Trúc Thanh Với Bản Tình Ca Xô-nát

26 Tháng Mười 20184:00 CH(Xem: 397)

TRÚC THANH VỚI BẢN TÌNH CA XÔ-NÁT

                                                    
PHẠM NGỌC THÁI

 blank
            Nhà thơ Trúc Thanh
 

     Trúc Thanh có không ít những tình thơ tâm huyết, có thể làm rung cảm trái tim đời. Trong số những bài tôi thích ở thơ em: “Mong manh” là một áng thi huyền ảo và thật xúc động.

     Tình thi nói về sự đa sầu, đa cảm của một cô thôn nữ, gửi niềm tâm tư tới người yêu tận phương trời. Em muốn tin mà chưa dám tin ? Em yêu… lại sợ tình yêu rồi sẽ tan ? vào một đêm trường, lòng em cồn cào tha thiết mà thổ lộ. Ta hãy nghe Trúc Thanh mở đầu trang thơ:

                   Đời sập tối mây che vầng tinh tú

                   Có cơn sầu gầm rú giữa đêm đen

     Đêm của thời gian cũng là đêm cuộc đời - Cái khoảng không gian “đời sập tối…” - Bóng đêm ấy đang bao trùm lên em với một nỗi buồn tràn ngập. Ta muốn hỏi: vì sao lòng em lại đến mức tối tăm đến vậy ? Ta không rõ và cũng không thể trả lời. Chỉ biết rằng, cả tâm hồn và trí não em là một “cơn sầu gầm rú…” với nỗi đau vô tận.

     Nhưng trong cái đêm tối cuộc đời ấy lại có ngọn lửa tình mới đang le lói, nhen lên ! Đó là mối tình của em với một chàng từ miền xa xôi nào đó ? Trái tim em khao khát, đợi chờ:

Em lặng im thắp nỗi nhớ làm đèn

Tình cậy cửa tim, hoen mờ lý trí…

 

     Tình yêu chàng tràn vào soi sáng cái “đêm đen” của đời em. Người thôn nữ bàng hoàng nghe “tình cậy cửa tim” mình - Có lẽ, vì từng chịu đựng một cuộc tình duyên đau đớn ? nên em sợ. Em không dám… hay không còn muốn yêu nữa chăng ? nhưng rồi lý trí cũng phải “hoen mờ…”  lùi bước,trước tiếng gọi mãnh liệt của trái tim em đang bùng cháy.

     Hình ảnh tượng trưng của hai câu thơ rất hay: Em lặng im thắp nỗi nhớ làm đèn / Tình cậy cửa tim, hoen mờ lý trí…/ - Đây là hình tượng theo thi pháp dòng thơ tượng trưng châu Âu nửa cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX - Theo thuyết “tương ứng cảm quan” do Charles Baudelaire (1821- 1867), thi nhân thuộc bậc thầy của văn học hiện đại Pháp thời đó khởi xướng. Ông từng định nghĩa về thuyết “tương ứng cảm quan” như sau:

          Thiên nhiên là một ngôi đền mà trong đó

                                                     những cột sinh linh

          Thỉnh thoảng phát ra những ngôn ngữ mơ hồ

          Con người đi trong thiên nhiên

                                            qua những rừng biểu tượng

          … Hương thơm, màu sắc và thanh âm tương ứng

     Nghĩa là: giữa vật này với vật khác, giữa con người – cuộc sống với thiên nhiên, đều có thể thay thế nhau bằng hình tượng. Phản ảnh một cách tương ứng, nhưng dựa vào cảm thụ được phát ra từ các giác quan (gọi là cảm quan), hay từ trong tâm linh. Cho nên thỉnh thoảng ngôn ngữ mơ hồ…

phamngocthai


  Có thể nàng thi sĩ Trúc Thanh của chúng ta, chưa được biết về trường phái dòng thơ tượng trưng hiện đại châu Âu này ? song do quá trình đọc và cảm thụ thi ca thế giới – Những sáng tác gần đây, có một số bài em đã ảnh hưởng khá sâu đậm thi pháp của dòng thơ tượng trưng “tương ứng cảm quan” ấy.

     
Trở lại với hai câu thơ trên của Trúc Thanh – Đó là ngọn đèn của tình yêu thắp sáng những đêm đêm, lòng em thổn thức. Tiếng gọi của trái tim còn mạnh hơn lý trí ! Đó là nguồn sống, niềm tin và hy vọng… giúp em vượt qua những buồn tủi cuộc đời, đang phải gánh chịu kia.

     Tôi phân tích đoạn thơ tiếp theo:

Đêm ảo ảnh gối đầu lên mộng mị

Dệt yêu thương kỳ vĩ chốn mơ hồ

Mai cuộc đời có cành trúc ngây ngô

Đứng xõa tóc bên nấm mồ kỷ niệm

    Thơ đưa ta đi tới miền kí ức của một viễn cảnh xa - Phải chăng như người thiếu nữ hoài cảm theo bóng người yêu, trong bài thơ “Hai sắc hoa ti- gôn” của T.T.KH đã viết:

                   Từ đấy thu rồi thu lại thu

                   Lòng tôi còn giá đến bao giờ

                   ……..

                   Mà từng thu chết, từng thu chết

                   Vẫn giấu trong tim bóng một người

  

   Hoặc là Trúc Thanh muốn nói về cảnh một mai đây… như nữ sĩ Mai Đình – Khi bà đã bước vào tuổi tám mươi, nhưng mối tình với thi nhân Hàn Mặc Tử trong bà vẫn:

                   Tóc trắng, tình xanh mộng chửa tàn

                                                        (thơ Mai Đình)

     Bà đã đến Gành Ráng, Qui Nhơn một lần nữa để thăm mộ cố nhân. Một lần nữa, những giòng lệ tiếc thương lại chảy tràn trên đôi mắt bà như thưở còn con gái.

     Trong bài thơ “Mong manh” - Trúc Thanh cũng đã nghĩ đến cái ngày ấy, khi nàng đến bên mộ của người tình xưa và:

                   Đứng xõa tóc bên nấm mồ kỷ niệm

     Tên em là Trúc Thanh, nên em mượn bóng cây trúc rũ xuống như mái tóc để ví về mình. Hình ảnh “cành trúc ngây ngô…” - Cũng có nghĩa là sự thẫn thờ, thao thiết ở trong em, qua bao tháng ngày sống trong niềm khát vọng, đắm đuối với tình nhân:

                   Đêm ảo ảnh gối đầu lên mộng mị

     Đoạn thơ được đan dệt giữa tình yêu trong thực tại và hoài cảm về xa xăm. Nó tích tụ lại trong một câu thơ, thổ lộ nỗi lòng thầm kín của em:

                   Dệt yêu thương kỳ vĩ chốn mơ hồ

 

     Cũng với thi pháp thể hiện giữa thực tại và viễn cảnh, trong tâm thức người thôn nữ đang yêu – Trúc Thanh viết tiếp đoạn ba:

                     Nay tháng mấy lá vàng lưa thưa điểm

Bóng thời gian phủ tím chốn đợi chờ

      Phải chăng cái mùa lá vàng vẫn còn thưa thớt rụng, chính là vào cuối mùa thu ? Lòng người thôn nữ ngơ ngác hỏi. Nếu cảnh đêm tối ở khúc thơ đầu, ngoài (nghĩa đen) nói về trời đất – còn để phản ánh đến sự u sầu, buồn thảm đang sập xuống cuộc đời em (nghĩa bóng). Nhưng cảnh trí lá vàng rơi lác đác của thiên nhiên trong đoạn thơ này, chỉ thuần túy khắc họa lên khoảng không gian, thời gian bao quát tình thơ… có hình hài em trong đó: Bóng thời gian phủ tím chốn đợi chờ /- Nghĩa là, năm tháng lòng nàng vẫn son sắt, thủy chung, mặc cho giòng lệ chảy:  

Mai anh về em gửi tặng bài thơ

Có giọt lệ thấm mờ đi một nửa

     Em khắc khoải chờ mong ngày người yêu trở về. Ôi ! Đọc những lời thơ tha thiết ấy, ta bỗng nhớ tới hình bóng chinh phụ trong “Chinh phụ ngâm”, thổn thức ngóng trông người chinh phu ở nơi phương trời xa:

                   Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt

                   Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây

 

    Tôi bình sang đoạn thứ tư:

 Xin đừng gió thổi tình không điểm tựa

Xin đừng mưa gội rửa mấy câu thề

Xin cuộc đời dừng lại cảnh nhiêu khê

Cho anh khỏi bộn bề trăm phương gió

     Thi nhân Nguyễn Bính từng cảm thán rằng:

                   Gió mưa là bệnh của trời

                   Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

     Trúc Thanh thì viết:

                   Xin đừng gió….

                   Xin đừng mưa…

     “cuộc tình không điểm tựa” kia chính là một cuộc tình sấm sét, choáng ngợp tâm hồn em. Tình yêu ào ạt đến… làm trái tim em thổn thức mà run rẩy…Em bàng hoàng đón nhận rồi tha thiết yêu ! Bởi vậy, lòng em thảng thốt lo âu khi nghĩ đến một mai… tình yêu có thể sẽ lại tan ? Hình ảnh “gió và mưa” trong bài thơ của Trúc Thanh là biểu tượng về thiên thai… để em cầu nguyện, mong trời đất phù hộ cho cuộc tình của em được vững bền – giông tố đừng thổi mạnh cho mối tình của em với chàng khỏi tan !? Mưa bão cũng đừng xả xuống cuốn trôi đi, những lời hứa của chàng đã từng thề non, hẹn biển cùng em !? Em cầu mong những cảnh đời vẫn thường ngang trái, đừng phá mất cuộc tình em tha thiết !? Đó là tiếng nói từ trong tâm linh và trái tim nàng thi sĩ Trúc Thanh vọt trào ra, làm cho bài thơ đậm thêm màu sắc của một bản tình ca xô-nát.

  

     Tôi nhấn mạnh, phân tích về câu thứ tư của đoạn - Cái nỗi lòng chênh vênh, so đo, lo sợ anh sẽ thay lòng, đổi dạ ? Chính là hình ảnh câu:

 Cho anh khỏi bộn bề trăm phương gió

      Trong đôi bài thơ khác, Trúc Thanh cũng đã từng thổ lộ tâm trạng này. Thí dụ:

 Em có buồn... Một chút xíu so đo

Lòng anh sâu nên em dò chẳng được

Người ta đẹp, người hương trời sắc nước

Em quê mùa chẳng gương lược phấn son

     Và nàng tưởng tượng:

 Em có buồn... Anh an ủi người ta

Trong vai phụ em là người thay thế

Nhiều đêm thức một mình em nuốt lệ

Hứa không buồn có dễ chút nào đâu

                      (Em có buồn… nhưng…)

 

    Vậy là “trăm phương gió” ở đây là trăm phương gió “tình” ? Em mong đời dừng lại những “cảnh nhiêu khê” quyến rũ tình trai gái đó… mà cám dỗ anh của nàng ? để anh khỏi rối lòng, ngả nghiêng theo gái này, gái khác… cuộc tình này, tình nọ… rồi bỏ rơi nàng - Đây là nỗi lo thường tình của người con gái đang yêu !

     Tôi bình vào đoạn cuối:

 Nếu còn lại một niềm tin bé nhỏ

Em tin đời vì đời đó có anh

Nếu tình yêu còn nửa cuối chân thành

Em ấp ủ dù mong manh ấp ủ

     Nếu như vào đầu bài thơ, Trúc Thanh đã cảm thán về sự đời đen bạc của mình:

 Đời sập tối mây che vầng tinh tú

Có cơn sầu gầm rú giữa đêm đen

     Thì giờ đây, tình yêu đã thắp sáng lên ngọn lửa trái tim em - và, niềm tin vào cuộc đời đã đến với em: Em tin đời vì đời đó có anh /- Tình yêu thương của anh là linh hồn trong cuộc đời em, để dẫn dắt em bước tiếp đi đến ngày mai rộng mở, thênh thang. Niềm hạnh phúc chứa chan ấy, còn được Trúc Thanh thổ lộ ở một số các bài thơ khác:

 Ta gặp nhau khi nắng chiều ngả bóng

Anh luống tuổi đời và tóc chẳng còn xanh

Tình muộn màng nhưng đẹp đúng không anh

Em sẽ thủy chung dù không thành chồng - vợ

     Hay là:

 Em quá yêu anh chứ tim nào bất cẩn

Tình đã trưởng thành trao nhận có sao đâu

Hạt bụi thời gian phủ tuyết trắng trên đầu

Tình yêu muộn là tình sâu... Anh nhỉ!

                           (Thương muộn)

  

     Còn trong bài “Sông thơ”, tình yêu ấy đã nâng bổng tâm hồn em bay cao, hướng về phía chân trời khát vọng

Cởi não phiền nhân sinh,

     ta khỏa thân dưới dòng sông thơ tắm gội

Thơ quyện hồn con sóng cũng liêu trai

Một phút trải lòng địa ngục hóa thiên thai

Tâm hồn ta chẳng có hình dung,

 khoác áo thi ca bỗng lầu đài hiển hiện

     Không có sức mạnh nào lớn hơn sức mạnh của tình yêu ! Như em nói: Tình yêu đã biến cuộc đời từ địa ngục hóa thiên thai… Em sẽ lại khỏa thân dưới bầu trời trong xanh hạnh phúc với tình anh, mà tắm gội thỏa thuê… Em sẽ mãi mãi tôn thờ, nâng niu tình yêu anh đã dành cho cuộc đời em:   

Em ấp ủ dù mong manh ấp ủ

     Người thôn nữ của chúng ta đã kết bài thơ “Mong manh” này ở đó - và từ trong trái tim nàng, cất vọng lên một bản tình ca xô-nát !

 

   MONG MANH

 

Đời sập tối mây che vầng tinh tú

Có cơn sầu gầm rú giữa đêm đen

Em lặng im thắp nỗi nhớ làm đèn

Tình cậy cửa tim, hoen mờ lý trí…

 

Đêm ảo ảnh gối đầu lên mộng mị

Dệt yêu thương kỳ vĩ chốn mơ hồ

Mai cuộc đời có cành trúc ngây ngô

Đứng xõa tóc bên nấm mồ kỷ niệm

 

Nay tháng mấy lá vàng lưa thưa điểm

Bóng thời gian phủ tím chốn đợi chờ

Mai anh về em gửi tặng bài thơ

Có giọt lệ thấm mờ đi một nửa

 

Xin đừng gió thổi tình không điểm tựa

Xin đừng mưa gội rửa mấy câu thề

Xin cuộc đời dừng lại cảnh nhiêu khê

Cho anh khỏi bộn bề trăm phương gió

 

Nếu còn lại một niềm tin bé nhỏ

Em tin đời vì đời đó có anh

Nếu tình yêu còn nửa cuối chân thành

Em ấp ủ dù mong manh ấp ủ

                       thơ TRÚC THANH

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Maria cảm thấy vui trong lòng với cuộc đời mới, chẳng phải niềm vui như bao cô gái xuân thì khác, khi đến tuổi lấy chồng tạo dựng được một gia đình riêng cho mình. Nàng vui vì từ đây ý định thực sự dâng mình cho Thiên Chúa đã trọn vẹn. Nàng cũng cảm thấy vui vì người chồng của nàng, Giuse cũng đã có cùng ước nguyện.
Miền Tây quê tôi đâu đâu cũng có dáng của những cây gòn. Gòn mọc ở hàng rào, gòn hiện diện đâu đó xen lẫn giữa những vườn cây trái. Gòn còn ban tặng cho người dân quê một đặc sản ngọt lành: mủ gòn. Thật là tuyệt vời nếu giữa những ngày hè oi bức mà được thưởng thức một ly mủ gòn ướp đá nhuyễn cho thêm một ít đường cát, ngon "bá chấy bồ chét" luôn.
Từ thời dựng nước dân tộc Việt Nam luôn luôn có truyền thống chiến đấu chống ngoaị xâm dành độc lập bảo vệ quê hương, trong quá trình đó người phụ nữ cũng đã đóng góp rất đáng kể, tiêu biểu là cuộc khởi nghiã của Hai Bà Trưng (40-30 trước CN) và Bà Triệu (năm 248) với những chiến tích oai hùng trong lịch sử Việt Nam. Những thế hệ kế tiếp các bậc nữ lưu cũng giúp việc nước, lo việc nhà và đã đóng góp cho lâu đài văn hóa dân tộc như các các nhà thơ nổi tiếng: Đoàn Thị Điểm dịch giả Chinh Phụ Ngâm khúc của Đặng Trần Côn, Ngọc Hân công chúa với Ai Tư vãn. Lưu thị Hiền (bà Phủ Ba) Ngô Chi Lan Ỷ Lan Phu nhân, Huyện Thanh Quan, Sương Nguyệt Ánh…, trong đó nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở thế kỷ thứ 18 nổi tiếng là Bà Chúa Thơ Nôm [1]
Bà tôi mất khi tôi mới lên 10. Ngày ấy trẻ trâu, tôi chẳng hiểu nhiều về sự đời, lại còn sợ khi ở gần người mới qua đời. Bố mẹ bảo trẻ con biết cái gì, ở nhà lo coi nhà, học hành đi. Ngày ấy cũng muốn đến thăm bà lắm. Ngày bà mất, tôi cứ nghĩ đến bà suốt, cả đêm không ngủ được. Chỉ vì muốn đến nhìn bà lần cuối. Vậy mà tôi cứ sợ. Đến sau này, mỗi lần gặp những bà cụ, ông cụ chạc tuổi bà tôi khi trước, mỗi khi thấy bạn bè kể về những người bà, người ông của mình, tôi mới thấy đời mình thiếu cái gì đó. Bà cứ khó khó thế nào ấy, và tôi cảm thấy khó gần bà ghê gớm. Bà hay chép miệng, hay thở dài và đôi khi khó tính.
Trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân của Khái Hưng, trước giây phút từ trần, cụ Tú Lãm thì thầm dặn dò hai con của mình là Mai và Huy: “Lẽ tất nhiên, ai cũng phải chết. Các con không nên buồn. Lúc nào cũng phải vui thì mới đủ can đảm, đủ nghị lực mà sống ở đời. Hai con nên theo gương cha.
Để chuẩn bị đón Tết cho thật “đàng hoàng,” mẹ tôi cũng như những người phụ nữ lãnh đạo gia đình khác đều phải đi chợ Tết. Đi chợ Tết như là một thủ tục đầu tiên để đón ông bà, đưa ông Táo nghinh Xuân cho thật chu đáo.
Một năm bốn mùa Tạo Hoá tặng ban cho nhân loại, mùa nào cũng có những dấu ấn riêng và đặc trưng của nó. Đông có cái lạnh và xơ xác khiến con tim ta ngậm ngùi. Thu có cơn gió êm đềm nhẹ nhàng giỡn chơi cùng mặt hồ lăn tăn cùng chiếc lá. Hạ có bầu trời xanh trong vắt thanh cao. Còn xuân thì luôn gợi lên trong ta cái gì đó vừa nhẹ nhàng, vừa tươi vui, vừa ấm cúng.
Đến năm mười ba, tôi mới biết dành dụm những đồng tiền mừng tuổi cho một hy vọng mà, hôm nay, hy vọng đó, tôi gọi là một hạnh phúc. Hạnh phúc của tôi thường được tôi nhìn lại. Nhìn lại từ đoạn đầu đời tăm tối nhất, hồn nhiên nhất. Tôi không tin, không bao giờ tin nữa, thứ hạnh phúc người ta tưởng rằng tôi đang nắm chặt hay thứ hạnh phúc tôi còn mơ ước khi tôi bị đẩy xuống vực thẳm của phiền muộn.
Bên cạnh ca khúc « Ly rượu mừng » ( mà đến đầu năm 2016 mới được cho phép hát ở Việt Nam ! ), cứ mỗi Tết đến, những ca khúc quen thuộc của mùa Xuân lại rộn ràng cất lên trong các chương trình văn nghệ mừng năm mới. Đại đa số các sáng tác bất hủ về chủ đề Xuân đều là những bài hát có từ trước năm 1975. Trước thềm năm mới Kỷ Hợi, hôm nay chúng tôi xin mời quý vị điểm qua một số bản nhạc Xuân tiêu biểu, với sự tham gia của giáo sư – nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris.
Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này Phạm Quỳnh viết bằng tiếng Pháp nhan đề Psychologie du Tet, đăng trên phần Pháp văn của Tạp chí Nam Phong số 149-1924, sau này có in trong Tiểu luận 1922-1932 (Essais 1922-1932) và đã được nhà văn Nguyên Ngọc dịch rất đạt ra tiếng ta, xuất bản năm 2007. Nhưng ở đây, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc bản dịch của Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, và là tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong để tạo thêm một nét hứng thú trong ngày Tết này.
Bảo Trợ