Đi Lấy Chồng Xa...

19 Tháng Mười 201812:46 SA(Xem: 1087)

Đi Lấy Chồng Xa...

LGT: Từ một ngẫu nhiên nhưng sâu sắc tình nghĩa như những đường nét hữu duyên của định mệnh, chúng tôi được hân hạnh đọc bài viết "Đi Lấy Chồng Xa" trong cuốn "tạp ghi" cùng tên của nhà văn Huy Phương. Xúc động trước những thao thức chân thành mà tác giả gửi gắm trong bài viết, chúng tôi vội tìm hiểu thêm về ông, và được biết, ông tên thật là Lê Nghiêm Kính, nhà giáo động viên vào khoá 16 Thủ Đức, từng là Biên tập viên báo chí và đài phát thanh Quân đội, Tổng thư ký toà soạn Nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hoà và tạp chí Tiền Phong, Trưởng phòng Tâm Lý Chiến và Chính Huấn tại TTHL Quang Trung; và sau 1975, ông đã bị 7 năm tù cải tạo trước khi định cư tại California, Hoa Kỳ. Giới thiệu về ông, ngay trang đầu của cuốn tạp ghi "Đi Lấy Chồng Xa", Nhà Xuất Bản Nam Việt viết: Thời niên thiếu, ở Huế, người ta biết đến Huy Phương như một người làm thơ và viết tùy bút. Bài của ông đến với người thưởng lãm rất sớm, khoảng năm 1952, trên tuần báo Đời Mới (Saigon) do Trần Văn Ân chủ trương. Cũng như đa số thanh niên lớn lên cùng thời với ông, cho tới khi trở thành một thầy giáo tỉnh lẻ, ông đọc và chịu ảnh hưởng của Tự Lực Văn Đoàn và nhiều nhà thơ tiền chiến. Tác phẩm hay khuynh hướng sáng tác của ông, lúc khởi đầu, chưa bộc lộ những nét đặc thù riêng. Ông có xuất bản thơ và truyện, nhưng không thực sự gây tiếng vang trên văn đàn. Sau này, qua những trải nghiệm trong hơn mười ba năm quân ngũ rồi bảy năm với nhà tù Cộng Sản từ nam ra bắc, ông đã kinh qua bao nhiêu dời đổi, thăng trầm, nhìn rõ được bộ mặt cuộc đời và lòng người, đau khổ, hận thù, xót xa, cay đắng. Định cư tại Hoa Kỳ năm 1990, cầm bút trở lại, ông tự xác lập ngay cho mình một đường hướng sáng tác mới, dùng ngòi bút trực tiếp đề cập tới những vấn đề xẩy ra hàng ngày, trước mắt, phê phán những hiện tượng tiêu cực, minh họa những xót xa ẩn khuất của đời người mà ông tế nhận được bằng cảm xúc tinh vi của một người viết nhập cuộc. Ông chọn  Tạp Ghi là lối viết thẳng vào sự việc, không hư cấu, quanh co. Do vậy, có người phê phán văn phong ông cay đắng, mỉa mai, nhưng đồng thời cũng nhiều người cho là dí dỏm và đầy tình nguời. Nói như nhà văn Phan Nhật Nam, "Huy Phương đã viết tận chân tình", viết "vì bổn phận của người được sống sót." Ký mục gia Bùi Bảo Trúc, ngòi bút "phiếm" nổi tiếng, nhận định về ông: "Huy Phương là "người viết Tạp Ghi hay nhất trong làng báo hải ngoại". Chúng tôi xin chân thành cảm ơn những ân tình sâu nặng mà nhà văn Huy Phương dành cho Sàigòn Times, và sau đây, xin trân trọng giới thiệu cùng qúy độc giả bài viết Đi Lấy Chồng Xa của ông...

*me_con_0

“Lấy chi trả thảo cho cha,
Đền ơn cho mẹ, con ra lấy chồng”
(Ca dao)

Lúc tôi mới lên ba thì chị đã mười tám tuổi. Ngày ấy khi cha tôi dạy học ở Bố Trạch, Quảng Bình thì chị tôi theo chồng về tỉnh lỵ Đồng Hới, con đường từ nhà mẹ ra nhà chồng cũng chẳng bao xa. Tôi nghe nói ngày chị đi lấy chồng, mẹ tôi khóc nhiều vì chị là con đầu lòng, mà chị tôi cũng sụt sùi không kém. Vài năm sau, cha tôi đổi về quê quán Thừa Thiên cho gần gũi với bên nội, thì khoảng cách giữa chị tôi và gia đình xa thêm một khoảng đường. Năm 1954, đất nước bị chia cắt, chị tôi và mẹ ở hai miền Nam Bắc phân ly không hy vọng có ngày đoàn tụ. 

Trong suốt một thời gian dài, mẹ tôi xót xa coi như mất một đứa con không bao giờ có thể thấy mặt lại. Hai mươi mốt năm sau, khi chị tôi về lại quê nhà thì cha mẹ tôi đã qua đời. Dù có hạnh phúc với chồng con đi nữa, suốt cuộc đời, chị tôi vẫn mang trong lòng một sự ân hận, là phải đi lấy chồng xa để khuya sớm không được gần gũi với cha mẹ. Và mẹ tôi trước khi thở hơi cuối cùng giã từ cuộc đời vẫn thường nhắc đến chị tôi, trong lòng còn thương nhớ khôn nguôi.

Ngày cha tôi từ giã cõi đời, con cái ông đang ở mỗi đứa một nơi, đứa cam phận tù đày, đứa phiêu bạt rời bỏ quê hương, trong những ngày hiu quạnh cuối cùng chắc ông buồn lắm. Thế hệ ngày trước, lớn lên, sống và chết trong cùng dưới một mái nhà, có lẽ không ai muốn con thành đạt để đi xa, mà chỉ muốn con cái quanh quẩn bên cạnh như đàn gà dưới cánh mình, dù đôi lúc sức lực cha mẹ không còn che chở được gì cho con  cái..    

Không ai muốn gả con đi lấy chồng xa, không phải vì còn nhờ cậy lúc tuổi già “gả con thì gả chồng gần, có bát canh cần nó cũng mang cho”, mà chính vì mối tình cảm quyến luyến giữa mẹ con, gia đình: “mẹ ơi đừng gả con xa, một mai cha yếu mẹ già ai trông"”

Có phải ngày nay tấm lòng con không phải còn chơn chất, đơn thuần như ngày trước không, hay là vì tấm lòng cha mẹ đã đổi thay. Cái trò chơi háo hức làm người dự thí để được trúng tuyển lọt mắt xanh được một ông chồng Đại Hàn, Tàu Cộng hay Tàu Quốc rồi bây giờ tới Mã Lai, Singapore đã trở thành một câu chuyện “thường ngày ở huyện”, không dở không hay, không vui mà cũng không buồn. Nó đã trở thành một nếp sống, nói theo chữ dùng của bên nhà là “nếp sống văn hóa”, đương nhiên phản ảnh con người và tư tưởng của cái xã hội ấy. 

Trong cái xã hội mới cách đây vài chục năm ngắn ngủi thôi, cái lễ nghĩa, liêm sỉ khi trong một gia đình có đứa con gái gọi là “bị chửa hoang” hay “làm đĩ” được coi là “bôi tro trát trấu” lên mặt mày cha mẹ và danh giá gia đình, thì ngày nay nó lại là chuyện đương nhiên, nếu việc ấy đem về cho gia đình một số lợi nhuận, để cái nhà mình có thể cất lên cao đẹp hơn những cái nhà khác trong xóm, và mặt mày cha mẹ cũng hãnh diện ngẩng cao hơn. Có nỗi đau đớn nào hơn:

- “Mẹ cha ơi hỡi mẹ cha,
Nghèo gần không gả, giàu xa đem đày!”
- “Mẹ em thấy của thì ham
Hang hùm cứ tưởng hang vàng ép con.
Nói ra thẹn với nước non
Ngậm vào cay đắng lòng con  đêm ngày!”

Trong truyện Kiều, vướng nỗi oan ức, “....thằng bán tơ kia giở giói ra, làm cho bận đến cụ Viên già” thì nàng Kiều mới đành phải bán mình chuộc cha. Đời này chúng ta có hằng chục nghìn cô Kiều cũng trẻ thơ xinh đẹp, cha mẹ chưa hề mắc vòng lao lý hay phải hầu cửa quan, chưa vướng lụy nỗi oan gia, mà cũng tự nguyện bán mình. Lý do mà quí cô đưa ra là nghèo đói làm không đủ ăn, không có tiền cho cha mẹ trả nợ hay cần sửa nhà, sửa cửa, mua xe. Xem ra thì những lý do đó vẫn quanh quẩn chung quanh chuyện tiền. Trong thời chiến tranh người ta mừng vì sinh con gái khỏi phải cầm súng ra mặt trận, ngày nay đông con gái cũng là điều mang giàu sang lại cho nhiều gia đình.(!)

Thời chiến tranh, Thượng Nghị Sĩ Mỹ McGovern khi sang thăm Việt Nam chỉ mới nói một câu: “Saigon là một ổ điếm” mà những người có liêm sỉ đã thấy giận đỏ mặt. Hôm nay đất nước này coi chuyện bán thân, làm đĩ là chuyện bình thường thì chúng ta còn dám ngẩng mặt lên nhìn ai nữa!

Ngày nay những người chị của tôi lớn lên trong tuổi thanh xuân sẽ không có mối tình duyên đẹp đẽ, hoa mộng nào nữa. Chị lo trau dồi sắc đẹp, giữ gìn thể xác và nguyện lòng chẳng hề yêu ai, để một ngày kia chị sẽ không còn nỗi vướng bận nào khi chị ra đi, làm như đời chị sinh ra được sắp đặt tới một tháng ngày nào đó, như một món hàng, người ta xuất cảng chị ra nước ngoài, để đem về cho chính phủ của chị một món ngoại tệ, cho cha mẹ một số tiền trả ơn trả nghĩa phải chăng. Có hàng nghìn người chị đã bỏ xóm làng ra đi, chị bỏ cái cuốc cầm tay, gánh hàng trên vai hay mái chèo nơi một con đò ven sông, và nhất là chị phải bỏ những mối ràng buộc yêu thương, liên hệ gia đình để tới một nơi xa lạ, lạ những phong cảnh, thế tục, lạ cả tiếng người. Cũng có thể những người chị này đã để lại bao nhiêu mối tình thơ mộng sau lưng cho những chàng trai đã ngày nào yêu chị. Rút cuộc, người ta nhận ra rằng, không còn gì giữ chân chị lại được, ngoài đồng tiền ra.

Ngày nay không phải thân phận chị chỉ được rao bán tại quê nhà mà chị như kiện hàng được đem ra nước ngoài, để trên kệ hàng, tủ kính có ánh đèn màu hấp dẫn, có ghi giá cả như con cừu trong chợ gia súc hay món thịt đông lạnh trong cửa hàng thịt. Phải nói chị sinh ra không gặp thời, chị lớn lên trong lúc người ta cần những thứ hàng xuất khẩu. Anh em chị, người sang đông, kẻ sang tây đổ máu mắt, mồ hôi mới có miếng ăn, đồng tiền trả nợ, đồng tiền ơn nghĩa ngay cho những thế lực đã mang bán các anh em họ hàng ra đi. Chị cũng như món hàng. Ngày xưa mẹ có rổ rau, buồng chuối hay con gà, cặp vịt đem ra chợ bán, để có đồng tiền mua lại mớ tôm, con cá, hay may cho chị manh áo mới, mua cái  lược, cái gương soi. Ngày nay, có lẽ không còn gì hay sao mà cha mẹ lại đành lòng bán chị đi" Ngày xưa, nuôi được con heo nái đẻ con, lúc bán đàn heo con đi, mẹ cầm xấp bạc trong tay mà thở dài, bây giờ bán chị đi, lòng mẹ có buồn nghìn lần hơn thế không"

Sự biến đổi đau lòng nhất là những người chị của tôi có lẽ không biết buồn dù có “nước non nghìn dặm ra đi” tới nơi xa xôi. Sống trong thời đại mới, biết đâu chị còn hãnh diện hơn đám bạn bè hay lối xóm xấu xí, vô phước nghìn lần hơn chị, ngày chị ra đi, họ vẫn chân lấm tay bùn, bàn chân nứt nẻ trong nước đồng ruộng hay trên sông rạch nghèo nàn quê mùa, ngày hai buổi chợ. Tôi thực sự buồn cho nỗi buồn của chị thì ít mà buồn cho tấm lòng chai đá của cha mẹ thì nhiều. Vương Ông thấy con mà “máu sa ruột dàu”, còn cha mẹ chị bây giờ thì nghĩ sao" Rồi đây, mỗi chiều cơn nước ròng, nước dẫy, con thuyền ra chợ còn mang theo tiếng hát của cô gái nghèo, sinh ra lớn lên với ruộng đồng, sông rạch, có ai nhớ tới những người chị tôi đang ở một phương trời nào đó, hạnh phúc hay khổ đau, làm người vợ chung thủy hay làm gái đĩ cho ngoại nhân. Nhìn lại đất nước hằng trăm năm qua, kể cả những lúc quằn quại vì ngoại xâm, đói nghèo tột độ, chưa lúc nào, nhân phẩm của những người đàn bà như chị bị vùi dập như bây giờ, vào cái thời dân tộc đang có cả "độc lập” lẫn “hạnh phúc”!

Mai này, chị có thể là mẹ một bầy con còn bập bẹ đôi tiếng Việt. Nhưng rồi qua một đời, hai đời, chị hòa tan vào giòng máu ngoại tộc, từ miếng ăn thức uống, đến chiếc áo mảnh khăn, người ta may ra chỉ còn nhớ tới chị như một người đàn bà đã lâu lắm, từ một đất nước nào đó tới đây, một đất nước rất cần tiền nên phải bán chị đi.

Chị như cánh lục bình rời xa con rạch cũ, lỡ trôi giạt ra tới biển Đông rồi, sẽ không bao giờ có thể trở lại nhánh sông xưa. Thương chị, lòng tôi ray rứt, không yên.
Huy Phương.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Không biết hai tiếng ‘tòm tem’ xuất hiện trong ngôn ngữ Việt từ bao giờ nhưng cái chuyện tòm tem thì quả là xưa không kém gì quả đất. Tuy nhiên, dù có xưa cách mấy thì tòm tem vẫn không bao giờ cũ, vì loài người còn tồn tại tới ngày hôm nay cũng là nhờ vào ‘tòm tem’. Chính vì thế mà thiên hạ vẫn cứ mãi mãi tòm tem và sẽ còn nói nhiều về chuyện tòm tem. Sở dĩ tôi dùng hai tiếng ‘tòm tem’ này để nói về một chuyện mà ngôn từ dùng để diễn tả lại vô cùng phong phú và thường được thả nổi, ấy là tại vì hai tiếng này vừa có gốc có gác, vừa nôm na dễ hiểu, lại không bị coi là tục để các vị thích rao giảng đạo đức bắt bẻ mà cũng không khô khan như từ ngữ chuyên môn của nhà khoa học. Tôi học được hai chữ này trong bài ca dao sau: Đang khi lửa đỏ cơm sôi Lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem Bây giờ cơm chín lửa tàn Lợn ăn, con ngủ, tòm tem thì tòm
Bộ nào vỗ béo Ngân hàng -Khác nào siêu nạc cho đàn bầy heo -Lãi vay ngày một trèo leo -Bệnh phù Thống Đốc sao đèo nổi xe -Chuyện này mắt thấy tai nghe -Trên trang điện tử o oe mấy dòng/30 Tháng Năm 2012(Xem: 4070) Sỹ Hành/
Nữ nghệ sĩ Phùng Há tên thật là Trương Phụng Hảo, sanh ngày 30 tháng 4 năm 1911 tại làng Điều Hòa, tổng Thuận Trị, huyện Châu Thành Tỉnh Mỹ Tho, Việt Nam. Bà mất ngày 05 tháng 7 năm 2009, tại nhà riêng xây trong khuôn viên chùa Nghệ sĩ Gò Vấp, Saigon, hưởng thọ 99 tuổi./09 Tháng Sáu 2012(Xem: 4163) /
Đến màn thứ hai để quảng cáo cho những chai dầu gió Thần Dược, là phần tôi rất khó quên, là những bài học ca dao “đầu đời” bình dân, đầy vần điệu do ông thầy võ múa máy, ngâm nga lớn tiếng: -“Đàn bà đau bụng chổng khu, - Xức vô một tí, xách cái dù đi chơi!” - -“Đàn bà chồng bỏ chồng chê, - Xức vô một tí, chồng mê về liền!”/31 Tháng Năm 2012(Xem: 4617) /
Tiếng Việt thì mênh mông lắm, bởi vậy tôi dùng đề tài "Nhâm nhi cà phê" thay vì "Uống Cà Phê" để viết lại cái thú được ung dung nhấm nháp, từng ngụm cà phê để thưởng thức hương vị. Đám bạn già chúng tôi bây giờ có cả đống thời giờ dư thừa mà không biết ai để cho bớt, nên đành nhâm nhi cà phê vậy!
Xưa nay chỉ thấy tô phở bò, gà theo chân người Việt tỵ nạn tràn lan và nổi danh toàn thế giới; còn tô hủ tiếu quê mình hình như đã tàn phai nhan sắc. Chớ hồi xưa trong nước, nhứt là Lục tỉnh Nam Kỳ tô hủ tiếu quê mình vẫn vô địch quyền vương, độc cô cầu bại. Tô phở Bắc mon men về tới cái đất Mỹ Tho danh trấn giang hồ về hủ tiếu cũng đành phải chịu xếp ve luôn. Mỹ Tho có cả hàng chục tiệm hủ tiếu chỉ loe ngoe vài ba tiệm phở tái, nạm, gầu… Phở Bắc chỉ làm ‘đại ca’ trên chốn giang hồ Sài Gòn, ngay cả vô Chợ Lớn cũng phải chào thua. Hủ tiếu là của người Tàu, người Quảng Đông; còn người Triều Châu thì ăn hủ tiếu bò vò viên, tức ‘ngầu dục viễn’! Nổi tiếng nhứt là hủ tiếu Mỹ Tho! Nó khác với hủ tiếu Nam Vang, phở Bắc, bún bò Huế, bún mắm Sóc Trăng. Hủ tiếu Mỹ Tho của người Quảng Đông nhưng bánh hủ tiếu lại do người Việt ở Gò Cát, bên bờ kia sông Bảo Định, vùng ven thành phố Mỹ Tho làm.
Trong thời gian làm việc tại Việt Nam vừa qua, tôi viết rất nhiều về kỹ năng, phẩm chất, và chia sẻ nhiều công cụ giúp các bạn trẻ phát triển bản thân. Tuy nhiên, tôi nhận thấy có rất nhiều trường hợp bản thân các bạn trẻ không biết mình thiếu kỹ năng gì, hoặc tưởng là mình đã có kỹ năng rồi, nên không có kế hoạch rèn luyện. Hôm nay, đứng từ góc độ ngược lại của người sử dụng nhân sự, tôi muốn chia sẻ với các bạn những triệu chứng bệnh thường ngày tại nơi làm việc mà tôi ghi nhận được. Những căn bệnh này chính là nguyên nhân gây ra sự mất tập trung, cản trở việc phát triển bản thân. 1. Bệnh im: do lớn lên trong môi trường giáo dục thụ động, người Việt đã quen nghe và im. Khi bắt đầu làm đi làm, thói quen này trở thành bệnh. Sếp giao việc xong, làm xong không xong cũng im. Gặp vấn đề giữa chừng không giải quyết được cũng im. Sếp không hỏi tới thì im luôn, cho qua.
– Bia ôm: Đàn ông nhân danh đi uống bia nhưng vào bar rồi lại uống ít mà tay chân thì làm việc nhiều. Các em chiêu đãi tự nhiên như người Hà Nội, mở bia lia lịa, giấu dưới bàn, đổ ra sàn gạch… rồi khổ chủ cứ tự nhiên trả tiền trước đứng dậy ra về mà… vẫn sướng! – Cà-phê ôm: Hình thức gần giống như bia ôm, nhưng một ly cà phê có thể lên hàng chục ngàn đồng nếu biết lợi dụng câu giờ ôm và tận tình thám hiểm thì không đến nỗi phí tiền phí bạc! Mvznymk – Karaokê ôm: Chưa có thú tiêu khiển nào thanh lịch và văn minh hơn hình thức ôm nầy. Khách vào mở nhạc, miệng hát mà tay chân thì làm việc thoải mái… đến một lúc nào đó chẳng biết mình đang hát cái gì và hát đến đâu nữa thì, một là ra về, hai tiếp tục dẫn em lên thiên thai hay đi xuống địa ngục!…
Facebook Bây giờ đa số ai cũng chơi Facebook. Facebook phổ biến đến nỗi người già, người trẻ ai cũng có riêng một trang FB. Thói quen hay bệnh mê FB đến một cách tự nhiên đầy quyến rũ làm điên đảo con người. Buổi sáng vội vã vào FB xem một lượt có gì mới không, like cho bạn bè vài cái. Buổi trưa trong giờ nghỉ ngơi vừa ăn vừa bấm FB, gửi vài cái hình góp mặt bạn bè. Buổi tối "lướt phây", messenger bấm bấm chuyện trò say sưa quên cả thời gian. Nấu món gì ngon trước khi cho chồng cho con ăn, cho FB ăn trước. Trang trí cho thật mỹ thuật, chụp vài tấm hình gửi ngay vào FB rồi chốc chốc mở xem bạn bè có comment gì không để trả lời. Có ai khen bấm "Thank you" kèm cái hình có con vật nhảy nhảy, cái bông lắc lư hoặc cái mặt cười rạng rỡ.
Nói đến tuổi già thì ai mà không băn khuăn, lo nghĩ. Già có nghĩa là ốm yếu, bệnh hoạn, xấu xí, mất năng lực, không còn hữu dụng, mất khả năng, phải trong cậy vào người khác, nghèo khó, buồn nãn, cô đơn trong căn phòng hiu quạnh ngày nầy qua ngày nọ để chờ đến lúc ra đi theo ông theo bà...
Bảo Trợ