Chân Phước Và Hiển Thánh

27 Tháng Mười 20183:55 CH(Xem: 2216)

Chân phước và Hiển thánh

Phan Tấn Thành

blank

Năm nay chúng ta mừng kỷ niệm 30 năm Đức Thánh Cha phong thánh cho 117 chân phước tử đạo Việt Nam. Trước đó các ngài được gọi là “á thánh” hoặc “chân phước”. Chân phước và hiển thánh khác nhau ở chỗ nào? Tại sao các chân phước gọi là “Á thánh”?

Tôi xin bắt đầu bằng từ “Á thánh” vì dễ cắt nghĩa hơn. Theo từ điển Hán Việt, á có nghĩa là kém một bực, đứng hạng nhì; thí dụ đời xưa á nguyên là người thi đậu hạng nhì (sau trạng nguyên); ngày nay trong các cuộc thi sắc đẹp, á hậu là người đoạt giải nhì (sau hoa hậu). Theo nghĩa đó, á thánh có nghĩa là người kém ông thánh một bực, sắp làm thánh. Từ “chân phước” thì dịch sát với nguyên ngữ La-tinh beatus. Beatus tự nó có nghĩa là “người có phước”, người được hạnh phúc (vì thế đôi khi người ta cũng dịch beatus là “đấng phúc lộc”). Tuy nhiên trong thần học Kitô giáo, từ này mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo bối cảnh, văn mạch và thời đại. Khi vừa mở sách Tân ước, chúng ta gặp thấy từ “beatus” trong bài giảng trên núi của Tin mừng thánh Matthêu, trong tuyên ngôn về 8 mối phúc thật: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, phúc thay ai hiền lành, phúc thay ai sầu khổ, vv.”. Những hạng người đó được ca ngợi là có phúc, bởi vì họ được chuẩn bị thuận tiện để đón nhận Nước Thiên Chúa, được Thiên Chúa làm gia nghiệp, được nhìn thấy Thiên Chúa. Bước sang Tin mừng thánh Luca, chúng ta thấy lời chúc tụng “phúc thay” được bà Ysave áp dụng cho đức Maria: “Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45). Điều này cũng được chính Chúa Giêsu khẳng định “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28). Từ đó, văn chương Kitô giáo trong các thế kỷ đầu tiên gọi những tín hữu chết trong ơn nghĩa Chúa là “beati”, những người đang vui hưởng hạnh phúc bên cạnh Chúa, bởi vì trước đây họ đã đi theo con đường các mối phúc thật. Nói khác đi, các “beati” (các phúc nhân, các chân phúc) là chính các vị thánh, những người đã tuân giữ luật Chúa, đã sống đạo đức thánh thiện.

Như vậy các “chân phúc” cũng là “các thánh”, phải không?

Đúng thế. Như vừa nói, những tín hữu đã sống đời đạo đức thánh thiện, đã đi theo con đường bát phúc, thì sau khi qua đời, được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên cạnh Chúa, thông dự vào chính sự thánh thiện của Chúa. Vì thế không lạ gì mà trong các thế kỷ đầu tiên, phụng vụ dùng trà trộn các tiếng “chân phúc” và “thánh nhân”. Một trường hợp điển hình là Đức Maria. Các sách phụng vụ vừa gọi là thánh Maria (sancta Maria), vừa gọi là chân phước Maria (beata Maria, hoặc beatissima virgo Maria, viết tắt là BVM), có nơi dịch là “Đức Maria diễm phúc”.

Từ hồi nào, các chân phúc bị giáng cấp, xuống hàng á thánh?

Từ khi có sự thay đổi quan điểm giáo luật về sự thánh thiện. Nãy giờ, chúng ta bàn về khái niệm về chân phúc và sự thánh thiện dưới khía cạnh thần học, trong mối tương quan với Thiên Chúa. Từ thế kỷ XVI trở đi, Toà thánh sử dụng hai từ này theo khía cạnh khác, đó là sự tôn kính trong phụng vụ. Cho dù một tín hữu đã nổi tiếng thánh thiện, đã thực hành các nhân đức cách anh hùng, nhưng sau khi họ qua đời, không được phép gọi họ là “beati” (phúc nhân) bao lâu chưa có nghị định của Toà thánh. Thiết tưởng cũng nên biết rằng trong thiên niên kỷ thứ nhất, việc nhìn nhận đời sống thánh thiện của các tín hữu thuộc thẩm quyền của các giám mục. Từ việc công bố bộ luật năm 1234, thẩm quyền được dành cho Toà thánh. Duy Đức Giáo hoàng mới có thẩm quyền phong thánh, nghĩa là ghi danh tánh một người tín hữu vào sổ các thánh. Đó là ý nghĩa của tiếng canonizatio: “canon” là danh mục, sổ bộ; “canonizatio” là ghi danh vào sổ bộ. Một khi người tín hữu nào được canonizatio thì được gọi là “thánh”, và được phép tôn kính công khai. Và cho đến thế kỷ XV, các thánh (sancti) cũng được gọi là beati (chân phúc) như trước kia. Thế nhưng, sang thế kỷ XVI, Toà thánh cho phép một vài nơi được tôn kính vài người tuy nổi tiếng thánh thiện nhưng chưa được phong thánh: những vị đó được gọi là beati (chân phúc) chứ không được gọi là sancti (thánh). Các nghị định này được gọi là beatificatio, và trở nên thông dụng từ thế kỷ XVII. Với sắc lệnh ngày 13/3/1625 của ĐGH Urbanô VIII (được kiện toàn với đoản dụ Caelestis Hierusalem ngày 5/7/1634), sự phân biệt từ ngữ trở nên rõ ràng: beatificatio là phong chân phước, canonisatio là phong thánh. Việc phong chân phước cho phép được tôn kính một tôi tớ Chúa; nhưng sự tôn kính này được giới hạn trong một hội dòng, một Giáo hội địa phương. Với việc phong thánh, sự tôn kính mang tính cách bắt buộc trong toàn thể Giáo hội.

Thế nào là cho phép tôn kính?

Việc tôn kính bao gồm nhiều chi tiết. Trước tiên, được phép đặt chân dung (hình ảnh) lên trên bàn thờ. Tiếp đến, các tín hữu có thể đọc kinh nhờ xin vị chân phước chuyển cầu. Thêm vào đó, hằng năm lịch phụng vụ dành một ngày kính nhớ với bài lễ và kinh nguyện.

Làm thế nào để được phong chân phước?

Những thủ tục phong thánh đã được thay đổi trải qua thời đại. Nói chung, để được phong chân phước, cần phải chứng tỏ rằng người tín hữu đã sống đời đạo hạnh. Tiêu chuẩn đo lường mức độ đạo hạnh quen gọi là “thực hiện các nhân đức anh hùng”, nghĩa là họ đã thực hành tất cả các nhân đức (tóm lại trong ba nhân đức đối thần – tin, cậy, mến – và bốn nhân đức trụ – khôn ngoan, công bằng, mạnh bạo, tiết độ) một cách phi thường. Tính cách phi thường này không những chỉ muốn nói lên tầm độ xuất sắc của tôi tớ Chúa nhưng còn chứng tỏ tác động khác thường của Chúa Thánh Thần trong đời họ. Nói thế, không có nghĩa là bất cứ vị chân phúc nào cũng thực hiện tất cả bảy nhân đức cách phi thường; thường mỗi vị nổi bật một vài nhân đức nào đó, thí dụ đức mạnh bạo nơi các vị tử đạo. Dù sao, nhân đức trổi vượt hơn cả là đức ái.

Có cần phải làm phép lạ để làm chân phước không?

Không cần, nếu ta hiểu là phải làm phép lạ lúc còn sống. Bởi vì việc thực hiện các nhân đức cách phi thường đã là một phép lạ rồi. Còn khi nói đến thủ tục phong chân phước sau khi đương sự đã chết thì khác. Thủ tục thay đổi tùy theo thời đại. Trong bộ luật hiện hành, thủ tục phong chân phước bắt đầu bằng việc điều tra về việc thực hành các nhân đức anh hùng. Bước tiến sau đó sẽ thay đổi tùy theo hồ sơ có phải là một vụ tử đạo hay không. Nếu là một vị tử đạo, thì chỉ cần chứng minh sự kiện chết vì đức tin là xong. Còn nếu không phải là vị tử đạo thì đòi phải có một phép lạ. Cần phải ghi nhận là phép lạ diễn ra sau khi đương sự đã qua đời chứ không phải là lúc sinh tiền. Giáo hội đòi hỏi phép lạ ra như để biết chắc rằng vị tôi tớ Chúa đang hưởng phúc bên cạnh Chúa, và có thể chuyển cầu cho chúng ta.

Còn để được phong thánh, giáo luật đòi thêm điều kiện nào nữa?

Trước khi trả lời câu hỏi, cần phải nhấn mạnh rằng không phải là các thánh thì thánh thiện hơn các chân phước. Vì thế thiết tưởng dịch chân phước là “á thánh” thì không đúng, bởi vì xét về sự đời sống thánh thiện thì chân phước và hiển thánh đều như nhau. Không phải là với việc phong thánh thì chân phước trở nên thánh thêm chút nữa. Như đã nói trên đây, sự khác biệt chỉ có tính cách giáo luật, mở rộng tầm mức tôn kính từ chỗ nhiệm ý đến mức bó buộc và phổ quát. Nhưng đó là nói theo nguyên tắc đặt ra hồi thế kỷ XVII, chứ ngày nay không còn giá trị mấy nữa, nhất là từ sau công đồng Vaticanô II. Thực vậy, lịch phụng vụ phổ quát được cải tổ sau công đồng đã quyết định giảm thiểu các ngày kính các thánh, bởi vì muốn chú trọng hơn vào đức Kitô. Do đó, lịch phổ quát chỉ kính những thánh nào nổi tiếng hoặc vì tượng trưng những vùng khác nhau trên thế giới. Bây giờ đi vào câu hỏi đã nêu. Thủ tục phong thánh hiện nay chỉ đòi thêm một phép lạ nữa. Như vậy là không cần phải mở lại hồ sơ về việc thực hành các nhân đức anh hùng. Hồ sơ nay đã đóng với việc phong chân phước. Vì vậy mà tôi mới nói là vị hiển thánh không thánh thiện hơn chân phúc tí nào hết.

 Để kết thúc mục giải đáp lần này, thiết tưởng nên nói qua những dự án cải tổ thủ tục phong thánh mà một số học giả đã nêu lên từ công đồng Vaticanô II.

1/ Có tác giả đề nghị trở lại với tập tục của thiên niên kỷ thứ nhất, nghĩa là để cho mỗi Giáo hội địa phương thiết lập danh sách các phúc nhân, không cần sự can thiệp của Toà thánh. Tôi nghĩ rằng đề nghị này khó chấp nhận.

2/ Một đề nghị khác yêu cầu loại bỏ hồ sơ phép lạ khỏi thủ tục phong thánh, nghĩa là sau khi hoàn tất hồ sơ nhân đức anh hùng thì công bố chân phúc ngay. Điều này vẫn còn được tranh luận.

3/ Một ý kiến khác (xem ra thực tế hơn) là trở lại với thời buổi thủ tục phong thánh mới ra đời hồi thế kỷ XIII, nghĩa là loại bỏ sự phân biệt giữa chân phúc và hiển thánh. Khi đã hoàn tất các hồ sơ thì phong thánh luôn, khỏi cần phong chân phước nữa. Ý kiến này xem ra đang được nghiên cứu kỹ lưỡng, bởi vì ngày nay sự phân biệt giữa chân phước và hiển thánh không còn rõ rệt nữa. Việc phong thánh không tăng gia gì thêm danh giá cho tôi tớ Chúa: ở đâu mà người ta đã tôn kính vị đó thì họ vẫn tiếp tục trước và sau khi phong thánh; còn ở đâu mà người ta không kính thì sau ngày phong thánh cũng chẳng thay đổi thái độ. Cách riêng, nghi thức phong chân phước và nghi thức phong thánh chỉ khác nhau về vài chi tiết thứ yếu. Trước công đồng Vaticanô II thì nghi thức rất khác nhau. Trong nghi thức phong chân phước, thì Hồng y tổng trưởng đọc sắc lệnh của Đức Thánh Cha trong một thánh lễ do một chức sắc giáo triều chủ toạ, không có sự hiện diện của Người. Còn trong nghi thức phong thánh thì chính Đức Thánh Cha chủ toạ. Thế nhưng từ năm 1971 trở đi, Đức Thánh Cha đích thân chủ sự thánh lễ trong đó người đọc công thức phong chân phước và phong thánh. Điều này làm cho các tín hữu không nhận thấy sự khác biệt giữa hai nghi thức nữa. Tuy nhiên, từ năm 2005, Đức Bênêđictô XVI đã trở lại tập tục cổ truyền: ngài chỉ chủ toạ lễ nghi phong thánh; còn lễ nghi phong chân phước được uỷ thác cho Hồng y Tổng trưởng bộ phong thánh.
Hoc Vien Daminh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ