Hứa Giữ Lòng Chung Thủy Suốt Cuộc Đời

11 Tháng Mười Một 20181:27 SA(Xem: 1720)

Suy tư mục vụ năm MVGĐ 12/2018: Hứa giữ lòng chung thủy suốt cuộc đời

“Anh hứa giữ lòng chung thủy với em suốt cuộc đời”

Trong bí tích hôn nhân, trái tim của hai con người yêu thương nhau hợp nhất, nhờ ơn Chúa, thành một thực thể duy nhất bất khả phân li. Đời hôn nhân không chỉ có nghĩa là hai người ở với nhau mãi mãi, nhưng là họ yêu thương nhau mãi mãi (cf. Amoris Laetitia 123).
hon_nhan_hp

Thánh Giáo hoàng Gioan-Phaolô II nói rằng: “tính bất khả phân li của hôn nhân mà ngày nay xem ra người ta khó hiểu cũng diễn tả phẩm giá vô điều kiện của con người. Bạn không thể chỉ sống thử; bạn không thể chỉ chết thử. Bạn không thể yêu thử, hay thử chấp nhận một người khác tạm thời mà thôi” (Bài giảng lễ ở Kӧln, 15.11.1980).

Quyết định kết hôn có nghĩa là dấn thân dứt khoát và loại bỏ mọi chọn lựa khác

Hình ảnh hôn nhân trong Cựu ước được dùng để mô tả giao ước của Thiên Chúa với dân Người. Biểu trưng sự kết hợp này bao hàm một hệ luận sâu xa hơn, đó là đòi hỏi, như Thiên Chúa luôn trung tín với dân Người trong mọi đổi thay của cuộc sống, đôi bạn phải trung thành với nhau và ở bên nhau cho dù cuộc sống chung có diễn tiến thế nào. Hơn nữa, trong Tân ước, hôn nhân trở thành biểu tượng của sự kết hợp của Đức Kitô và Hội Thánh. Sự kết hợp ấy trở thành một bí tích, một dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa con người, như lời chúc lành long trọng trong lễ cưới diễn tả:

Lạy Cha là Thiên Chúa hằng hữu, để mạc khải chương trình yêu thương của Cha, Cha đã lấy tình yêu phu phụ làm biểu hiện giao ước Cha sẽ kí kết với dân riêng. Như vậy, nhờ sống đầy đủ ý nghĩa của bí tích, đôi tân hôn diễn tả được mầu nhiệm Đức Kitô kết hiệp với Hội Thánh…

Trong thời đại khủng hoảng ngày nay, chung thủy trong hôn nhân lại trở nên vấn đề đặc biệt quan trọng.

Chung thủy trong hôn nhân xuất phát từ mẫu mực là sự trung thành của Thiên Chúa được nhắc đến nhiều trong nghi lễ hôn phối. Trước khi trao nhận bí tích hôn phối, đôi tân hôn được chất vấn: “Các con có sẵn sàng yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời không?” và kế đến là lời hứa “Anh … nhận em … làm vợ và hứa giữ lòng chung thủy với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời anh”. Thừa tác viên chứng hôn bấy giờ xác nhận “Đức Chúa là Thiên Chúa đã tác hợp chúng con nên vợ nên chồng. Ngài là Đấng trung thành. Ngài sẽ ở với chúng con và sẽ hoàn tất công trình tốt lành mà Ngài đã khởi sự nơi chúng con”. “Xin Chúa tỏ lòng nhân hậu chuẩn y sự ưng thuận các con vừa tỏ bày trước mặt Hội Thánh, và xin Chúa tuôn đổ phúc lành của Ngài trên các con”. Ngài kết luận bằng những lời từ Thánh Kinh: “Sự gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phân li” (Mt 19,6).

Trung thành trong hôn nhân là: trung thành với hôn ước, chung thủy với người bạn đời, và trung thành với chính mình.
hon_nhan_cong_giao

Trung thành với hôn ước

Là trung thành với sự cam kết của hai người phối ngẫu sống với nhau, khi thịnh cũng như lúc suy, cho đến trọn đời. Đó không chỉ là việc bảo vệ giao ước hôn nhân, mà còn là củng cố cho hôn nhân bền vững. Nó đòi hỏi nỗ lực thường xuyên. Các đôi vợ chồng cần thường xuyên cùng nhìn lại thực tế cuộc sống chung trong viễn ảnh trung tín với cam kết hôn nhân suốt đời của họ. Lời hứa trung thành được tuyên bố công khai, vượt ngoài sự riêng tư của lời hứa, lúc khởi đầu cuộc hôn nhân hết sức là ý nghĩa.

Trung thành với người bạn đời           

Phản chiếu sự trao hiến và lãnh nhận hai con người của nhau. Một người quyết định với đầy đủ ý thức dấn thân suốt đời sống với và sống cho người phối ngẫu kia, thì từ bỏ mọi người khác, kể cả những người có thể có trong tương lai. Hôn nhân có đặc tính đơn nhất: một vợ một chồng. Thế nhưng, đôi bạn cần xác định lại thường xuyên sự trung tín này; nó cần được chứng thực bằng thực tế của ý nghĩ và hành động thường xuyên, đây không chỉ là vấn đề “chung thủy về thể xác”. Thật ra, không chỉ ngoại tình mới tàn phá sự trung tín hôn phối, nhưng khi có người nào khác hay sự gì khác trong cuộc sống chiếm lĩnh chỗ của người bạn đời trong trái tim của ta, thì ta đã bắt đầu thiếu trung tín rồi. Có cả ngàn hình thức bất trung. Không cần phải có một người thứ ba, mà có thể chỉ vì công việc, sự nghiệp, âu lo, hoặc ngay cả vì con cái, thậm chí tín ngưỡng và lí tưởng, vì đó mà ta xao nhãng và không còn quan tâm, ân cần với người bạn đời của ta. Hoặc cũng có thể vì ta đã xem người kia chỉ như là mặt trái của tấm bình phong hay một vực thẳm địa ngục.

Trung tín với người bạn đời có nghĩa là ta chọn ưu tiên nơi con người ấy. Nếu ta sẵn sàng chia sẻ những suy nghĩ hay cảm xúc sâu xa nhất của mình với ai đó trên mạng xã hội mà không chia sẻ với người bạn đời, là ta đã bước vào vòng nguy hiểm của thiếu trung tín rồi. Nếu lòng ta trở nên quá chú tâm vào một sự gì khác, thì hôn nhân có thể gập nguy cơ rạn vỡ. Điều rất quan trọng là cảnh giác con tim và tư tưởng của mình. Hứa trung thành với một người nào đó có nghĩa là nói lời bảo đảm sẽ luôn đứng bên cạnh người ấy. Trung tín gắn liền với lòng tin tưởng, tin cậy trong mến thương.

Trung thành với chính mình

Cuối cùng, chúng ta nên nhớ trung thành còn là trung thành với chính mình, trung thành với lịch sử của mình, trung thành với khả năng của mình, với sự thật của cuộc đời mình và sự cam kết của riêng mình. Để có thể mãi thật sự trung thành với một cam kết đời sống ta nhất thiết phải thường xuyên nghĩ tới nó và xác nhận đi xác nhận lại thường xuyên. Điều đó giả thiết ta phải chấp nhận chính mình và thỉnh thoảng biết dừng chân để phản tỉnh và xác nhận điều đã cam kết. Bởi lời hứa trung thành trong hôn nhân liên quan đến việc kết nối hành trình đời mình với đời người kia không thể đảo ngược, và định hướng tương lai đời mình chung với người kia. Yêu nhau là nhìn về cùng một hướng.

Tuyên hứa trung tín là một sự khá liều lĩnh, vì đôi bạn có thể gặp nguy cơ, bởi vì nó gắn liền với những điều không tiên liệu được. Con người có bản chất mãi là mầu nhiệm. Con người luôn có khả năng đổi thay. Cuộc sống họ chìm nổi, nhưng những người phối ngẫu bị ràng buộc phải tôn trọng lời hứa trung tín, dù hoàn cảnh có thay đổi thế nào. Hứa trung tín với một nai đó là nói với người ấy rằng : dẫu cuộc đời có thế nào tôi vẫn ở mãi bên em. Đó mới là yêu.

Nâng hôn phối của đôi bạn lên hàng bí tich, Hội Thánh nhằm cho lời hứa trung tín một cái khung bảo đảm và có ơn thánh trợ giúp như làm một cái đà đức tin cho đôi bạn cùng phóng đi xa hơn. Nhưng ở đây điều quan trọng căn bản là quan hệ với Chúa, và người nào biết sống trung thành với Chúa sẽ giữ sự trung thành với người bạn đời của mình dễ dàng hơn. Thế nên, nếu quan tâm đến trung tín trong hôn nhân thì ta phải biết rằng sống ‘trước nhan thánh Chúa’ không phải là điều thứ yếu nhưng tuyệt đối tiên quyết.
honnhan-01

Người ta phải hiểu rằng sự trung thành đến suốt đời và tính bất khả phân li của hôn nhân không phải là một yêu cầu áp chế, nhưng là một nhiệm vụ hiện sinh đầy hứa hẹn, một nhiệm vụ mà ta phải thực thi cả đời. Đó là một ơn huệ Chúa ban nhưng đòi hỏi sự hợp tác tích cực của đôi vợ chồng.

Theo HDGMVN
Câu hỏi suy tư hay để thảo luận

  1. Lời tuyên hứa trung thành trong hôn nhân có khiến tôi lo sợ không, hay là một điều gợi hứng đối với tôi?
  2. Tôi có trung tín đối với chính mình không?
  3. Đối với tôi, trung thành với vợ (hay chồng) tôi thực sự có nghĩa là gì?
  4. Đối với tôi, sự bất trung bắt đầu từ đâu?
  5. Chúng ta đang làm gì cho cuộc hôn nhân này của chúng ta?
  1. Chúng ta cần làm những bước nào trong tương lai sắp tới để thực hiện lời hứa trung thành cách chân thực hơn?
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Nhật báo L’Osservatore Romano ngày 27/4/2019 cho biết Ủy ban thần học quốc tế vừa công bố văn kiện về “Tự do tín ngưỡng” được Đức Thánh Cha Phanxicô phê chuẩn ngày 21 tháng 3 vừa qua. Có lẽ vì là văn kiện của một “cơ quan nghiên cứu” (chứ không phải “cơ quan quản trị”) của Tòa Thánh[1], cho nên không có buổi họp báo để ra mắt với báo giới. Trong số báo vừa nói, chỉ có một bài giới thiệu vắn tắt của cha Serge-Thomas Bonino O.P., Thư ký của ủy ban.
Đức ông (Monsignor) là một tước vị danh dự do Đức Thánh Cha ban theo đề nghị của các giám mục địa phương cho một số linh mục có công trạng trong việc phục vụ Giáo hội tại các giáo phận trên toàn thế giới, hoặc cho các linh mục nhân viên của Tòa Thánh làm việc trong các cơ quan trung ương tại Giáo triều Rôma hoặc trong các phái bộ ngoại giao của Tòa Thánh ở các quốc gia trên thế giới.
Nếu so sánh Đạo Tin Lành và Công giáo về các phương diện như : Giáo lý, Luật pháp, Lễ nghi, và Tổ chức thì chúng ta thấy có những điểm tương đồng và những điểm dị biệt kể ra sau đây:
Trong một số báo dành cho phụng vụ sau công đồng Vaticanô II, đề tài về Satan có thể chỉ giới hạn vào việc phân tích “Nghi thức trừ tà” được duyệt lại và phát hành năm 1998. Tuy nhiên, chúng tôi muốn lợi dụng cơ hội này để trình bày một đề tài thần học rộng lớn hơn, đó là: phụng vụ như một chứng tích của đức tin Hội thánh về sự hiện hữu của Satan.
Tại Hoa Kỳ, vào dịp này trong năm, thường có các buổi phong chức cho các tân linh mục. Và do đó, là dịp nhiều linh mục mừng kỷ niệm ngày mình được phong chức, một ơn phúc thật vĩ đại và là một thừa tác hệ trọng. Vào dịp này, Sách Lễ Rôma dự liệu việc các ngài được đọc thêm các lời nguyện cầu cho chính mình (Pro seipso sacerdote).
Phong trào Phụng vụ nảy sinh từ ước vọng muốn cho hành động phụng vụ được đích thực hơn, và từ nhu cầu lôi cuốn tín hữu tham dự một cách trực tiếp hơn vào việc cử hành phụng vụ, vì cho tới lúc bấy giờ họ thường tham dự một cách thụ động.
Giải Đáp Mục Vụ - Tin vào phong thủy có đi ngược với đức tin Công giáo ? -Linh Mục Giuse Phạm Quốc Văn Điều Hợp: Kim Thuý
Chúa Nhật Chúa Chiên Lành là ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu. Trước đây, người ta thường nói đến ơn gọi làm linh mục và ơn gọi làm tu sĩ; nhưng Thượng hội đồng giám mục (THĐ) họp năm ngoái về các bạn trẻ đã nới rộng khái niệm về ơn gọi. Trên thực tế, có bao nhiêu thứ ơn gọi ? Khi thiết lập ngày cầu nguyện cho ơn gọi năm 1964 (nghĩa là cách đây 55 năm), Đức Thánh Cha Phaolô VI nghĩ đến ơn gọi giáo sĩ. Đó là lý do ngài đã chọn đề tài Chúa Giesu, mục tử nhân lành, để trưng bày mẫu gương cho các mục tử trong Hội thánh. Sau đó, ngày cầu nguyện cũng được mở rộng cho ơn gọi đời sống thánh hiến.
Người đọc Sách Thánh hay còn được gọi là độc viên Sách Thánh là người thi hành tác vụ công bố Lời Chúa (qua các Bài đọc) trong Thánh lễ. Đây là một ơn gọi được Thiên Chúa kêu mời dành cho những người có tố chất và khả năng nói – đọc trước công chúng để họ trở thành tác viên phụng vụ trong chức năng công bố Lời Chúa. Họ có sứ mạng làm cho Thiên Chúa hiện diện đối với cộng đoàn trong phần Phụng vụ Lời Chúa. Họ có thể là người lãnh tác vụ đọc sách hoặc là người đã được chọn lựa, huấn luyện và chỉ định làm độc viên Sách Thánh. Họ thuộc về một đội hay một nhóm những người chuyên đọc Sách Thánh của cộng đoàn hay giáo xứ, chứ không phải bị chỉ định đột xuất.[1]
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Có lần cha xứ của con đã đọc lời truyền phép bánh hai lần: lần đầu trên bánh và lần sau trên rượu. Hình như ngài không nhận ra điều này - mặc dù một số giáo dân đã nhận ra. Chắc chắn ngài không quay lại và đọc lời truyền phép đúng. Như thế liệu việc truyền phép rượu có thành sự không? Thánh lễ có hợp lệ không? Có một thầy phó tế trong Thánh lễ đó, nhưng thầy không can thiệp. Thầy cũng giật mình như bất kỳ ai trong chúng con, và trước khi chúng con nhận ra điều gì đã xảy ra, linh mục vẫn tiếp tục với phần còn lại của Kinh Nguyện Thánh Thể. Liệu thầy phó tế nên can thiệp ngay lập tức chăng, thậm chí đến mức làm gián đoạn Kinh nguyện Thánh Thể? Liệu có ai đó nên can thiệp ngay lập tức chăng, ngay cả khi nói lớn tiếng từ ghế tín hữu?
Bảo Trợ