhà.

 

Chúng tôi đang ở vùng nông thôn Bonga, trên cao nguyên miền nam vùng Kafa của Ethiopia. Lúc đó là vào giữa buổi sáng, những tia nắng mặt trời nóng bỏng xuyên qua đám mây.

Các vị khách trò chuyện bằng thứ ngôn ngữ bản địa, tiếng Kafi Noonoo, trong khi bà Annaz và con gái tên Asayech - bị mẹ giám sát kỹ càng - pha cà phê.

Chồng bà, ông Gebremariam, bẻ ổ bánh mì nhà tự làm to tướng thành từng miếng nhỏ và hướng dẫn bọn trẻ trong gia đình chia bánh cho khách.

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

Thưởng thức hương thơm

Để pha cà phê, những phụ nữ này phải đổ hạt cà phê tươi vào đĩa gốm và phơi nắng cho khô đi, sau đó đem rửa rồi rang hạt trong chảo kim loại đáy bằng trên đống lửa.

 

Khách được giục hãy hít ngửi để thưởng thức hương thơm tỏa ra từ hạt cà phê trên chảo rang. Rồi cà phê được cho vào cối, dùng chày giã nhỏ, và bột cà phê được đổ vào bình jebena, một loại bình pha cà phê Ethiopia truyền thống.

Bên cạnh việc thưởng thức hương thơm của hạt cà phê tỏa ra từ chảo rang, trong rất nhiều nghi thức uống cà phê Ethiopia, khách được cũng được mời thưởng thức mùi trầm hương châu Phi.

Trong những nghi thức tổ chức trong thành phố và thị trấn, rời xa thiên nhiên, người ta trải cỏ và rơm xuống sàn nhà để nhắc lại ký ức thời sống trong làng của nhiều người.

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

"Chúng tôi bắt đầu học pha cà phê khi chừng bảy tuổi. Mẹ chúng tôi cầm tay chỉ việc, hướng dẫn rang, giã và rửa hạt cà phê," bà Annaz nói.

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

Cà phê mở đầu câu chuyện

Dù nghi thức này tốn thời gian và công sức, nhưng bà Annaz đã quen tổ chức buổi uống cà phê ba lần mỗi ngày. "Chúng tôi học từ tổ tiên rằng trước tiên phải mời khách uống cà phê. Đó là biểu hiện của lòng tôn trọng," bà giải thích.

"Đó không phải là việc nhà, đó là văn hóa của chúng tôi," bà Annaz tự hào kể, và nhấn mạnh sự quan trọng của truyền thống xã hội trong đời sống cộng đồng của người Ethiopia.

"Khách khứa tới nhà tôi cảm thấy vui vẻ vì hương thơm tỏa ra từ khói cà phê, và vì họ đến đây để trò chuyện với nhau."

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

"Tám" chuyện xóm làng

Trong buổi uống cà phê, chủ khách trò chuyện về những thứ xảy ra trong ngày. "Nếu như trang trại nhà ai cần giúp đỡ gì vào ngày hôm sau, thì tại buổi uống cà phê, hàng xóm sẽ hỏi họ có thể giúp gì không," bà Annaz giải thích.

Con gái bà Asayech cười lớn, nhắc với mẹ rằng,"không phải người ta chỉ nói toàn điều hay trong buổi uống cà phê đâu". Cả hai sau đó giải thích rằng mọi người cũng thường bàn tán những chuyện phiếm, 'buôn chuyện' tưng bừng. Chẳng hạn như chuyện cô nào đang cặp với anh nào, và ai lỡ có thai.

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

'Cà phê là quê hương'

Nghi thức uống cà phê kể trên có thể thấy trên bất cứ con đường nào ở Ethiopia. Nhưng ở vùng Kafa, quê nhà bà Annaz, thì còn nổi bật hơn. Cả nhà bà đều là nông dân trồng cà phê, và Kafa (ngay cái tên cũng nói lên điều này) là nơi khởi thủy, là quê hương tâm linh của thứ cà phê Arabica hoang dã.

"Cà phê gắn liền với chúng tôi. Vùng đất của chúng tôi được biết đến vì cà phê. Chúng tôi trồng cà phê, hái quả, bán hạt cà phê và kiếm tiền từ nó," bà Annaz nói.

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

Chàng Kaldi khiêu vũ với bầy dê

Theo truyền thuyết, một chàng trai trẻ chăn dê trẻ tên là Kaldi khi đang dẫn bầy gia súc của mình đi qua cánh rừng dày đặc ở Kafa thì để ý thấy những con dê trở nên đầy hưng phấn - gần như nhảy múa. Chàng để ý thấy chúng ăn những quả chín đỏ trên cây. Chàng cũng nếm thử, rồi sau đó cùng khiêu vũ với bầy dê.

Rất phấn khích, Kaldi mang quả cà phê đến tu viện gần nhà nơi người chú của chàng đang tu hành. "Các tu sỹ ném những quả chín vào đống lửa vì nỗi sợ tâm linh," Mestfin Kekle, một người dân sống ở Kafa kể lại câu chuyện được nghe từ thời ông nội kể.

Nhưng khi các vị tu sỹ hít phải hương thơm của cà phê rang, tất cả họ đều có cảm giác như Kaldi. Họ đổi ý, và nghĩ rằng sự tích cực trong loại năng lượng mới tìm ra sẽ có thể truyền qua thực hành tôn giáo.

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

"Sau khi họ ngửi hạt cà phê trong lửa, mẹ Kaldi lấy hạt ra và bỏ chúng vào nước cho nguội. Cách này tạo ra hương thơm mới và họ bắt đầu nếm hạt. Đó là khởi nguồn hành trình uống cà phê và nghi thức thưởng thức cà phê của chúng tôi," Mesfin nói.

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

Nơi con người lần đầu biết đến cà phê

Ngày nay, Mesfin làm việc cho Khu dự trữ Sinh quyển Cà phê Kafa để bảo tồn những cánh rừng cà phê bản địa của Ethiopia, nơi cây cà phê mọc tự nhiên.

"Rừng là nhà tôi, là cuộc sống và là mọi thứ của tôi," ông nói và mời chúng tôi vào cánh rừng rậm xanh biếc, đầy rêu phủ, nơi ông đã dành cả đời để bảo tồn.

"Rừng cà phê của chúng tôi là món quà cho cả thế giới. Ngày này, cả thế giới thưởng thức và yêu thích cà phê," ông mỉm cười, và nói thêm rằng trong ngày bận rộn ông có thể uống đến 14 ly cà phê.

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

'Vườn địa đàng' của cà phê

Ở độ cao này, nơi đây là "Vườn địa đàng" của người trồng cà phê.

Quả chín từ cây cà phê dại rơi trên mặt đất, nảy mầm và lớn lên, tất cả theo nhịp điệu của riêng chúng - một hiện tượng cực kỳ hiếm.

Có hơn 5.000 loại cà phê khác nhau được tìm thấy trong rừng nhiệt đới Kafa. Nhưng giống như hầu hết những cánh rừng bản địa khác, rừng Mankira đang trên bờ vực tuyệt chủng. Theo Unesco, 40 năm trước rừng phủ khắp 40% diện tích bề mặt của Ethiopia, ngày nay diện tích rừng chỉ còn 3%.

"Cà phê là định mệnh của tôi," Mesfin nói. "Nhiệm vụ của tôi là bảo vệ rừng cà phê."

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhAFP

Cà phê cha, cà phê mẹ

Dưới tán cây cao vút, chúng tôi gặp một cụ già, người địa phương, có tên là Woldegiorgis Shawo.

"Cây này là cha của các cây cà phê, tỏa bóng mát cho các cây khác," ông giải thích cho chúng tôi, và nói thêm chính ông cũng tận dụng bóng mát từ cánh rừng cho chính mình và bầy gia súc. "Tôi thừa kế quyền chăm sóc và thu hoạch cây cà phê trong rừng từ tổ tiên mình."

"Nếu cây lớn nhất là cây cha, thì đâu là cây mẹ?" Tôi tự hỏi. Mesfin tự hào dẫn chúng tôi đến nơi mà người địa phương gọi là "cây cà phê mẹ" - đó là cây già nhất trong rừng Mankir. Họ tin rằng cây này là mẹ của tất cả các cây cà phê khác trong rừng vì vậy nơi đây được gọi là nơi chôn nhau cắt rốn của hạt cà phê.

Giống như bà Annaz và gia đình đã mời khách tại nhà bằng một ly cà phê, chúng tôi cũng được mời vào khu rừng cổ, nơi có cây cà phê cha, cây cà phê mẹ.

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

Truyền thống

Truyền thống uống cà phê của người Ethiopia không hề có dấu hiệu phai nhạt đi. Trở lại làng, Asayech nói với chúng tôi: "Tôi vẫn sẽ làm giống vậy khi ra ở riêng. Chúng tôi sẽ theo văn hóa của tổ tiên - tôi không cần phải tạo ra văn hóa mới."

Thomas LewtonBản quyền hình ảnhTHOMAS LEWTON

Dù văn hóa cà phê mới vẫn tiếp tục phát triển ở Ethiopia - chẳng hạn như những chi nhánh bắt chước kiểu quán cà phê của Starbucks có tên Kaldi's Coffee (Cà phê của Kaldi) đã xuất hiện quanh Addis Abada, nhưng những quán cà phê rang xay bên đường (như trong ảnh) và truyền thống uống cà phê vẫn rất phổ biến, dù ngay giữa thủ đô đang phát triển nhanh chóng.

Và với những nhà bảo tồn quyết tâm bảo vệ rừng cà phê bản địa của Ethiopia như Mesfin, thì họ hy vọng rằng cà phê sẽ tiếp tục phát triển trong nhiều thế kỷ tiếp để cung cấp cho các tín đồ cà phê khắp nơi trong nước và trên thế giới.

"Khi tôi thấy một cây cà phê mới lên, tôi thấy một thế hệ mới. Đó là món quà từ tự nhiên kết nối chúng tôi với quá khứ và dẫn dắt chúng tôi đến tương lai," Mesfin nói.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.
Theo BBC

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nhà Trắng là nơi làm việc chính thức của của Tổng thống – người quyền lực nhất nước Mỹ, đồng thời đây cũng là nơi ở của ông và gia đình. Tòa nhà này đã có lịch hàng thế kỷ và trở thành biểu tượng quyền lực của người đứng đầu nước Mỹ. Và tất nhiên bản thân nó cũng ẩn chứa rất nhiều bí mật thú vị mà không phải ai cũng biết. Top 14 điều không phải ai cũng biết về Nhà Trắng
bài hát “ĐỪNG EM” Link Video: https://www.youtube.com/watch?v=55glr5LDysA Ca sĩ: Đoàn Sơn Thơ: Nguyên Khang Nhạc: Mai Phạm Keyboard: Duy Tiến Video: APHUONGFILM – Melbourne, AUSTRALIA Link Youtube : https://youtu.be/55glr5LDysA Link lời bài hát file PDF: https://drive.google.com/file/d/1eb2g_SGvLK3pOXtcYdsge-MfShAd6EGU/view Trân trọng và cám ơn, Mai Pham
Âm nhạc chữa bệnh “Hãy tập trung vào âm thanh của nhạc cụ,” Andrew Rossetti, một nhà nghiên cứu và trị liệu âm nhạc được cấp phép cho biết khi anh gảy các hợp âm trên một cây đàn guitar Tây Ban Nha cổ điển . “Nhắm mắt lại. Hãy nghĩ về một nơi mà bạn cảm thấy an toàn và thoải mái,” Rossetti nó
Trận Xương Giang là trận chiến cuối cùng đặt dấu chấm hết cho toàn bộ cánh quân của Liễu Thăng. Đây là một trong những trận chiến thảm khốc nhưng oanh liệt nhất của toàn bộ cuộc chiến. Chỉ trong vòng 27 ngày đêm (từ ngày 8/10/1427 đến ngày 3/11/1427) mà có sự tham chiến của gần 20 vạn quân từ đôi bên trên một chiến tuyến khoảng 100 km. Trong trận chiến này, chủ lực của quân Minh sang tiếp viện bị thiệt hại gần như toàn bộ và không thể tham chiến nữa.
Khoa học tồn tại vốn là để giúp con người ngày càng tiến bộ hơn, và cũng là để giải đáp những bí ẩn tồn tại trong cuộc sống. Tuy nhiên, đã có rất nhiều lần các chuyên gia bị lạc lối vì chính những thứ họ tìm ra. Những bí ẩn của thế giới đến nay vẫn chưa có lời giải
Các đường phố ở London ngày đêm đốt lửa lớn, đốt trầm hương và ớt với nỗ lực làm sạch không khí. Một số người đem xác người chết bỏ vào hố lửa rồi đốt, khói dày đặc và mùi chết chóc bao trùm khắp thành phố.
1. Trận Gettysburg, Nội chiến Mỹ (năm 1863) 5 trận chiến đơn lẻ đẫm máu nhất lịch sử nhân loại: Xác người chất đống - Ảnh 1. Tham chiến: Liên bang miền Bắc - Liên minh miền Nam Tổn thất: Liên bang miền Bắc: 23.000 - Liên minh miền Nam: 23.000 Kết quả: Liên bang miền Bắc thắng. Theo Military History, đây là trận chiến đánh dấu bước ngoặt của Liên bang miền Bắc, đồng thời cũng ghi nhận số lượng tổn thất lớn nhất trong cuộc Nội chiến Mỹ. Sau hàng loạt lợi thế ban đầu, đại tướng Lee dẫn quân miền Nam tiến đánh vùng kiểm soát của Liên bang miền Bắc. Giao tranh diễn ra kịch liệt trong suốt ba ngày trước khi quân đội miền Bắc giành được thắng lợi, đẩy lùi đối phương. Trận đánh được ghi nhận là trận chiến quan trọng nhất của cuộc Nội chiến Mỹ, ghi dấu địa danh Gettysburg và trở thành biểu tượng cho nghị lực và chiến thắng của Liên bang miền Bắc.
1- Tên quốc gia bắt đầu bằng chữ A chấm dứt bằng chữ A. Một quốc gia độc nhất vô nhị của hành tinh này từ ngày sinh ra đã ĐỨNG ĐẦU, hiện ĐỨNG ĐẦU và có thể sẽ mãi ĐỨNG ĐẦU trong danh sách tên các nước trên thế giới. 2- Một quốc gia có số điện thoại bắt đầu bằng SỐ MỘT. 3- Một quốc gia chưa bao giờ bị XÂM LĂNG 4- Một quốc gia tốn tiền nhiều nhất để BẢO VỆ các quốc gia khác. 5- Một quốc gia mà người cùng đường có thể TÁ TÚC và cư trú dù BẠN hay THÙ. 6- Một quốc gia khi lâm nạn không ai cứu trợ vì nó GIÀU NHẤT và là kẻ trước nhất cứu trợ khi các quốc gia khác lâm nạn. 7- Một quốc gia không ai nói CẢM ƠN dù bao giờ cũng nhận ơn từ nó. 8- Một quốc gia luôn bị miệt thị là ĐẾ QUỐC, nhưng chính nó là quốc gia thúc đẩy XÓA BỎ THUỘC ĐỊA sau Thế Chiến Thứ 2.
“Karaoke” là tiếng Việt, có nghĩa là cứ “ca ra là OK”. Vậy là dân ta thoải mái ca ra, dù nhiều khi chẳng OK chút nào. Trong mùa dịch cô Vi này, người người ở nhà, thiếu thú vui giải trí, người ta đâm ra thích “ca ra OK”. Tại Việt Nam, karaoke đã trở thành đại nạn, không biết có trầm trọng hơn dịch bệnh không, nhưng đủ để dân chúng la làng. Người ta hát thoải mái bất kể giờ giấc, nửa đêm vẫn cứ đua nhau gào làm náo động khu phố. Tôi đọc được trên Facebook lời than của một bạn ở Sài Gòn: “Nó hát ngày, hát đêm, hát thêm Chủ Nhật, hát tràn cung mây, hát không cho ai ngủ. Nó chuyển sang “Vùng Lá Me Bay” mà giọng lúc thì ồm ồm, lúc thì rít sần sật lên như thế thì lá bay sao được, bay kiểu gì mà từ trưa tới tối vẫn chẳng hết lá!”.
Ngày nay dầu khuynh diệp bác sĩ Tín không còn nữa nhưng người dân miền Nam tuổi trung niên trở lên ai cũng nhớ đến cái mùi đặc trưng của loại dầu gió thông dụng này. Dầu trị nhiều chứng bệnh, cảm mạo, sổ mũi, đau nhức cơ bắp, ho, đau bụng, đau răng, trầy chảy máu, ngừa gió, ngừa ban cho trẻ em… Người thường dùng nhất là các bà già, phụ nữ sinh đẻ nên dầu khuynh diệp còn được gọi là “dầu bà đẻ”. Bác sĩ Tín người đã tạo ra dầu khuynh diệp Tôi chỉ mới biết “dầu bà đẻ” khi đem chuyện dầu gió ngày xưa ra trò chuyện với mấy ông bạn già. Những câu chuyện góp nhặt đây đó đánh thức ký ức của tôi thời còn bé. Nhớ lại, có lần ba tôi dẫn tôi đến Nhà bảo sanh Hoà Hưng thăm má tôi sanh thằng em út. Vừa bước vào cửa chính đã ngửi thấy nồng nực mùi dầu. Mùi khuynh diệp càng lúc càng nồng khi đi ngang qua các buồng sản phụ dọc theo hai bên.
Bảo Trợ