“Nếu Mỹ-Trung có chiến tranh, nguy cơ tấn công hạt nhân không nhỏ”

26 Tháng Mười 201812:56 SA(Xem: 956)
  • Tác giả :

“Nếu Mỹ-Trung có chiến tranh, nguy cơ tấn công hạt nhân không nhỏ”

mediaSinh viên Philippines biểu tình phản đối Trung Quốc triển khai tên lửa địa đối không HQ9 trên đảo Phú Lâm (Woody Island), quần đảo Hoàng Sa, ngày 19/02/2016 trước lãnh sự Trung Quốc ở Manila.REUTERS/Erik De Castro

Cho đến nay, ngày càng có nhiều dự đoán về khả năng xung đột quân sự một ngày nào đó có thể bùng phát giữa Mỹ và Trung Quốc (1). Xung đột dễ bùng lên đặc biệt tại vùng Biển Đông, nơi tham vọng chủ quyền của Bắc Kinh thách thức luật pháp quốc tế hiện hành (2). Tuy nhiên, ít ai nghĩ xung đột như vậy có thể kéo theo một cuộc chiến hạt nhân. Viễn cảnh chiến tranh hạt nhân có thể buộc cả Washington và Bắc Kinh thay đổi cách tiếp cận để tránh một thảm họa cho khu vực và thế giới.

Trên đây là quan điểm của chuyên gia an ninh quốc tế Caitlin Talmadge, trong bài
« Beijing’s Nuclear Option. Why a U.S.-Chinese War Could Spiral Out of Control », được đăng tải trên trên tạp chí Foreign Affairs, số tháng 11 và 12/2018 (3).

***

1 - Lý do nào khiến người ta không nghĩ đến nguy cơ một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ ?

Theo chuyên gia Caitlin Talmadge, từ lâu Trung Quốc đã được biết đến như một cường quốc hạt nhân, với học thuyết mang tính tự vệ. Sau vụ thử hạt nhân đầu tiên vào năm 1964, Trung Quốc đã hết sức tránh một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh, như Hoa Kỳ và Liên Xô trước đây. Hệ thống vũ khí hạt nhân của Trung Quốc nhỏ và đơn giản hơn rất nhiều so với hai siêu cường nói trên. Các lãnh đạo Trung Quốc luôn luôn khẳng định vũ khí hạt nhân sẽ chỉ được sử dụng để làm phương tiện răn đe. Cho đến nay, Bắc Kinh hứa hẹn sẽ không bao giờ là quốc gia đầu tiên sử dụng vũ khí hạt nhân. Về mặt lịch sử, hệ thống vũ khí hạt nhân tương đối nhỏ của Trung Quốc hiện nay là đủ để thực hiện mục tiêu làm phương tiện răn đe này.

Xét trên quan điểm này, viễn cảnh về một cuộc xung đột hạt nhân dường như chỉ là câu chuyện viễn tưởng, một tàn tích sót lại của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nay đã khép lại.

Thêm một yếu tố nữa khiến tình hình hiện nay rất khác với thời kỳ đầu Chiến tranh Lạnh. Đó là Hoa Kỳ và các đồng minh, vào thời điểm này, lo sợ trước kịch bản quân đội khối Vacxava, do Liên Xô cầm đầu, ồ ạt xâm chiếm châu Âu bằng đường bộ. Trong trường hợp đó, khối NATO sẵn sàng sử dụng vũ khí hạt nhân trước tiên để vô hiệu hóa một cuộc tấn công như vậy. Nỗi lo sợ bị đối phương tấn công trước tiếp tục trong suốt một thời kỳ dài sau này, có thể dẫn đến bùng phát chiến tranh hạt nhân, đặc biệt trong những năm 1950, trong lúc vũ khí hạt nhân Mỹ, được bố trí tại châu Âu, được quản lý không được thực sự nghiêm ngặt, và giới chỉ huy quân sự Mỹ không hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo dân sự, khiến nguy cơ tấn công hạt nhân xảy ra khi không có lệnh chính thức từ phía tổng thống Mỹ.

Tình hình quan hệ Mỹ-Trung hiện nay là hoàn toàn khác. Hiện tại, không quân đội bên nào có thể trực tiếp xâm chiếm nhanh chóng lãnh thổ của nhau, trong một cuộc chiến quy ước. Kiểm soát của giới lãnh đạo dân sự đối với hệ thống vũ khí hạt nhân của đôi bên đều được coi là hết sức chặt chẽ. Điều này khiến cho vũ khí hạt nhân, về mặt lý thuyết, sẽ chỉ được sử dụng như một phương tiện răn đe, và cứ theo lô gic thông thường này, thì sẽ không bên nào tấn công hạt nhân phủ đầu trước, bởi sợ đối phương cũng sẽ hành động tương tự. Theo quan điểm này, khả năng xẩy ra chiến tranh hạt nhân Trung – Mỹ là không thể có.

Đây chính là quan điểm của cựu tư lệnh lực lượng Mỹ khu vực Thái Bình Dương, ông Dennis Blair, người từng phục vụ 34 năm trong Hải Quân. Trong một phát biểu hồi năm 2015, cựu tư lệnh Mỹ khẳng định « nguy cơ chiến tranh hạt nhân Mỹ-Trung là từ không đến zero ».

Theo Caitlin Talmadge, cộng đồng nghiên cứu chiến lược Trung Quốc có xu hướng phủ nhận viễn cảnh này. Về phía các nhà nghiên cứu Mỹ cũng tương tự, khả năng (Trung Quốc) sử dụng vũ khí hạt nhân coi như không được tính đến trong các kịch bản xung đột.

2 - Lý do gì để cho rằng chiến tranh hạt nhân Mỹ- Trung có thể bùng phát?

Theo chuyên gia Caitlin Talmadge, quan điểm nguy cơ chiến tranh hạt nhân bằng không là hoàn toàn sai lầm. Một con đường căn bản có thể dẫn đến nguy cơ bùng phát khủng hoảng hạt nhân là thông qua một cuộc chiến quy ước.

Phương pháp mà Washington vẫn thường sử dụng lâu nay trong các cuộc chiến tại Irak, Libya…, là sử dụng hỏa lực áp đảo để tấn công vào các hệ thống vũ khí quan trọng nhất của đối phương, nhằm dập tắt khả năng phòng ngự. Tuy nhiên, các quốc gia nói trên không sở hữu vũ khí hạt nhân. Vấn đề là, trong một chiến với một cường quốc hạt nhân như Trung Quốc, quân đội Mỹ, khi tấn công vào các hệ thống vũ khí quy ước chủ chốt của đối phương, như các dàn hỏa tiễn, tên lửa, tấn công hay phòng không, cũng có thể nhắm luôn vào hệ thống vũ khí hạt nhân của kẻ thù. Trong bối cảnh hệ thống vũ khí hạt nhân bị chính cuộc chiến bằng các vũ khí quy ước đe dọa, lãnh đạo Trung Quốc có thể quyết định sử dụng vũ khí hạt nhân đầu tiên, trước khi quá muộn, do phán đoán đối phương có chủ trương triệt tiêu hệ thống vũ khí hạt nhân của mình.

Trong trường hợp này, Bắc Kinh có thể sử dụng một cuộc tấn công hạt nhân quy mô nhỏ, để báo động là đối phương đã vượt qua lằn ranh đỏ, và cũng để tránh bị trả đũa ở quy mô lớn. Phản ứng bằng vũ khí hạt nhân, trong trường hợp này, lại được coi như một biện pháp phòng vệ khả dĩ. Ví dụ như bắn tên lửa hạt nhân vào một nơi vắng người, ở giữa đại dương, hay tấn công vào một số căn cứ của Mỹ chẳng hạn.

Theo chuyên gia Caitlin Talmadge, Đài Loan chính là điểm đáng lo ngại nhất. Trong trường hợp hòn đảo ly khai này bị Trung Quốc tấn công (4), Hoa Kỳ tham gia hỗ trợ Đài Bắc, thì các chiến dịch quân sự của Mỹ nhằm tiêu diệt các hệ thống vũ khí chủ chốt của Trung Quốc cũng tức khắc chạm đến hệ thống hỏa tiễn hạt nhân trên bộ, trụ cột của chính sách hạt nhân Trung Quốc.

3 - Tại sao hệ thống vũ khí hạt nhân của Trung Quốc có thể là đối tượng bị tấn công, cùng lúc với các vũ khí quy ước ?

Nhà nghiên cứu Mỹ nhấn mạnh là, điểm đặc biệt của hệ thống quân sự Trung Quốc là các phương tiện hạt nhân, như các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, thường chia sẻ cùng các cơ sở hạ tầng với các phương tiện quân sự quy ước, về mạng lưới vận tải, tiếp liệu, lộ trình di chuyển, cũng như các cơ sở hậu cần khác. Và cũng có thể cả về mạng lưới chỉ huy, điều hành, kiểm soát. Đây là điều mà bên tấn công, dù có muốn, cũng khó có thể phân biệt được.

Đó là chưa kể việc tấn công nhằm vô hiệu hóa hệ thống phòng không của Trung Quốc, cũng có nghĩa là đặt hệ thống vũ khí hạt nhân trên bộ trong tầm tấn công, với nguy cơ bị hủy diệt tăng cao. Vấn đề không phải là Hoa Kỳ có mục tiêu tấn công toàn bộ hệ thống vũ khí hạt nhân của Trung Quốc hay không, mà điều chủ yếu là ban lãnh đạo Trung Quốc có coi đây là một nguy cơ hay không. Khía cạnh tâm lý ở đây là rất căn bản.

4 - Đâu là những cội rễ tâm lý mang tính lịch sử, có thể dẫn đến việc Bắc Kinh mạo hiểm sử dụng đòn tấn công hạt nhân đầu tiên, ngược với học thuyết chính thức hiện nay ?

Chuyên gia Caitlin Talmadge lưu ý là, cho dù, về mặt chính thức chính quyền Trung Quốc tuyên bố sẽ không bao giờ sử dụng vũ khí hạt nhân, khi không bị tấn công hạt nhân trước, rất khó mà biết được quan niệm của ban lãnh đạo Trung Quốc về hệ thống vũ khí hạt nhân của chính họ. Đâu là các bộ phận thứ yếu, đâu là bộ phận cốt lõi. Và trong trường hợp nào có thể khẳng định đối phương đang tìm cách hủy diệt cái lõi của hệ thống phòng thủ hạt nhân.

Bà Caitlin Talmadge nhắc đến một kinh nghiệm lịch sử, cho thấy Bắc Kinh rất có thể liều lĩnh tính đến việc dùng loại vũ khí hủy diệt này, trước một đối thủ mạnh hơn nhiều lần. Đó là vào năm 1969, khi chiến tranh biên giới với Nga bùng nổ. Matxcơva đe dọa dùng vũ khí hạt nhân, nếu Trung Quốc lấn tới.

Đây cũng là lý do đẩy Trung Quốc đến chỗ đặt hệ thống vũ khí hạt nhân, còn rất sơ khai của họ, trong « tình trạng báo động ». Đây là một tình thế rất nguy hiểm, bởi tên lửa có thể được bắn đi, vì một lý do bất thường nào đó, ngoài ý định của người lãnh đạo.

Tuy tình hình hiện tại khác xa với cuộc xung đột 1969, nhưng một cuộc chiến với các vũ khí « quy ước » leo thang, với những kịch bản vượt tầm kiểm soát, có thể khiến ban lãnh đạo Bắc Kinh rơi vào trạng thái « hoang tưởng ».

5 – Điều gì cần làm để giảm nguy cơ xung đột hạt nhân ?

Trong phần kết luận của bài viết này, nhà nghiên cứu Mỹ nhấn mạnh là Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể sử dụng các biện pháp căn bản để giảm các nguy cơ leo thang xung đột, như duy trì đối thoại ở tất cả các cấp, đặc biệt là ở cấp cao, về phía giới quân sự cũng như chính trị, là điều rất quan trọng cho phép xuống thang, khi xung đột xảy ra (5).

Tuy nhiên, dù việc cải thiện lĩnh vực đối thoại, giao lưu có ý nghĩa đến đâu, điều này cũng không thể thay thế được vấn đề cốt lõi là học thuyết quân sự và chiến lược chủ yếu của mỗi bên. Hoa Kỳ có thể tránh tấn công vào các vị trí của Trung Quốc trên đất liền, để không gây hiểu lầm cho phía Trung Quốc. Nhưng nếu như Trung Quốc sử dụng các vị trí này để tấn công vào các lực lượng Mỹ và đồng minh, thì tổng thống Mỹ chắc chắn sẽ không thể chấp nhận xuống thang.

Về phía Trung Quốc, Bắc Kinh có thể tiếp tục coi việc gắn chặt hai hệ thống vũ khí, quy ước và hạt nhân, là một điểm then chốt, điều kiện mà Bắc Kinh tin là chắc chắn để bảo đảm sức mạnh răn đe của Trung Quốc không bị phía Mỹ đụng đến, khiến Mỹ không dám khai chiến. Thế nhưng, một khi xung đột bùng nổ, thì trong tình trạng này, hậu quả sẽ rất khốc liệt.

Với những lý do trên, tác giả đề nghị giới lãnh đạo hai bên suy nghĩ thấu đáo tìm ra các phương thức giải quyết các bất đồng về chính trị, kinh tế và quân sự, mà không gây ra chiến tranh (6). Bởi một khi xảy ra, nó sẽ trở thành thảm họa cho khu vực và thế giới.

Ghi chú

1. « Tranh chấp Mỹ-Trung lan sang lãnh vực an ninh Biển Đông và Hoa Đông », ngày 1/10/2018.

2. « Báo Anh: Biển Đông đã trở thành ao nhà của Trung Quốc », ngày 23/06/2018.

3. Tạp chí Foreign Affairs là ấn phẩm của viện tư vấn chính trị quốc tế phi chính phủ Council on Foreign Relations, có trụ sở ở New York, được công bố trên trang mạng cùng tên.

4. « Trung Quốc quyết bảo vệ Đài Loan và Biển Đông “bằng mọi giá” », ngày 25/10/2018.

5. « Biển Đông: Nội dung chính cuộc gặp bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ -Trung » , ngày 18/10/2018.

6. « Biển Đông : Trung Quốc bành trướng và 3 phương án của Mỹ », ngày 8/10/2018.
Theo RFI

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Tốc độ tàu cao tốc 200-350 km/h trên toàn mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc đã mang lại ấn tượng về sự phát triển đáng kinh ngạc trong vài thập kỷ qua. Tuy nhiên, mạng lưới đường sắt này không thành công như quảng cáo, nó đã trở thành ác mộng của nền kinh tế. Đáng tiếc là Trung Quốc đã kịp xuất khẩu ác mộng này sang Việt Nam 10 năm trước. Global Times đưa tin, mạng lưới đường sắt cao tốc của Trung Quốc có phạm vi khoảng 38.000 km và Bắc Kinh có kế hoạch sẽ mở rộng mạng lưới này lên quy mô 7 triệu km đến năm 2035. Năm 2008, chuyến tàu cao tốc đầu tiên đã xuất phát từ ga đường sắt Nam Bắc Kinh, ngày nay sau 13 năm, Trung Quốc đã thiết lập mạng lưới đường sắt cao tốc lớn nhất thế giới.
Cuộc diệt chủng của ĐCSTQ đối với Tây Tạng là lời cảnh tỉnh cho tất cả chúng ta Trong bài phát biểu đánh dấu 70 năm ĐCSTQ tiến quân vào và kiểm soát Tây Tạng, dù ông Uông Dương đã hết lời ca ngợi những thành tựu huy hoàng của ĐCSTQ tại Tây Tạng, ông Anders Corr lại nhận thấy những bằng chứng hiển nhiên về tội ác diệt chủng và nỗi ám ảnh của ĐCSTQ đối với việc phải hủy diệt tín ngưỡng và tôn giáo. Ở bài bình luận này, tác giả Corr sẽ phân tích và chỉ rõ ra những dấu hiệu và bằng chứng về tội ác của ĐCSTQ, thông qua phát biểu của ông Uông Dương.
Thống đốc bang California (Mỹ) vừa ban hành đạo luật gây xôn xao dư luận: ‘Cho phép trẻ vị thành niên phẫu thuật chuyển đổi giới tính hoặc phá thai mà không cần thông báo cho phụ huynh’. Liệu đây là một đạo luật cấp tiến, tự do hay sẽ tiếp tay cho tội ác và sự suy đồi về đạo đức? Trẻ được phá thai hoặc chuyển giới mà không cần thông báo cho phụ huynh Ngày 22/9 vừa qua, Thống đốc bang California, ông Gavin Newsom đã ban hành hai đạo luật cho phép trẻ vị thành niên có thể thực hiện một số thủ tục y tế như phẫu thuật chuyển đổi giới tính và phá thai mà không cần thông báo với phụ huynh. Một trong hai điều luật là AB-1184, trong đó cấm các công ty bảo hiểm sức khỏe yêu cầu có sự ủy quyền của cha mẹ, trước khi những đứa trẻ bắt đầu làm thủ tục cho các dịch vụ y tế.
Trong bối cảnh chính phủ Afghanistan sụp đổ, người Mỹ và những người Afghanistan làm việc cho Hoa Kỳ buộc phải sơ tán, người ta không khỏi băn khoăn rằng: Liệu điều tương tự có thể xảy ra ở những quốc gia mà Mỹ đang bảo trợ? Và có tác động như thế nào đối với Đài Loan và các đồng minh khác của Mỹ ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương?
Gần đây, dư luận dậy sóng trước tuyên bố của một vị giáo sư rằng học phí cấp đại học nên được coi là rào cản kỹ thuật cho đầu vào. Tư tưởng học phí giống như một khoản đầu tư [ở một số ngành nghề] vốn là tư tưởng được chấp thuận ở các nước có nền giáo dục tiến bộ, nhưng áp dụng tại Việt Nam thì dường như chưa hợp lý lắm. Tăng, giảm hay miễn phí giáo dục? Phát biểu tại diễn đàn Quốc hội sáng 25/7 vừa qua, GS Lê Quân (đại biểu Cà Mau) nói: “Chúng ta cũng phải đảm bảo rằng học phí cũng là một rào cản kỹ thuật để tránh việc học sinh lao vào học đại học và trở thành "học đại"", phải coi học phí đối với người học là nguồn đầu tư, thông lệ quốc tế học phí bao giờ cũng bằng gần hai năm tiền lương sau khi tốt nghiệp.
Liệu các cuộc tấn công mạng do Bắc Kinh hậu thuẫn gần đây nhắm vào Mỹ có dẫn đến chiến tranh thật? Đây là câu hỏi mà nhà kinh tế học người Mỹ David P. Goldman đã đặt ra gần đây. Một câu hỏi quan trọng, hiện hữu và rất khó trả lời. Tuy nhiên, vào tháng trước, Tổng thống Joe Biden đã cảnh báo rằng các cuộc tấn công mạng gần đây, bao gồm việc tấn công mạng các cơ quan chính phủ và cơ sở hạ tầng của Hoa Kỳ, rất có thể dẫn đến một “cuộc chiến nổ súng”. Ông Biden tiếp tục: “Tôi nghĩ có nhiều khả năng chúng ta sẽ kết thúc — à, nếu chúng ta có kết cục là một cuộc chiến, một cuộc chiến tranh thực sự với một cường quốc, thì đó sẽ là hậu quả của một tấn công mạng với hậu quả rất lớn”, "cường quốc" đó, tất nhiên, là Trung Quốc. Như ông Goldman lưu ý: "Nận xét của ông Biden được đưa ra trong một văn bản do văn phòng báo chí Tòa Bạch Ốc lưu hành", chúng không phải là sản phẩm của “loạn ngôn tự phát”. Không, họ đã cố tình.
Bệnh dịch lây lan trên toàn quốc là một mối đe dọa tiềm tàng đối với ĐCSTQ. Hiện tại, Delta đang điều khiển nhiều xã hội trên khắp thế giới, nhưng Trung Quốc dường như là nước duy nhất mà biến thể này có thể kết thúc nhiệm kỳ của nhóm cầm quyền. COVID-19 đang tàn phá Trung Quốc Biến thể Delta đang lan nhanh trên khắp đại lục và Bắc Kinh không có giải pháp nào mới ngoài các biện pháp vũ lực tàn bạo, độc tài toàn trị — và đổ lỗi cho người nước ngoài. Hàng triệu người dân Trung Quốc hiện đang bị phong tỏa. Các ca nhiễm gần đây tạo thành đợt bùng phát coronavirus trên diện rộng, thậm chí còn rộng hơn so với đợt bùng phát vào năm ngoái. Đợt bùng phát mới này đã nhanh chóng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các nhà chức trách và phá vỡ kế hoạch tuyên truyền cốt lõi của Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).
Và nay nước Mỹ đang dần tiến vào một xã hội tự do cực tả, nơi xấu đã trở thành tốt và tốt đã trở thành xấu. Những điều tưởng chừng vô lý thì nay là hiện thực, ví như người nhập cư bất hợp pháp được ra vào tự do trên đất Mỹ, và được hưởng quyền “ưu đãi” hơn cả một công dân Mỹ “chính cống”... Khi những bậc lão thành vừa nhâm nhi cà phê vừa hồi tưởng lại quãng thời gian yên bình cách đây hơn nửa kỷ bằng câu mở đầu “muôn thuở”: “Hồi ấy, bố/mẹ ….”, thì bạn đừng than vãn: “Biết rồi, khổ lắm nói mãi”. Bởi nếu có cỗ máy thời gian cho phép bạn quay trở lại thời điểm cách nay hơn nửa thế kỷ, bạn có gật đầu không? Hơn nửa thế kỷ trước, sẽ không có Internet, không có smartphone, điện thì chập chờn và tất nhiên nếu nhà nào sở hữu một cái tivi đen trắng thì trở thành trung tâm "chiếu phim" cho cả cộng đồng.
Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã dựa vào hàng loạt lời nói dối về kinh tế để làm lung lay nhận thức của nhiều người về tình hình hiện tại. Trong bài viết này, chúng tôi xem xét một số lời nói dối lớn nhất và đưa ra bức tranh thực sự đằng sau những lời nói dối đó.
Trong 4 năm nhiệm kỳ của Tổng thống Trump, Big Media đã chế tạo ra bao nhiêu lời dối trá để bủa vây ông? Đã có bao nhiêu thông tin bị lật tẩy giúp công chúng được giải khai sự thật? Mời quý độc giả cùng NTD Việt Nam điểm lại 8 lời dối trá nổi bật nhất về ông Trump của Big Media, trong lúc chờ đợi các thông tin cập nhật từ các cuộc thanh tra kết quả bầu cử tại các tiểu bang Arizona và Georgia. Trong suốt 4 năm dẫn dắt nước Mỹ, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã đạt được rất nhiều thành tựu. Trong nước, ông Trump không chỉ lấp đầy nền sản xuất rỗng sau nhiều thập kỷ hoang phế, mang lại việc làm và sức tăng trưởng bền hơn cho nền kinh tế, ông còn khôi phục các giá trị truyền thống đang bị bào mòn, xâm lấn triệt để bởi tư tưởng cấp tiến như bảo vệ thai nhi.
Bảo Trợ