Chính Quyền Xưa Và Nay Dưới Con Mắt Của Người Dân Qua Tục Ngữ Ca Dao

31 Tháng Mười 20185:30 SA(Xem: 1938)

Chính quyền xưa và nay dưới con mắt của người dân qua tục ngữ ca dao

blank
Phạm Hy Sơn (Danlambao) -  Một nước (hay quốc gia) có ba thành phần là dân chúng, đất nước (lãnh thổ) và chính quyền. Dân chúng trong nước thông thường do cùng một nguồn gốc hay tổ tiên, cùng một văn hoá và cùng chung một lịch sử. Khi hội đủ 3 yếu tố trên người ta gọi khối người đó là dân tộc như dân tộc Việt Nam, dân tộc Pháp, Nhật, Ý, Đức... 


Người Việt, trong tục ngữ ca dao, nói rất nhiều về tổ tiên, nòi giống, về sự yêu mến đất nước của mình: 


- Hỡi ai buôn bán gần xa, 
Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười. 
 
Hỡi ai buôn bán ngược xuôi, 
Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba. 
 
- Nhiễu điều phũ lấy giá gương, 
Người trong một nước phải thương nhau cùng.... 


Và người ta ca ngợi những phong cảnh xinh đẹp của quê hương: 
- Đồng Đăng có phố Kỳ lừa, 
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh. 
Ai lên xứ Lạng cùng anh, 
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em. 
Tay cầm bầu rượu nắm nem, 
Mảng vui quên hết lời em dặn dò. 
 
- Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, 
Non xanh, nức biếc như tranh họa đồ. 
 
Ai vô xứ Nghệ thì vô. 
- Nhà Bè nước chảy chia hai, 
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về. 


Đối với chính quyền, mà ngày xưa đứng đầu là ông vua (bây giờ là Tổng Bí Thư đảng hay Chủ Tịch nước), tục ngữ ca dao của người bình dân Việt Nam chỉ nói đến với những lời chê trách, oán hờn và đặc biệt rất coi thường luật lệ của người đứng đầu guồng máy cai trị: 


-Phép vua thua lệ làng. 
-Thà thiếu thuế vua hơn thua lệ làng. 
Tuy trong ca dao có ghi chép một số bài ca tụng công đức của vua chúa với ơn mưa móc ban cho muôn dân, nhưng những bài ca dao ấy xuất phát từ tư tưởng tôn quân của những người theo học Nho. Họ là tầng lớp liên kết với vua chúa và dùng ngôn ngữ của người Tàu, lấy Nghiêu, Thuấn, Thương, Chu (bên Tàu) làm mẫu mực để tôn xưng: 

-Mừng nay vận mở dư nghìn, 
Việt Nam có thánh cầm quyền sửa sang. 
Bốn phương đầm ấm dân yên, 
Trời Nghiêu, ngày Thuấn lưỡng gian thái hòa… 
 

-Nay mừng mưa nắng thuận trời, 
Trị đời Ngu, Hạ, dân đời Thương, Chu. 
Nơi nơi khích nhưỡng ca cù, 
Khắp trong vũ điện Thang Chu thuận hòa... 
(Nguyễn văn Ngọc, Tục Ngữ Phong Dao, q. 2, trg 149, 146) 


Sở dĩ người dân quê không ưa chính quyền vì đạo Khổng với chủ nghĩa tôn quân được đem từ bên Tàu vào Việt Nam tạo ra một chĩnh quyền phong kiến áp đặt nặng nề lên người dân: Vua là chúa dân, quan là cha mẹ dân (phụ mẫu chi dân).


Trong các triều đại cầm quyền lâu dài ở Việt Nam như Lý, Trần, Lê, Nguyễn may lắm mỗi họ được một hai vị vua biết đặt quyền lợi của nước, của dân lên trên quyền lợi của dòng họ, của bản thân. Vua Tự Đức (1847-1883), một vị vua được coi là thâm Nho nhất triều Nguyển, rất có hiếu với mẹ - hoàng thái hậu Từ Dũ - là một ông vua điển hình. Vua Tự Đức đã bác bỏ tất cả những bản điều trần xin đổi mới (canh tân) giúp cho quốc gia hùng mạnh của biết bao nhiêu người người nhiệt tâm với đất nước như Nguyễn trường Tộ, Trần tiễn Thành, Phạm phú Thứ, Nguyễn lộ Trạch, Đậng huy Trứ vì sợ cải cách theo phương Tây làm hại chủ nghĩa tôn quân, làm suy yếu ngai vàng của nhà Nguyễn. Kết quả là đất nước bị lạc hậu và là miếng mồi ngon cho đế quốc phương Tây xâm lăng. 


Khi quân Pháp đem quân đánh phá cũng là lúc đất nước rơi vào cảnh loạn lạc: Giặc Cờ Vàng, Cờ Đen từ bân Tàu tràn sang, giặc trong nước liên tục nổi lên, đê Văn Giang vỡ 18 năm liền nhân dân đói khổ, 3 Tỉnh miền Đông mất (1862), tiếp theo 3 tỉnh miền Tây mất (1867) nhà vua không lo chống giặc lại đem tiền bạc, sức lính, sức dân xây lăng Vạn Niên Cơ lớn gấp 10 lần lăng vua tổ Gia Long từ năm 1864 đến năm 1873 với 50. 000 binh lính, hơn 100. 000 phu dịch. Việc xây cất kéo dài làm quân lính cực khổ, mệt mỏi và dân phu đói khát, bất mãn đã gây ra cuộc nổi loạn Chày Vôi năm 1866. Câu ca dao lưu truyền thời ấy đã được ghi vào lịch sử: 


- Vạn Niên là Vạn Niên nào, 
Thành xây xác lính, hào đào máu dân! 
Chính vì vậy người dân nhìn từ vua chúa tới quan quyền trong guồng máy cai trị không khác gì hơn là những kẻ áp bức, bóc lột và vua, chúa dưới mắt người dân không có gì đáng tôn kính, chẳng qua cũng chỉ là đám giặc mà thôi: 

- Được làm vua, thua là giặc. 
Họ là tầng lớp quyền thế, hết đời cha đến đời con thay nhau cai trị người dân đói rách từ đời này đến đời khác: 

-Con vua thì lại làm vua, 
Con nhà thầy chùa lại quét lá đa. 
 
-Con vua thì lại làm vua, 
Con nhà kẻ khó bắt cua tối ngày, và: 
 
-Con quan thì lại làm quan, 
Con nhà kẻ khó đốt than tối ngày. 
Guồng máy thống trị áp đặt lên họ không bao giờ dứt, kẻ này đi thì kẻ khác đến: 

-Quan Phủ đi, quan Tri nhậm. 
 
-Ông Huyện chưa đi, ông Tri đã lại. 
Trong tâm trí người dân quan với ma cũng là một loại: 

 
-Quan tha ma bắt. 
Và cái túi tham của quan lại vô cùng tận: 


-Của vào nhà quan như than vào lò. 
 
-Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ. 
 
-Vô phước bước cửa quan. 
 
-Vô phúc đáo tụng đình, tụng đình rình vô phúc. 
Họ thấy mình bị bọn quan quyền cướp bóc trắng trợn: 

-Tuần hà là cha kẻ cướp. 
 
- Con ơi nhớ lấy lời này, 
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan. 
Có quyền hành trong tay tầng lớp vua chúa, quan quyền ăn ngon, mặc đẹp, giàu có còn người dân thì đói rách: 

-Chúa ăn cá bống, cá thiều, 
Phận tôi hạt muối đủ chiều khô khan. 
Chúa mặc áo lát, áo đan, 
Thân tôi miếng giẻ vá ngang, vá chằng. 
Dưới chế độ chuyên chế phong kiến, người dân bị quan quyền từ trên xuống dưới ức hiếp đủ mọi mặt: 

-Thiếu thuế bắt vợ, thiếu nợ bắt con. 
 
-Tôi là con gái đồng trinh, 
 
Tôi đi bán rượu qua dinh ông nghè. 
 
Ông nghè sai lính ra ve, 
 
- Bẩm lạy ông nghè, tôi đã có con. 
 
- Có con thì mặc có con, 
Thắt lưng cho tròn mà lấy chồng quan. 
-Cậu cai buông áo em ra, 
Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa. 
Chợ trưa rau đã héo đi, 
Lấy gì nuôi mẹ, lấy gì nuôi em! 

Và̀o thời đại dân chủ ngày nay, vua chúa đã ra đi nhưng cái nhìn của người dân về chính quyền vẫn còn đó, không mất đi mà cũng không khác gì cái nhìn về chính quyền thời phong kiến: 


- Một người làm việc gấp hai, 
Để cho cán bộ mua đài, mua xe. 
Một người làm việc gấp ba, 
Để cho cán bộ xây nhà, xây sân. 
Tình trạng cha truyền con nối ‘Con quan thì lại làm quan’ cũng vẫn còn đó: 

- Hậu duệ, quan hệ, tiền tệ mới đến trí tuệ. 
 
- Nhất thân, nhì ngân, tam quyền, tứ chế. 
Trong xã hội cũng có những giai cấp, tầng lớp ưu đãi khác nhau: 

- Tôn Đản là chợ vua quan, 
Vân Hồ chợ của quyền gian, nịnh thần. 
Đồng Xuân chợ của thương nhân, 
Vỉa hè chợ của nhân dân anh hùng. 


Người dân là giai cấp bị thống trị từ xưa tới nay, nên người ta cũng nhìn chính quyền từ xưa tới nay không khác gì nhau, vì tình trạng ‘Quan tha ma bắt’ và ‘Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan’ làm cho đời sống hàng ngày của họ vốn đã đói khát, khốn khổ lại càng đói khát, khốn khổ thêm
blank
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Trên cõi đời này, chắc hẳn không ai được sinh ra mà không do sự mang nặng đẻ đau của một bà Mẹ, người Mẹ thực sự là hiện thân của tình yêu thương, người Mẹ như là một tổ ấm, như là một cái nôi từ khi bào thai mới tượng hình trong lòng Mẹ./22 Tháng Tám 2013(Xem: 6491)/
Tôi lặng đứng trước ngôi mộ đơn sơ của một người thầy cũ, đúng ra là Linh mục Hiệu trưởng, nhưng bây giờ cái cảm tưởng một vị thầy, một vị Hiệu trưởng để lại ấn tượng trong lòng tôi nhiều hơn cả chức năng mục vụ Linh mục của thầy./10 Tháng Mười Một 2012(Xem: 4010)/
Lời nói “Ta yêu con” cứ vang mãi trong những bước chân nhịp nhàng đầy hy vọng. Hai bên đường những cánh đồng lúa chín vàng, mùa gặt đến! Hồn nhỏ với tâm tình yêu mến người chết trên giá gỗ, đã hòa nhập với dòng người lên đường gặt hái những vụ mùa trên đồng lúa bao la!/18 Tháng Tư 2014(Xem: 3873)/
Trong các cha xứ về ở làng Ba, Vinh Trung lâu nhất là Cha Phêrô Trần Đình Trọng, khoảng mười tám năm, từ năm 1967 cho đến khi ngài qua đời vào năm 1985. Lâu như vậy cũng có thể vì thời cuộc vào thời điểm đó, và cũng nhờ đó Cha Trần Đình Trọng đã để lại nhiều ký ức, nhiều kỷ niệm trong lòng giáo dân Vinh Trung cho đến tận bây giờ./05 Tháng Chín 2014(Xem: 5563) Đặng Xuân Hường/
Năm 1954, Duyên Anh di cư vào Nam. Để kiếm sống, ông đã làm mọi công việc của một thanh niên hè phố, chẳng có nghề ngỗng nào nhất định. Khi thì theo một nhóm sơn đông mãi võ, khi tháp tùng đoàn cải lương lưu diễn đây, mai đó./17 Tháng Năm 2012(Xem: 5357) Đoàn Thạch Hãn/
Nói đến ngôi trường làng, lớp trẻ bây giờ và có lẽ lớp tuổi trên dưới năm mươi ở Bình Giã mấy mươi năm trước, không ai là không một thời cắp sách đến ngôi trường làng. Cái tuổi hồn nhiên, ngây thơ được đến trường ê a học vài chữ thấy sao nhớ thương chi lạ! blank Có một bài hát ngắn của những năm đầu tiên đi học, chắc chẳng mấy ai quên : "A b c là ba chữ đầu. Ô ê kia đầu có nón che. Học cho chăm đừng có khóc nhè”! Cái thuở mà học trò cắp sách đến trường chỉ vỏn vẹn cuốn tập, lọ mực tím, cây bút. Cặp sách, bút pilot, alpha...hồi đó còn là một xa-xí phẩm đối với học trò. Cha mẹ lo cày cấy, thu hoạch chẳng được bao nhiêu, làm sao có thể có đủ tiền bạc để mua sắm những thứ tốn tiền đó. Có sách vở bút mực là đã tương đối đầy đủ rồi. Đi học trường Tiểu học, tay ôm mấy cuốn tập, tay xách lọ mực tím, và đi chân đất! Bây giờ mỗi lần nghe đến "mực tím" tưởng tượng thấy dễ thương, hồn nhiên và rất gợi nhớ tuổi học trò.
Tôi vừa đọc bài " Những đức tính Tốt và Xấu của người Việt " trên trang mạng tiengnoigiaodan.net của Ông Đào Văn Bình. Tôi rất vui và đắc ý vì ông Bình đã có cái nhìn " quy tư " về con Người chính mình và đồng bào mình./12 Tháng Năm 2012(Xem: 6195) Nguyễn Quang/
Mỗi lần về thăm quê cũ, tôi thường gặp lại những người quen với nhiều kỷ niệm xa xưa trong ký ức, trong quá khứ. Năm nay, trong chuyến về quê thêm một lần nữa, tôi chợt thấy xao động trong lòng khi gặp lại một người bạn thân quen từ hồi còn nhỏ xíu, nhưng cái kỷ niệm khó quên thuở ngày xưa vẫn nằm im trong tiềm thức tôi từ ngày ấy./18 Tháng Bảy 2012(Xem: 8720) /
Khi nói về lịch sử Việt Nam, người ta thường hay nhắc đến cụm từ “Việt Nam có bốn nghìn năm văn hiến” mà văn hiến là truyển thống văn hóa lâu đời. Người ta cũng nói đến hai chữ văn vật vốn là truyền thống văn hóa biểu hiện ở nhiều nhân tài và nhiều di tích lịch sử.../09 Tháng Sáu 20122:00 CH(Xem: 4568)/
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh ("Tây tiến", thơ Quang Dũng) Xa nhìn thấp thoáng trong mây muôn bóng quân Nam chập chùng... (1) Câu hát ấy, từ bao năm nay vẫn cứ theo tôi, theo tôi mãi. Câu chuyện bắt đầu tư những ngày xa xưa, thuở tôi còn là cậu học trò nhỏ vừa bước vào năm học đầu tiên của một trường trung học ở thành phố cao nguyên có cái biệt danh nghe buồn buồn là "Buồn-muôn-thuở". Cậu học trò ấy, vào mỗi sáng thứ Hai, cùng chúng bạn đứng xếp hàng ngay ngắn trước sân cờ nao nức chờ đợi phút giây được tham dự vào nghi thức thượng kỳ đầu tuần trong bầu không khí thật trang nghiêm giữa sân trường thuở ấy.
Bảo Trợ