Vua Minh Mạng Đăng Quang, Ban Ân 16 Điều

26 Tháng Mười 20182:11 SA(Xem: 260)

VUA MINH MẠNG ĐĂNG QUANG, BAN ÂN 16 ĐIỀU

blank
Hoàng đế Minh Mạng.

KHI LÊN NGÔI, HOÀNG ĐẾ MINH MẠNG BAN ÂN 16 ĐIỀU

Đọc chiếu lên ngôi của vua Minh Mạng ta thấy vua lên ngôi đã ban ân gồm 16 điều:

1. Nhân dân, ai thiếu tiền thuế sản vật từ năm Gia Long thứ 18 (1819) trở về trước đều không phải đóng nữa

2. Miễn toàn bộ tiền, thóc các loại thuế đinh, thuế điền và thuế sản vật của năm Minh Mạng thứ nhất (1820)

3. Các hoàng đệ được phong tước công đều được cấp thêm lương bổng 500 quan tiền và 500 phương gạo


4. Các hoàng đệ còn nhỏ chưa được phong tước công, đợi 3 năm trưởng thành sẽ do bộ Lễ bàn tâu xin sắc phong

5. Người trong tôn thất mà chưa có quan chức sẽ do bộ Lễ cùng với Tôn Nhơn phủ tra rõ tông phái xa gần rồi tâu lên, cấp thêm tiền, gạo theo thứ bậc

6. Văn võ, quan viên từ tứ phẩm trở lên, ở ngoài từ tam phẩm trở lên đều cho thăng một cấp, đợi nghị định phụng hành

7. Văn võ, quan viên ở Kinh từ ngũ phẩm trở xuống, ở ngoài từ tứ phẩm trở xuống, hiện có lương bổng thực tiền, đều theo lệ tiền và gạo của bản bổng, lại cấp thêm cho một tháng lương nữa

8. Văn võ, quan viên từ tam phẩm trở lên, cha mẹ hiện còn thì theo phẩm, chuẩn cho cáo sắc, nếu chết rồi thì cũng theo phẩm, chuẩn cho phong tặng

9. Con các quan văn võ tam phẩm trở lên, trừ con các công thần Vọng các đều định quan tước, đều cho một con hưởng tập ấm, được vào Quốc Tử Giám học, người nào đã trưởng thành có thể bổ dụng được sẽ cho các đại thần cử, theo tứ tự dẫn tiến, tùy tài mà bổ dụng

10. Trong số quan viên, công thần Vọng các, trừ con cháu trưởng và dòng đích, tuổi đã trưởng thành, đã trao quan chức rồi, còn ai không có con cháu dòng đích mà có con thứ hoặc cháu thứ, sẽ cho cai quản hoặc quan địa phương khai rõ lý lịch, cam kết, giao cho bộ Lễ xét thực chước định cấp cho quan tước hoặc cấp cho tiền và gạo

11. Những công thần đã chết mà không có con cháu thừa tự, đều cho viên cai quản hoặc quan doanh trấn sở tại điều tra rõ về người đó, nếu người vợ vẫn còn và thủ tiết thì đem sự tình báo lên bộ Lễ tâu xin, sẽ cấp cho tiền và gạo để nuôi thân

12. Các bách thần cả nước đều cho bộ Lễ tra rõ xin phong tặng có cấp bậc

13. Quốc Tử Giám trước đã đặt học hiệu, nay đặt thêm nhà, thêm phòng, phát lương cho các sinh viên để tiện đọc sách, tập văn

14. Các trường Hương thí khoa Kỷ Mão (1819) năm Gia Long thứ 18, trừ những người đã trúng tứ trường, tam trường đã được cho làm hạng ngoại tiêu sai rồi, còn những người trúng nhị trường thì cho miễn sưu lính 3 năm, người trúng nhất trường cho miễn sưu lính 2 năm

15. Từ mờ sáng ngày Tết Nguyên đán năm Minh Mạng thứ nhất trở về trước, những người phạm tội quân lưu trở xuống, dù đã kết án hay chưa đều cho tha cả. Còn các tù bị tội chết, có bao nhiêu người đều giao cho bộ Hình tra rõ tội danh nặng nhẹ để tâu lên, xin chỉ khoan giảm có thứ bậc

16. Trộm cướp bất luận nặng hay nhẹ, thủ phạm hay tòng phạm, ai biết sửa lỗi, tự thân đến doanh trấn các thành sở tại thú tội, đều được khoan miễn tội.

Tung Ton (Ảnh và bài st)
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Giới tiến hóa đã cố gắng làm bất cứ cái gì có thể, kể cả việc tạo dựng bằng chứng giả nhằm lừa đảo về tiến hóa, cốt chứng minh thuyết tiến hóa là một khoa học thực sự. Nhưng họ khó mà che đậy được các sự kiện lịch sử và xã hội phơi bày tác hại của học thuyết Darwin đối với xã hội loài người, đặc biệt trong thế kỷ 20 và hiện nay. Đó là một trong những lý do chủ yếu giải thích vì sao đạo đức xã hội đã và đang ngày càng xuống cấp…
Khởi đầu, những bộ tộc nhỏ sống trên vùng đồng bằng giữa hai dòng sông; Hoàng Hà phía bắc và Dương Tử phía nam, gọi nơi này là Trung Nguyên. Tức vùng bình nguyên giữa hai con sông. Trung (中) là ở giữa. Nguyên (原) là cánh đồng. Cho nên chữ Trung Nguyên chỉ có nghĩa là cánh đồng giữa hai dòng sông.
ĐI GIA ĐỊNH ĐỂ NGHỊ HÒA VÀO NĂM NHÂM TUẤT (1862) Đại Nam thực lục ghi chép về việc nghị hòa năm Nhâm Tuất (1862) Tháng tư năm Nhâm Tuất (1862) “Nguyên soái Phú Lãng Sa là Phô Na sai Xuy Mông (1) chạy tàu máy vào cửa biển Thuận An để đưa thư bàn về việc hòa. Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành đem việc tâu lên…”; “Khi ấy Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp (2) xin đi.
- Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn - Cuộc hội nhập văn hoá trong lịch sử dân tộc Việt Nam Lời mở Văn hoá của một dân tộc là kết tinh của nhiều nền văn hoá trong suốt dòng lịch sử của dân tộc đó. Rồi khi nhiều người đón nhận những giá trị mới qua cuộc hội nhập văn hoá, họ lại tạo nên một nền văn hoá mới để truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ đó, mỗi người chúng ta, tuỳ theo các hoàn cảnh và môi trường, hình thành nên các giá trị vật chất cũng như tinh thần cho chính bản thân mình.
Văn Miếu Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nơi đây vẫn giữ nguyên được những giá trị truyền thống và là điểm đến hấp dẫn nhiều du khách.
Hà Nội có một tòa tháp rất đặc biệt: Không đồ sộ nguy nga nhưng vĩ đại, không lộng lẫy lầu tía gác son nhưng vang bóng một thời, không cổ kính rêu phong nhưng là chứng tích cho một thời kỳ đầy rối ren biến động. Tòa tháp ấy dẫu nhỏ bé và khiêm nhường nhưng mang trong mình hoài bão thật lớn lao: Viết lên trời xanh! Đó chính là Tháp Bút trên núi Độc Tôn bên hồ Hoàn Kiếm. Chỉ là một tòa tháp bằng đá 5 tầng, cao không hẳn là cao, mà thấp cũng không hẳn là thấp, trên bề mặt cũng chẳng có lấy một họa tiết cầu kỳ. Nhưng nội hàm và giá trị bên trong lại vô cùng vĩ đại. Ấy là khi ta cùng nhìn lại bối cảnh lịch sử ra đời của Bút Tháp. Bối cảnh lịch sử Tháp Bút được cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu xây dựng vào năm 1864. Đó là sau khi người Pháp xâm chiếm nước ta, triều đình nhà Nguyễn lúng túng lựa chọn giữa việc cải cách toàn diện đất nước hay cố thủ vào các giá trị đã lỗi thời. Những thập niên ấy uy thế của cố đô Thăng Long bị hạ thấp, còn văn hóa xã hội thì sa sút đến mức báo động. Nhi
Bài viết này không phải nhằm mục đích hạ thấp các tướng lĩnh đó, mà chỉ là mượn chút uy danh của họ để nêu bật lên sự huy hoàng của các tướng sĩ nước Nam… Chiến tranh luôn đem lại khổ đau và tai nạn cho nhân loại. Dù cho kẻ thắng hay người thua đều vì nó mà phải thương tâm. Chẳng thế mà Nguyễn Du đã từng có thơ rằng: “Liên phong cao sáp nhập thanh vân Nam bắc quan đầu tựu thử phân Như thử hữu danh sinh tử địa Khả liên vô số khứ lai nhân
Võ Hương An - Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Người mẹ của các bậc vĩ nhân (Kỳ 3): Mẹ của Thánh Ghandi – Người phụ nữ với đức tin đã dưỡng nên một ‘linh hồn vĩ đại’ - “Đằng sau mỗi người đàn ông thành đạt đều có bóng dáng một người phụ nữ”, người ta vẫn luôn nói thế để đề cao vai trò của người vợ đối với thành công của nam giới. Đúng vậy, nhưng ít ai để ý rằng trước khi người phụ nữ ấy đến với cuộc đời anh ta thì đã có một người phụ nữ khác sinh thành, nuôi dưỡng, dạy bảo cho anh ta từ những bước đi đầu đời, người gieo những hạt giống tâm hồn đầu tiên vào đầu óc thơ trẻ của anh ta, chăm lo tưới bón cho nó bằng tình yêu thương để sau này nó lớn thành đại thụ.
(Bài viết nhân ngày sinh của Phan Châu Trinh, 9/9/1872 – 9/9/2018) Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một trong những nhân vật lịch sử điển hình của thế kỷ 19, 20. Ông là một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng, và một nhà cách mạng. Sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh đất nước bị đô hộ bởi thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, ông đã trăn trở về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Không giống như con đường của bao chí sĩ khác, con đường của ông rất đỗi khác biệt, thể hiện tầm nhìn lớn lao và chứa đựng nhiều thách thức.
Bảo Trợ