Những Tướng Lĩnh Nổi Danh Đã Thất Bại Tại Đại Việt

30 Tháng Mười 20185:00 SA(Xem: 341)
Những tướng lĩnh nổi danh đã thất bại tại Đại Việt (P.1):
Đại tướng Mông Nguyên từng làm rung chuyển cả Á Âu

Những tướng lĩnh nổi danh đã thất bại tại Đại Việt (P.1): Ngột Lương Hợp Thai

Bài viết này không phải nhằm mục đích hạ thấp các tướng lĩnh đó, mà chỉ là mượn chút uy danh của họ để nêu bật lên sự huy hoàng của các tướng sĩ nước Nam…

Chiến tranh luôn đem lại khổ đau và tai nạn cho nhân loại. Dù cho kẻ thắng hay người thua đều vì nó mà phải thương tâm. Chẳng thế mà Nguyễn Du đã từng có thơ rằng:

“Liên phong cao sáp nhập thanh vân
Nam bắc quan đầu tựu thử phân
Như thử hữu danh sinh tử địa
Khả liên vô số khứ lai nhân

Tắc đồ tùng mãn tàng xà hổ
Bồ dã yên lam tựu quỷ thần
Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt
Kỳ công hà thử Hán tướng quân”.

(Quỷ Môn Quan – Nguyễn Du)

Dịch thơ:

“Giăng giăng núi phủ vút từng mây
Nam bắc chia nhau tại chỗ này
Sinh tử từng nghe nơi hiểm trở
Tới lui bao kẻ xót thương thay

Bụi gai ngăn lối hùm beo núp
Khói độc đầy non quỷ quái đầy
Xương trắng ngàn xưa phơi gió lạnh
Khen gì tướng Hán chiến công hay”.

(Bản dịch của Trương Việt Linh. Nguồn: thivien.net )

Dù biết chiến tranh ác liệt khủng khiếp, nhưng vẫn có vô số kẻ khuấy động can qua, đem tai họa đến cho biết bao lương dân. Tất cả cũng chỉ vì muốn vinh danh anh hùng trên chiến địa, muốn được lưu truyền thiên cổ. Rất nhiều kẻ trong số đó đến từ các triều đại Trung Quốc, khi đạo đức thoái hóa đã không dùng Đức trị thiên hạ mà là ngồi trên lưng ngựa chinh phạt khắp nơi.

Nhưng Trời không chiều kẻ bạo ngược. Trong suốt lịch sử quân sự lừng lẫy của Thiên triều Trung Hoa, lại có một vùng đất nhỏ bé nhưng là nơi chôn vùi sự nghiệp của vô số hậu nhân Tôn Võ Tử suốt 4.000 năm. Đó chính là Đại Việt.

Vẫn biết rằng “thành bại là lẽ thường của binh gia”, nên bài viết này không phải nhằm mục đích hạ thấp các tướng lĩnh đó, mà chỉ là mượn chút uy danh của họ để nêu bật lên sự huy hoàng của các tướng sĩ nước Nam, những con người nhỏ bé nhưng anh dũng đã đường đường chính chính đánh bại các đối thủ mạnh hơn để bảo vệ quê hương mình. Không ai trong số họ muốn được vinh danh, nhưng ngàn năm con cháu vẫn sẽ luôn ghi nhớ.

Vì triều đại nhà Trần là triều đại có chiến công lừng lẫy nhất, chúng ta sẽ bắt đầu với họ nhé.

Phần 1: Ngột Lương Hợp Thai – Uriyangqatai (1200-1271)

  • Tên Hán: Ngột Lương Hợp Thai.
  • Chức vụ: Tổng chỉ huy quân viễn chinh Đại Lý và Đại Việt năm 1258.
  • Đối thủ chính: Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ, Lê Tần.
  • Bị đánh bại tại: Thăng Long – Chiến dịch Đông Bộ Đầu và trận tập kích của Hà Bổng trên đường rút lui.


Uriyangqatai (chữ Mông Cổ: ᠥᠷᠢᠶᠠᠨᠺᠠᠲᠠᠢ, Урианхайдай), còn được chép trong sử liệu chữ Hán với phiên âm Hán Việt là Ngột Lương Hợp Thai hay Cốt Đãi Ngột Lang. Ông là một chỉ huy quân sự kiệt xuất của quân đội Nguyên Mông và là tướng chỉ huy quân Mông Cổ xâm lược Đại Việt lần thứ nhất vào năm 1258. Ngột Lương Hợp Thai được xếp là công thần đứng hàng thứ 3 của nhà Nguyên.

blank
Ngột Lương Hợp Thai. (Ảnh minh họa từ youtube)

Con trai của Subotai, người đem đến châu Âu “Cơn thịnh nộ của Chúa Trời”

Cha của Ngột Lương Hợp Thai là một vị tướng lừng lẫy khắp thế giới từ Á sang Âu, chính là Subotai (Tốc Bất Đài). Tốc Bất Đài là một dũng tướng bách chiến bách thắng của Thành Cát Tư Hãn trong Tứ Cẩu hay Tứ Dũng (4 viên dũng tướng); 3 người còn lại là Gia Luật Mễ, Hốt Tất Lai, Triết Biệt. Tốc Bất Đài đã theo chân Thành Cát Tư Hãn từ những ngày đầu lập quốc.

Ngoài việc góp phần quan trọng trong các chiến dịch đánh bại các đế quốc Khwarizm cũng như hạ gục Kim và Tây Hạ ra, thì vinh quang lớn nhất của Subotai chính là chiến dịch viễn chinh gây kinh hoàng khắp châu Âu được ví như cơn thịnh nộ của Chúa Trời.

Ông đã khởi động cuộc chiến với chuỗi chiến thắng trải dài từ Nga, Ba Lan, Hungary, Áo và thậm chí đã chuẩn bị xâm lăng đế chế La Mã, nhưng cái chết của Đại Hãn Ogotai (Oa Khoát Đài) đã khiến chiến dịch bị hoãn vô thời hạn. Và ông đành kết thúc cuộc đời binh nghiệp với chiến dịch sau cùng tiêu diệt nhà Nam Tống.

Vinh quang trải khắp Á Âu

Là con trai của Tốc Bất Đài, Ngột Lương Hợp Thai thừa kế thành công tài năng quân sự của cha mình và cũng trở thành một tướng lĩnh nổi tiếng của nhà Nguyên Mông. Ông từng tham gia đánh nước Kim của người Nữ Chân ở miền Liêu Đông, tấn công Đức và Ba Lan dưới cờ của Bạt Đô (sau này là Đại Hãn của Hãn quốc Kim Trướng) cũng như nhận lệnh tấn công đế quốc Ả Rập cùng Húc Liệt Ngột (em của Hãn Mông Cổ là Mông Kha) [1]. Sau này Húc Liệt Ngột là Hãn của Hãn quốc Y Nhi (Hãn quốc này bao gồm Iran và Iraq hiện nay). Nhưng sau đó, Ngột Lương Hợp Thai nhận lệnh mới và không ở trong đội quân đi đánh Bagdad.

Từ năm 1252, Ngột Lương Hợp Thai và Hốt Tất Liệt đánh Đại Lý – quốc gia của người Thoán Bặc (người Di ở Vân Nam), chiếm được kinh đô từ năm 1253. Sau đó, Hốt Tất Liệt nhận việc mới và Ngột Lương Hợp Thai trở thành tổng chỉ huy.

Năm 1254, Ngột Lương Hợp Thai đã hoàn thành việc bình định nước Đại Lý với việc bắt sống vua Đại Lý là Đoàn Hưng Trí.

Nhằm dọn đường cho quân Mông Cổ tiến đánh nhà Nam Tống từ phía Nam, Ngột Lương Hợp Thai tiến quân vào Đại Việt theo đường từ Vân Nam dọc theo sông Hồng vào tháng 12 năm Đinh Tỵ (tức tháng 1 năm 1258). Quân của Ngột Lương Hợp Thai có ít nhất là hơn 3 vạn người, trong đó 2 vạn là quân của Đoàn Hưng Trí.

Định mệnh sa lầy nơi Đại Việt

Ngày 12 tháng Chạp (17 tháng 1 năm 1258), các lực lượng tiên phong của Ngột Lương Hợp Thai do Aju và Cacakdu chỉ huy đã đến Bình Lệ Nguyên và giao chiến với quân Đại Việt do đích thân vua Trần chỉ huy tại đây.

blank
Bàn đồ cuộc chiến Mông Cổ – Đại Việt lần I. (Ảnh từ wikipedia.org)

Ngột Lương Hợp Thai quá tự tin vào năng lực tác chiến và các chiến thắng quá dễ dàng tại Đại Lý nên đã vô thức không nhận ra rằng, lần này ông ta đã gặp phải đối thủ lớn nhất của đời mình.

Kế hoạch bắt sống bộ chỉ huy nhà Trần và đánh tan quân Đại Việt chỉ trong một trận của Ngột Lương Hợp Thai đã thất bại khi Trần Thái Tông nghe lời Lê Tần quyết định lui quân để bảo toàn lực lượng. Quân Ngột Lương Hợp Thai tiếp tục tấn công ồ ạt, khiến quân Đại Việt phải bỏ kinh đô Thăng Long. Nhờ dự liệu chính xác về phương thức chiến tranh của quân Mông Cổ, nhà Trần trước đó đã thực hiện cuộc đại di tản toàn bộ kinh đô và không để lại một chút gì cho đạo quân xâm lược có thể lợi dụng.

Thiếu lương thực, khí hậu bất lợi, sự kháng cự của quân Đại Việt đã khiến quân của Ngột Lương Hợp Thai gặp nhiều khó khăn. Chỉ 12 ngày sau trận giao chiến đầu tiên, tức ngày 29 tháng 1 năm 1258, quân Đại Việt đã phản công, đánh bật quân của Ngột Lương Hợp Thai khỏi Thăng Long bằng chiến dịch Đông Bộ Đầu. Ngột Lương Hợp Thai quyết định rút quân về Vân Nam. Giữa đường, quân của Ngột Lương Hợp Thai bị lực lượng của Hà Bổng tập kích gây tổn thất nặng.

Sau khi thoát về Vân Nam, Ngột Lương Hợp Thai được lệnh hội sư công Tống (tập hợp các cánh quân chuẩn bị cho chiến dịch lớn tấn công nhà Tống) nhưng bị tước giải binh quyền không lâu sau đó. Quyền chỉ huy được giao lại cho con trai của Ngột Lương Hợp Thai là Aju.

Thiệt hại của quân Mông Cổ trong trận chiến này có lẽ là lần thiệt hại nặng nề nhất tính cho đến lúc đó, tùy theo nguồn tài liệu mà chênh lệch từ già nửa cho tới khoảng 4/5.

Sử gia Rasid ud-Din cho biết rằng khi tiến lên Ngạc Châu ở miền Nam Trung Quốc gặp Hốt Tất Liệt, quân số của đoàn quân này chỉ còn không quá 5.000 người.

Nguyên sử [2], Ngột Lương Hợp Thai truyện và bài bia ký A Truật chép rằng: Khi thâm nhập đất Tống, đoàn quân này còn 3000 kỵ binh Mông Cổ và 1 vạn quân Thoán Bặc.

Bước ngoặt của cuộc chiến chống Mông Cổ cho toàn thế giới

Vì cuộc chiến chỉ diễn ra chưa đến nửa tháng với chiến bại quá nhanh và triệt để của quân Mông Cổ, người ta thường ít nhận thấy mức độ quan trọng của nó so với 2 cuộc chiến khốc liệt hơn lần thứ 2 và thứ 3 sau đó 30 năm. Nhưng các sử gia trong đế quốc Mông Cổ như Rasid-ud Din và Lê Tắc (tác giả An Nam chí lược) [3] lại thừa nhận rằng, quả thực là Đại Hãn Mông Kha muốn chiếm Đại Việt làm bàn đạp để đánh thọc vào châu Ung, châu Quế phía nam nước Tống.

Nếu chiến dịch này không quan trọng thì Mông Kha đã không cử tới 50 chư vương của triều đình Mông Cổ, có cả phò mã Mông Cổ tên là Quaidu tham gia chỉ huy đội quân này. Việc quân Mông Cổ thất bại ở Đại Việt cũng đã giúp Nam Tống tránh được việc bị đánh kẹp từ phía Nam để có thể tập trung binh lực đối phó Mông Cổ ở phía Bắc.

Vì thế, tuy quy mô đạo quân của Ngột Lương Hợp Thai không lớn, chỉ cỡ 4-5 vạn, nhưng thất bại triệt để chóng vánh của ông ta đã giáng một đòn nặng vào toàn thể chiến lược xâm lăng đất Tống theo bốn con đường mà Mông Kha vạch ra. Sử gia Hà Văn Tấn có nhận định rằng:

“Có lẽ… trong đời chinh chiến của mình, chưa bao giờ Uriangqadai bị thua nhục nhã như lần này”.

blank
Có lẽ… trong đời chinh chiến của mình, chưa bao giờ Uriangqadai bị thua nhục nhã như lần này. (Ảnh minh họa từ youtube)

Thậm chí các tác giả phương Tây như Peter D. Sharrock và Vũ Hồng Liên (người Anh gốc Việt) đã nhận xét về kết quả cuộc chiến năm 1258 là một cuộc chiến bước ngoặt của toàn thế giới chống quân Mông Cổ:

“Các bộ sử Việt ca ngợi các sự kiện năm 1258 là một đại thắng, nhưng Nguyên sử và An Nam chí lược cho là người Mông Cổ đã thắng, vì họ đã chiếm được Thăng Long. Cuối năm đó, Đại Hãn Mông Kha gửi một lá thư cho vua Trần, có nói đến việc ông ta [vua Trần] đuổi hai sứ Mông Cổ, và yêu cầu triều đình Trần thần phục. Điều đó có nghĩa là nhà Trần đã không thần phục từ trước. Điều đó cũng có nghĩa là thanh danh bất khả chiến bại của người Mông Cổ đã bị tan vỡ tại thời điểm này. Nguyên sử, An Nam chí lược và các bộ sử biên niên Việt chỉ viết sơ sài về cuộc chiến năm 1258, nhưng thật ra đây là một bước ngoặt trong lịch sử thế giới, vì đây là bước lùi đầu tiên của quân Mông Cổ tại châu Á và trong chiến dịch chinh phục thế giới của họ. Nó được nối tiếp bằng thất bại được biết đến nhiều hơn của họ trong tay người Mamluk tại Ain Jalut tháng 9 năm 1260” [4].

(Còn tiếp…)

Tĩnh Thuỷ

Chú thích:

[1] Hãn (“khan”, “han”, đôi khi “xan”) trong tiếng Mông Cổ và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là một tước hiệu có nhiều nghĩa, ban đầu có nghĩa là “thủ lĩnh” một bộ tộc. Một Hãn kiểm soát một lãnh thổ gọi là Hãn quốc. Đôi khi cũng có thể dịch là Hoàng đế. Ngày nay các Hãn chủ yếu còn ở Nam và Trung Á. Khắc Hãn (Khagan) nghĩa là Hãn của các Hãn.

[2] Nguyên sử:

Bản tiếng Việt: https://sites.google.com/site/quankhoasu/nguyen-su

Bản tiếng Hán: http://www.guoxue.com/shibu/24shi/yuanshi/yuas_128.htm

[3] “An Nam chí lược” được viết bởi Trần Ích Tắc. Là hoàng thân nhà Trần, nhưng Trần Ích Tắc là một người tham vọng và muốn thay thế ngôi vị của Thánh Tông và Nhân Tông. Khi nhà Nguyên xâm lược đến Đại Việt năm 1285, ông đã dẫn gia quyến xin hàng và được cải phong làm An Nam quốc vương. Tuy nhiên, quân đội nhà Nguyên liên tiếp thất bại khiến Trần Ích Tắc tan vỡ kế hoạch và phải sống lưu vong ở Đại Nguyên. Vì sự phản bội này mà sau này nhà Trần đã loại Ích Tắc ra khỏi tông thất. Ông ta phải cải họ nên gọi thành Lê Tắc.

Nguồn sách:

https://drive.google.com/file/d/104IuZ5O9KmRxXjcg9wFs52uGMzRJHKaw/view

[4] Peter D. Sharrock; Vũ Hồng Liên (2014). Descending Dragon, Rising Tiger: A History of Vietnam (bằng tiếng Anh). Reaktion Book. ISBN 1780233884.



blank

Những tướng lĩnh nổi danh đã thất bại tại Đại Việt (P.2):
Trấn Nam Vương Thoát Hoan chui ống đồng tháo chạy

Bài viết này không phải nhằm mục đích hạ thấp các tướng lĩnh đó, mà chỉ là mượn chút uy danh của họ để nêu bật lên sự huy hoàng của các tướng sĩ nước Nam…

Phần 2: Toghon – Trấn Nam Vương Thoát Hoan (? – 1301)

  • Tên Hán: Thoát Hoan.  
  • Chức vụ: Trấn Nam Vương kiêm tổng chỉ huy quân tiến đánh nhà Trần lần 2 và lần 3 (1285-1288).
  • Bị đánh bại bởi: Trần Nhân Tông và Trần Thánh Tông, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật.
  • Nơi bị đánh bại: Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Bạch Đằng.


Toghon hay Thoát Hoan (chữ Hán: 脫歡, chữ Mông Cổ: ᠲᠣᠭᠠᠨ, Тогоон, Toγan) là hoàng tử con trai thứ 9 của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, vị Hoàng đế lập ra triều đại nhà Nguyên trong lịch sử Trung Quốc.

Là con trai của Hoàng đế lập quốc nhà Nguyên, lẽ ra ông ta sẽ có một cuộc đời với chiến công oanh liệt nếu như không đem quân xuống phương Nam. Phải chăng đây là định mệnh của vị hoàng tử có lẽ là “đen đủi” nhất trong các tướng lãnh cao cấp cầm quân của nhà Nguyên Mông.

Tước phong Trấn Nam Vương nhưng không có chỗ dùng

Năm Chí Nguyên thứ 21 nhà Nguyên, tức năm Thiệu Bảo thứ 6 nhà Trần (1284), Nguyên Thế Tổ chuẩn bị đánh Đại Việt, phong cho Thoát Hoan làm Trấn Nam vương vào ngày 3 tháng 6, sai đóng ở Ngạc Châu.

Tháng 7 năm đó, ông được lệnh đi đánh Chiêm Thành qua đường Đại Việt. Trần Thánh Tông không đồng ý cho mượn đường. Tháng 12, Thoát Hoan dẫn các tướng đi đánh Đại Việt.

Thoát Hoan chiến thắng khá dễ dàng tại Vạn Kiếp và sông Đuống nhưng lại chỉ chiếm được một kinh thành Thăng Long trống rỗng, khiến cho tình hình thiếu lương thực trở nên căng thẳng. Có vẻ như cái chức “Trấn Nam Vương” chỉ là hữu danh vô thực, kinh đô chiếm được chỉ là một cái thành rỗng thì “Trấn” ai đây và làm “Vương” của ai đây?

Để bảo vệ nơi chiếm đóng, ông ta cho dựng 2 căn cứ kề nhau ở Hàm Tử và Chương Dương ngay trên bờ sông Hồng. Thoát Hoan không hề biết rằng, định mệnh trêu ngươi sẽ khiến cho toàn quân của Trấn Nam Vương thảm bại tại chính 2 căn cứ ấy.

“Cầm Hồ Hàm Tử Quan”

Trận Hàm Tử và Tây Kết đã mở màn cho kết cục bi thảm của toàn quân Thoát Hoan.

Lúc đó, Thanh Hóa có cánh quân Toa Đô đóng giữ. Sau một thời gian không bắt được vua Trần, Toa Đô cùng Ô Mã Nhi mang quân trở lại phía bắc để phối hợp với Thoát Hoan.

Trần Nhân Tông sai Trần Nhật Duật làm chánh tướng, Chiêu Thành Vương và Trần Quốc Toản làm phó tướng đi cùng với Nguyễn Khoái mang 5 vạn quân ra bắc đánh quân Nguyên ở Hàm Tử.

Trần Nhật Duật gặp binh thuyền Toa Đô ở bến Hàm Tử, bèn chia quân ra đánh. Hai bên chống nhau ác liệt. Toa Đô thua to.

Sau khi thua, cánh quân Toa Đô đóng ở sông Thiên Mạc tìm cách liên lạc với Thoát Hoan. Biết tin quân Thoát Hoan đã thất bại và rút chạy, Toa Đô bèn lui về Tây Kết (Khoái Châu). Ngày 24 tháng 6 năm 1285, Trần Hưng Đạo trực tiếp chỉ huy quân đánh Toa Đô tại Tây Kết. Toa Đô và Ô Mã Nhi thua, bỏ thuyền đi đường bộ ra phía biển. Trên đường chạy, Toa Đô bị quân Đại Việt bao vây, sau cùng bị tướng Vũ Hải của nhà Trần chém đầu.

blank
Bản đồ cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần 2. (Ảnh wikipedia.org)

“Đoạt sóc Chương Dương Độ”

Ngay sau khi Trần Nhật Duật và Vũ Hải dương uy tại Hàm Tử, Tây Kết không lâu thì trận Chương Dương cũng đi vào lịch sử, vinh danh người anh em của vua Trần là Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Tướng quân Phạm Ngũ Lão.

Trần Nhật Duật sai Trần Quốc Toản về Thanh Hoá báo tin thắng trận. Trần Quốc Tuấn bàn với Trần Nhân Tông quyết định mang toàn quân ra bắc đánh Thoát Hoan để lấy lại Thăng Long. Trần Quang Khải ở Nghệ An mới ra được cử làm chánh tướng, Phạm Ngũ Lão và Trần Quốc Toản làm phó tướng; lại truyền lệnh cho Trần Nhật Duật phải ngăn không cho Toa Đô hợp binh được với Thoát Hoan.

Đại quân Thoát Hoan đóng ở Thăng Long cũng trong tình trạng lương thực sắp cạn, các chiến thuyền đóng ở bến Chương Dương.

Trần Quang Khải tiến ra bắc khá thuận lợi. Quân Trần nhanh chóng diệt nhiều đồn nhỏ của quân Nguyên, kết hợp dụ hàng quân người Hoa bỏ hàng ngũ quân Nguyên. Trong khi đó, Trần Nhật Duật cũng giữ lại một số quân để cầm chân Toa Đô, còn chia một số sang hợp với cánh quân Trần Quang Khải. Nhiều toán quân nhà Trần trước kia bị tản mát, chưa tìm được vào Thanh Hoá, lúc đó gặp quân Trần Quang Khải đã cùng gia nhập nên lực lượng càng mạnh lên. Quân Trần chiếm được nhiều thuyền của địch ở bến đò.

Quân Trần tiếp tục ngược sông Hồng phản công quân Nguyên. Trần Quang Khải cùng Phạm Ngũ Lão và Trần Quốc Toản đã tấn công quân Nguyên ở Chương Dương (huyện Thường Tín). Quân Nguyên thường thấy quân Trần bị thua, khi đó thấy quân Trần đánh mạnh nên bị bất ngờ, tan tác bỏ chạy. Phần lớn các chiến thuyền quân Nguyên bị quân Trần đốt cháy hoặc chiếm.

Đào thoát khỏi Thăng Long

Sau các trận phản công thắng lợi trên sông Hồng, quân Trần quyết định tấn công giải phóng kinh thành Thăng Long. Lực lượng tham gia gồm các đơn vị thủy bộ chủ lực do Trần Quang Khải chỉ huy. Các đơn vị dân binh các địa phương lân cận do Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp và Nguyễn Truyền chỉ huy. Sau khi đánh bại đơn vị quân Nguyên ngoài thành do Mã Vinh chỉ huy, quân Trần bắt đầu bao vây và công thành.

Tài liệu thời Nguyên chép rằng: “Thủy lục đến đánh đại doanh, vây thành mấy vòng, tuy chết nhiều nhưng quân tăng thêm càng trở nên đông, quan quân sớm tối đánh rất khốn đốn, thiếu thốn, khí giới đều hết”, và: “Người Giao chống đánh quan quân, tuy mấy lần thua tan, nhưng quân tăng càng đông, quan quân mỏi mệt, tử thương cũng nhiều, quân mã Mông Cổ không thể nào thi thố tài năng được” [1].

Trước sức tấn công mạnh mẽ và bền bỉ của quân Trần, quân Nguyên phải rút chạy khỏi thành Thăng Long về đóng ở bờ Bắc sông Hồng (khoảng Gia Lâm ngày nay). Tại đây, đồn trại của quân Nguyên vẫn liên tục bị tấn công.

Toàn quân tan tác, kẻ còn người mất

Ngày 10 tháng 6 năm 1285, Trần Quốc Tuấn và Hưng Ninh vương Trần Tung dẫn hơn 2 vạn quân tấn công quân Nguyên ở bờ bắc sông Hồng. Quân Nguyên cử Lưu Thế Anh dẫn quân ra đối phó, nhưng đại bại. Quân Nguyên rút chạy về phía bắc.

Khi rút chạy đến sông Như Nguyệt (sông Cầu), quân Nguyên bị đơn vị của Trần Quốc Toản chặn đánh. Quân Nguyên thua, không sang sông được, phải chạy về phía Vạn Kiếp.

Chạy đến sông Sách (tức đoạn sông Thương chảy qua Vạn Kiếp), quân Nguyên bắc cầu phao định vượt sông, nhưng bị quân Trần do Trần Quốc Tuấn chỉ huy ập vào đánh. Lý Hằng đẩy lui được mũi quân Trần tấn công vào lưng quân Nguyên, chém được tướng Đại Việt là Trần Thiệu. Nhưng một mũi quân Trần khác lại đánh vào sườn đội hình quân Nguyên đang vượt cầu phao. Quân Nguyên xô nhau chạy, cầu phao đứt, nhiều binh sĩ bị chết đuối.

Sau khi vượt qua sông Sách, quân Nguyên chạy về hướng Tư Minh. Lý Hằng được cử chặn hậu, đề phòng quân Trần truy kích. Đến Vĩnh Bình, quân Nguyên lại bị quân Trần do Trần Quốc Hiến (Trần Quốc Nghiễn) chỉ huy chặn đánh. Lý Hằng bị trúng tên độc. Tương truyền, quân Nguyên phải giấu Thoát Hoan trong ống đồng để chạy trốn. Khi về đến Tư Minh, Lý Hằng ngấm thuốc độc chết, thọ 50 tuổi.

blank
Tương truyền, quân Nguyên phải giấu Thoát Hoan trong ống đồng để chạy trốn. (Ảnh: vietlist.us)

Mộng xâm lăng chưa dứt, định mệnh thất bại lần cuối

Sau thất bại nặng nề năm 1285, sự kiêu hãnh của Đế quốc Nguyên Mông vô địch không cho phép Hốt Tất Liệt bỏ qua cho nhà Trần. Sự đen đủi một lần nữa không buông tha cho Thoát Hoan khi ông ta lại được chỉ định làm tổng chỉ huy của cuộc xâm lăng lần này.

Trong khi đó, đối thủ ở bên kia biên giới dường như chẳng coi việc xâm lăng này là một mối đe dọa gì lớn lắm.

Tháng 6 âm lịch, vua Trần Nhân Tông xuống chiếu cho vương hầu, tôn thất chiêu mộ binh sĩ. Nhà vua hỏi Hưng Đạo vương:

– Thế giặc năm nay thế nào?

Trần Quốc Tuấn trả lời:

– Nước ta thái bình lâu ngày, dân không biết việc binh. Cho nên, năm trước quân Nguyên vào cướp, thì có kẻ đầu hàng trốn chạy. Nhờ uy tín của tổ tông và thần võ của bệ hạ, nên quét sạch được bụi Hồ. Nay nếu nó lại sang thì quân ta đã quen việc chiến trận, mà quân nó thì sợ phải đi xa. Vả lại, chúng còn nơm nớp cái thất bại của Hằng, Quán không còn chí chiến đấu. Theo như thần thấy, phá được chúng là điều chắc chắn”.

Mất lương Vân Đồn, toàn quân nao núng

Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp vốn được giao cầm quân thuỷ mở đường cho đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, Phí Củng Thìn theo sau. Sau khi đánh lui được quân Trần, Ô Mã Nhi cho rằng thế quân Trần yếu không đáng lo, bèn tiến sâu vào nội địa để hội binh với Thoát Hoan và truy đuổi vua Trần.

Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được giao trấn giữ đường biển nhưng đánh thua, đành để quân Nguyên đi qua. Khi vua hỏi tội, Khánh Dư xin khất vài ngày để chuộc tội.

Đầu năm 1288, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ kéo đến Vân Đồn, bị quân Trần Khánh Dư tập kích. Không có quân chủ lực bảo vệ, quân của Trương Văn Hổ mau chóng bị tiêu diệt. Văn Hổ cố gắng kéo vào đất liền nhưng đến Lục Thuỷ thì thuyền quân Trần đổ ra đánh càng đông. Hổ đại bại, đổ cả thóc xuống biển vì không muốn lọt vào tay quân Trần, rồi bỏ chạy về Quỳnh Châu.

blank
Cảnh trận hải chiến ở Vân Đồn. (Ảnh minh họa: zing.vn )

Thuyền lương của Phí Củng Thìn kéo theo sau, mới đến Huệ Châu đã gặp bão, trôi giạt tới Quỳnh Châu. Đoàn thuyền lương do Từ Khánh chỉ huy thì đi lạc tới Chiêm Thành rồi quay trở lại Quảng Đông. Như vậy, các thuyền lương của quân Nguyên mất hoàn toàn. Thế là kết cục thê thảm đã chờ đợi sẵn Thoát Hoan và đoàn quân xấu số kia ở Thăng Long vậy.

Bị vây ở Vạn Kiếp, phải rút quân gấp

Thoát Hoan vây đánh Thăng Long, chờ mãi không thấy thuyền lương của Trương Văn Hổ tới, bèn sai Ô Mã Nhi đi đón. Ô Mã Nhi khi đi tìm đoàn thuyền lương đã bị tập kích ở cửa Văn Úc (ngày 10 tháng 2 năm 1288) và trên biển gần Tháp Sơn, bị thiệt hại nặng mà vẫn không thấy Trương Văn Hổ đâu, đành quay về Vạn Kiếp.

Ở Thăng Long không có lương thực, Thoát Hoan lúng túng. Đã vậy, quân Đại Việt đã phản công mạnh mẽ và kiểm soát vùng Hải Dương và Hải Phòng, đẩy Thoát Hoan vào nguy cơ bị cắt đường về Vạn Kiếp. Trước tình hình như vậy, Thoát Hoan rút quân khỏi Thăng Long quay về Vạn Kiếp, sai Abaci đi tiên phong mở đường.

Nguyên sử [2] chép rằng quân Nguyên bị dịch bệnh rất nhiều, không thể tiếp tục tiến binh nên phải lui trở lại.

Tại Vạn Kiếp, quân Nguyên cố thủ trong các thành gỗ nhưng thường xuyên bị quân Đại Việt tập kích vào ban đêm. Tình hình thiếu lương thực càng ngày càng trầm trọng. Thoát Hoan quyết định rút quân khỏi Đại Việt. Lúc đó là vào khoảng cuối tháng 3 năm 1288, tức là chỉ 3 tháng sau khi tiến quân vào Đại Việt. Quân Nguyên chia làm 2 ngả rút về, một ngả của thủy quân do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy. Một ngả của bộ binh do Thoát Hoan chỉ huy.

Trận Bạch Đằng chôn vùi uy danh Trấn Nam Vương

Để bảo vệ cho thủy quân rút lui, Trình Bằng Phi và Tacu được Thoát Hoan phái đi hộ tống, nhưng bị chặn đánh liên tục phải quay về Vạn Kiếp đi cùng đại quân bộ. Đoàn thuyền của Ô Mã Nhi không có bộ binh bảo vệ đã bị chặn đánh liên tục, mãi tới ngày 8 tháng 4 năm 1288 mới tiến tới Trúc Động định vào sông Giá. Tuy nhiên, quân Đại Việt đã ngăn được quân Nguyên vào sông Giá, khiến Ô Mã Nhi phải tiến vào sông Bạch Đằng.

Tại đây, quân Đại Việt bố trí một trận địa cọc ngầm. Một lực lượng lớn bộ binh Đại Việt lại trú tại Tràng Kênh chờ đánh vào sườn phải quân Nguyên khi họ vào sông Bạch Đằng, còn một lực lượng lớn nữa trú tại khu rừng bên tả ngạn sông sẽ đánh vào sườn trái đối phương. Thủy quân Đại Việt thì ẩn náu trên các sông khác thông với sông Bạch Đằng.

Sáng ngày 9 tháng 4 năm 1288, thủy quân Nguyên tiến vào sông Bạch Đằng, thấy thủy quân Việt liền đuổi đánh, song va phải các cọc ngầm và bị chặn lại. Quân Đại Việt từ khắp các hướng đổ ra đánh. Đích thân vua Trần và Trần Hưng Đạo cầm quân tham chiến. Quân Đại Việt đã bắn rất nhiều mũi tên vào quân Nguyên. Thủy triều rút làm cho số thuyền bị cọc nhọn làm vỡ càng tăng. Đến chiều, toàn bộ cánh quân thủy của quân Nguyên bị tiêu diệt. Tướng Trần là Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ. Phàn Tiếp bị thương, nhảy xuống nước, bị quân Trần dùng câu liêm móc lên, bắt sống. Siragi và Lý Thiên Hựu cũng bị bắt sống. Quân Nguyên bị chết rất nhiều, hơn 400 chiến thuyền lọt vào tay quân Trần. Gần như toàn bộ thuỷ quân Nguyên bị tiêu diệt.

blank
Trận Bạch Đằng chôn vùi uy danh Trấn Nam Vương. (Ảnh minh họa: zing.vn)

Cả đời không được gặp mặt cha nữa

Hai lần thất trận nặng ở Đại Việt của Thoát Hoan khiến Nguyên Thế Tổ giận dữ. Năm Chí Nguyên thứ 28 (1291), ngày 16 tháng 2, Thoát Hoan được lệnh tới Dương Châu trấn thủ. Từ đó, ông không được về kinh đô chầu Thế Tổ Hoàng đế cho tới khi chết.

Khoảng niên hiệu Đại Đức thứ 5 (1301), Trấn Nam vương Thoát Hoan qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi.

(Còn tiếp…)

Tĩnh Thuỷ

Chú thích:

[1] Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972) trích dẫn Kinh tế đại điển tự lục và Nguyên sử quyển 209.

[2] Nguyên sử:

Bản tiếng Việt: https://sites.google.com/site/quankhoasu/nguyen-su

Bản tiếng Hán: http://www.guoxue.com/shibu/24shi/yuanshi/yuas_128.htm



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Giới tiến hóa đã cố gắng làm bất cứ cái gì có thể, kể cả việc tạo dựng bằng chứng giả nhằm lừa đảo về tiến hóa, cốt chứng minh thuyết tiến hóa là một khoa học thực sự. Nhưng họ khó mà che đậy được các sự kiện lịch sử và xã hội phơi bày tác hại của học thuyết Darwin đối với xã hội loài người, đặc biệt trong thế kỷ 20 và hiện nay. Đó là một trong những lý do chủ yếu giải thích vì sao đạo đức xã hội đã và đang ngày càng xuống cấp…
Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông. Trung (中) là ở giữa. Nguyên (原) là cánh đồng. Cho nên chữ Trung Nguyên chỉ có nghĩa là cánh đồng giữa hai dòng sông.
ĐI GIA ĐỊNH ĐỂ NGHỊ HÒA VÀO NĂM NHÂM TUẤT (1862) Đại Nam thực lục ghi chép về việc nghị hòa năm Nhâm Tuất (1862) Tháng tư năm Nhâm Tuất (1862) “Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phô Na sai Xuy Mông (1) chạy tàu máy vào cửa biển Thuận An để đưa thư bàn về việc hòa. Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành đem việc tâu lên…”; “Khi ấy Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp (2) xin đi.
- Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn - Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam Lời mở Văn hoá của một dân tộc là kết tinh của nhiều nền văn hoá trong suốt dòng lịch sử của dân tộc đó. Rồi khi nhiều người đón nhận những giá trị mới qua cuộc hội nhập văn hoá, họ lại tạo nên một nền văn hoá mới để truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ đó, mỗi người chúng ta, tuỳ theo các hoàn cảnh và môi trường, hình thành nên các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho chính bản thân mình.
Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nơi đây vẫn giữ nguyên được những giá trị truyền thống và là điểm đến hấp dẫn nhiều du khách.
Hà Nội có một tòa tháp rất đặc biệt: Không đồ sộ nguy nga nhưng vĩ đại, không lộng lẫy lầu tía gác son nhưng vang bóng một thời, không cổ kính rêu phong nhưng là chứng tích cho một thời kỳ đầy rối ren biến động. Tòa tháp ấy dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng mang trong mình hoài bão thật lớn lao: Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Độc Tôn bên hồ Hoàn Kiếm. Chỉ là một tòa tháp bằng đá 5 tầng, cao không hẳn là cao, mà thấp cũng không hẳn là thấp, trên bề mặt cũng chẳng có lấy một họa tiết cầu kỳ. Nhưng nội hàm và giá trị bên trong lại vô cùng vĩ đại. Ấy là khi ta cùng nhìn lại bối cảnh lịch sử ra đời của Bút Tháp. Bối cảnh lịch sử Tháp Bút được cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1864. Đó là sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta, triều đình nhà Nguyễn lúng túng lựa chọn giữa việc cải cách toàn diện đất nước hay cố thủ vào các giá trị đã lỗi thời. Những thập niên ấy uy thế của cố đô Thăng Long bị hạ thấp, còn văn hóa xã hội thì sa sút đến mức báo động. Nhi
KHI LÊN NGÔI, HOÀNG ĐẾ MINH MẠNG BAN ÂN 16 ĐIỀU Đọc chiếu lên ngôi của vua Minh Mạng ta thấy vua lên ngôi đã ban ân gồm 16 điều: 1. Nhân dân, ai thiếu tiền thuế sản vật từ năm Gia Long thứ 18 (1819) trở về trước đều không phải đóng nữa
Võ Hương An - Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Người mẹ của các bậc vĩ nhân (Kỳ 3): Mẹ của Thánh Ghandi – Người phụ nữ với đức tin đã dưỡng nên một ‘linh hồn vĩ đại’ - “Đằng sau mỗi người đàn ông thành đạt đều có bóng dáng một người phụ nữ”, người ta vẫn luôn nói thế để đề cao vai trò của người vợ đối với thành công của nam giới. Đúng vậy, nhưng ít ai để ý rằng trước khi người phụ nữ ấy đến với cuộc đời anh ta thì đã có một người phụ nữ khác sinh thành, nuôi dưỡng, dạy bảo cho anh ta từ những bước đi đầu đời, người gieo những hạt giống tâm hồn đầu tiên vào đầu óc thơ trẻ của anh ta, chăm lo tưới bón cho nó bằng tình yêu thương để sau này nó lớn thành đại thụ.
(Bài viết nhân ngày sinh của Phan Châu Trinh, 9/9/1872 – 9/9/2018) Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một trong những nhân vật lịch sử điển hình của thế kỷ 19, 20. Ông là một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng, và một nhà cách mạng. Sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh đất nước bị đô hộ bởi thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, ông đã trăn trở về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Không giống như con đường của bao chí sĩ khác, con đường của ông rất đỗi khác biệt, thể hiện tầm nhìn lớn lao và chứa đựng nhiều thách thức.
Bảo Trợ