Phaolô VI, Vị Thánh Trầm Tư

18 Tháng Mười 20181:19 SA(Xem: 174)

Phaolô VI, vị Thánh trầm tư

Chúa Nhật ngày 14-10-2018, Giáo Hội tuyên thánh 6 chân phước, trong đó có ĐGH Phaolô VI (1897-1978), vị giáo hoàng thứ 82 được Giáo Hội tuyên thánh trong số 266 giáo hoàng (từ Thánh Phêrô tới ĐGH Phanxicô).Trước đó, ngài đã được ĐGH Bênêđictô XVI tôn phong là Bậc Đáng Kính ngày 20-12-2012, và được ĐGH Phanxicô tôn phong Chân Phước (ngày xưa gọi là Á thánh) ngày 19-10-2014, ngày bế mạc Công nghị Giám mục về Gia đình.
pope-phaolo_6

Trong năm 2014, chúng ta có hai vị thánh giáo hoàng: Gioan XXIII (sinh 28-11-1881, triều đại giáo hoàng từ 28-10-1958 tới 3-6-1963) và Gioan Phaolô II (sinh 18-5-1920, triều đại giáo hoàng từ 16-10-1978 tới 2-4-2005). Niềm vui nối tiếp niềm vui, nay chúng ta có thêm Thánh GH Phaolô VI (sinh 26-9-1897, triều đại giáo hoàng từ 21-6-1963 tới 6-8-1978). Thật hạnh phúc khi chúng ta được sống trong thời của ba vị thánh giáo hoàng liên tiếp!

Khi ĐGH Phaolô VI đương nhiệm giáo hoàng, tôi còn là thiếu niên nên chưa biết nhiều về ngài, nhưng qua báo chí Công giáo hồi đó, tôi còn nhớ ngài đã được mệnh danh là “giáo hoàng trầm tư”. Không dưng tôi cảm thấy… thích, dù chẳng hiểu gì sâu xa! Nếu tôi nhớ không lầm thì hình như ĐGH Phaolô VI là người đầu tiên Không dùng mũ ba tầng và Không dùng kiệu trong ngày đăng quang. Chắc hẳn đó là cách canh tân cần thiết.

Thánh GH Phaolô VI sinh ngày 26-9-1897 tại Concesio (Lombardy),trong một gia đình thượng lưu, với tên “cúng cơm” khá dài là Giovanni Battista Enrico Antonio Maria Montini. Cha ngài là luật sư nhưng lại làm biên tập viên báo chí và là người thúc đẩy hoạt động xã hội. Cậu Giovanni là người yếu đuối nhưng thông minh,từ nhỏ cậu đã được học với các linh mục Dòng Tên ở gần nhà tại Brescia. Ngay cả sau khi gia nhập chủng viện (1916), cậu vẫn được sống tại gia đình vì lý do sức khỏe.

Ngài thụ phong linh mục năm 1920 (mới 23 tuổi), sau đó ngài được gửi tới Rôma học tại ĐH Grêgôriô và ĐH Rôma, nhưng năm 1922 ngài được chuyển tới Accademia dei Nobili Ecclesiastici (Viện Giáo Sĩ) để học ngành Ngoại giao và vẫn học Giáo luật tại ĐH Grêgôriô. Năm 1923, ngài được gửi tới Warsaw làm khâm sứ nhưng rồi lại được gọi về Rôma (1924) vì mùa Đông Ba Lan lạnh quá khiến sức khỏe của ngài bị ảnh hưởng, rồi ngài được bổ nhiệm làm Quốc vụ khanh Tòa Thánh,và ngài giữ chức vụ này từ 1922 tới 1954. Ngoài việc ngài dạy học tại Accademia dei Nobili Ecclesiastici, ngài còn được bổ nhiệm làm tuyên úy cho FUCI (Federation of Italian Catholic University Students – Liên minh Sinh viên Đại học Công giáo Ý), do đó ngài ảnh hưởng mạnh tới các mối quan hệ của ngài với những người sáng lập Đảng Dân chủ Kitô giáo (Christian Democratic Party) thời hậu chiến.
pope phaolo 6

Tại văn phòng Quốc vụ khanh, ĐHY Montini và ĐHY Domenico Tardini được coi là những vị thân cận và ảnh hưởng nhất của ĐGH Piô XII. Năm 1954, ĐGH Piô XII đã bổ nhiệm ĐHY Montini làm TGM của Milan, giáo phận lớn nhất Ý quốc, nhưng không thăng chức cho ngài làm Hồng y theo truyền thống của TGP Milan, điều mà tự động ngài trở thành Thư ký HĐGM Ý. ĐGH Gioan XXIII nâng ngài lên Hồng y năm 1958, và sau khi ĐGH Gioan XXIII qua đời, ĐHY Montini được coi là một trong những người có thể kế vị.

Khi được bầu làm giáo hoàng, ĐHY Montini chọn Tông hiệu Phaolô VI để chứng tỏ canh tân sứ vụ thế giới là loan truyền sứ điệp của Đức Kitô. Ngài tái mở Công đồng Vatican II, lý do là Công đồng phải tạm ngưng vì ĐGH Gioan XXIII qua đời. Sau khi Công đồng bế mạc, ĐGH Phaolô VI đảm trách việc giải thích và thực hiện sự ủy thác của Công đồng, thường bước đi trong đường hẹp giữa các hy vọng đối lập của nhiều phe nhóm trong Giáo hội Công giáo. Tầm quan trọng và chiều sâu của việc cải cách ảnh hưởng mọi lĩnh vực trong đời sống Giáo hội trong triều đại giáo hoàng của ngài đã phóng đại sự cải cách tương tự của người tiền nhiệm và kế vị.

Triều đại Giáo hoàng của ĐGH Phaolô VI kéo dài tới ngày 6-8-1978. Thánh GH Gioan XXIII là người khai mạc Công đồng Vatican II, Thánh GH Phaolô VI là người tiếp tục và bế mạc Công đồng này. Ngài mong muốn cải thiện mối quan hệ đại kết với Chính thống giáo và Tin lành, và đã có kết quả trong nhiều cuộc gặp gỡ lịch sử và thỏa hiệp.

Thánh Phaolô VI là người sùng kính Đức Mẹ, thường nói về Đức Mẹ tại các buổi hội nghị và hội thảo, thường viếng các Đền Đức Mẹ và ban hành ba tông thư về Đức Mẹ. Theo bước vị tiền nhiệm ngài là TGM Ambrose của TGP Milan, ngài tôn vinh Đức Mẹ là Mẹ Giáo Hội tại Công đồng Vatican II.

Khi sinh thời, ĐGH Phaolô VI đã tìm cách đối thoại với thế giới, với người không là Kitô giáo, với các tôn giáo khác và người vô thần, không loại trừ ai. Ngài tự nhân mình là người tôi tớ khiêm nhường vì nhân loại đau khổ và đòi hỏi sự thay đổi nhiều ở người giàu tại Hoa Kỳ và Âu châu để hỗ trợ người nghèo trong thế giới thứ ba. Ngài đề cập vấn đề về hạn chế sinh sản (Tông thưHumanae Vitae – Sự Sống Con Người, ngày 24-7-1968) và các vấn đề khác đã gây tranh luận tại Tây Âu và Bắc Mỹ, nhưng lại được hoan hô ở Đông phương, Nam Âu và Mỹ châu Latinh.

Triều đại giáo hoàng của ngài ở trong giai đoạn thay đổi thế giới, sinh viên nổi dậy, chiến tranh Việt Nam và các cuộc nổi dậy khác. Năm 1937, ngài được bổ nhiệm thay thế về thường vụ dưới quyền ĐHY Quốc vụ khanh Pacelli, và ngài cùng ĐHY Pacelli tới Budapest (1938) tham dự Hội nghị Thánh Thể Quốc tế (International Eucharistic Congress). Khi ĐHY Pacelli được bầu làm giáo hoàng năm 1939, với Tông hiệu Piô XII, ĐHY Montini được tiếp tục giữ chức vụ dưới quyền tân Quốc vụ khanh là ĐHY Luigi Maglione. Khi ĐHY Luigi Maglione qua đời năm 1944, ĐHY Montini nghỉ chức vụ cũ. Trong Thế chiến II, ĐHY Montini đảm trách việc tổ chức công việc cứu tế bao quát và chăm sóc người tị nạn chính trị.

Trong mật nghị năm 1952, ĐGH Piô XII tuyên bố ngài muốn đưa ĐGM Montini và ĐGM Domenico Tardini vào Hồng y đoàn nhưng cả hai vị đều xin miễn. Nhưng ĐGH Piô XII đã phong cho hai vị tước Đại diện Quốc vụ khanh (Prosecretary of State). Năm sau, ĐGM Montini được bổ nhiệm làm TGM Milan nhưng vẫn không có tước hồng y. Ngài nhận nhiệm sở mới ngày 5-1-1955, và mau mắn được tiếng là “giám mục của giới lao động”. Ngài đổi mới cả giáo phận, rao giảng các sứ điệp Phúc Âm về xã hội, cố gắng giành lại giới lao động, thúc đẩy nền giáo dục Công giáo ở mọi cấp, và ủng hộ báo chí Công giáo.

Lúc này, ảnh hưởng của ngài rất mạnh đến nỗi được thế giới chú ý. Tại mật viện năm 1958, tên ngài thường được nhắc tới, và tại mật nghị đầu tiên bầu được ĐGH Gioan XXIII hồi tháng 12-1958, ngài là một trong 23 hồng y có thể đắc cử giáo hoàng, mà tên ngài luôn đứng đầu danh sách. Ngài đáp lại lời kêu gọi mở Công đồng ngay lập tức và trước khi nhóm họp, ngài đã được chọn làm cố vấn về quy chế hội nghị. Ngài được bổ nhiệm làm Ủy viên Chuẩn bị Chính yếu (Central Preparatory Commission) cho Vatican II và là Ủy viên Tổ chức Kỹ thuật (Technical-Organizational Commission).

Khi được bầu làm Giáo hoàng, trong sứ điệp đầu tiên ngài gửi cho thế giới, ĐGH Phaolô VI tự nhận mình là “người tiếp tục công việc mà ĐGH Gioan XXIII đã khởi đầu”. Trong suốt triều đại giáo hoàng của ngài, sự căng thẳng giữa tính ưu việt giáo hoàng và tính cộng đoàn của chức giám mục là nguyên nhân gây xung khắc. Ngày 14-9-1965, ngài tuyên bố triệu tập Công nghị Giám mục mà các Nghị phụ Công đồng đã kêu gọi, nhưng một số vấn đề có vẻ thích hợp để thảo luận tại Công nghị được giữ bí mật. Luật độc thân đã bị bỏ vì tranh luận tại phiên họp thứ tư của Công đồng Vatican II, nhưng lại là chủ đề của Tông thư công bố ngày 24-6-1967; hạn chế sinh sản được giải quyết trong Tông thư Humanae Vitae, và cũng là Tông thư cuối cùng của ngài. Các cuộc tranh luận về hai vấn đề này có xu hướng làm lu mờ những năm trước trong triều đại giáo hoàng của ngài.

ĐGH Phaolô VI chịu sức ép về sự so sánh với vị tiền nhiệm là ĐGH Gioan XXIII – người được mệnh danh là “ông già nhân hậu”. Tuy nhiên, những người biết rõ về ngài nhất đều mô tả ngài là người thông minh, sống nội tâm, khiêm nhường, kín đáo và hòa nhã, và là người “vô cùng nhã nhặn”. Các tư tưởng đáng lưu ý của ngài có thể thấy trong các lời phát biểu, các lá thư và các lời tuyên bố. Sự thành công của Công đồng Vatican II đã ghi dấu ấn lịch sử của Giáo hội Công giáo, nhưng lịch sử cũng sẽ ghi nhớ công cuộc cải cách triệt để của ngài trong giáo triều Rôma, lời ngài phát biểu được đón nhận nồng nhiệt tại Liên Hiệp Quốc năm 1965, và hai Tông thư của ngài: Tông thư Populorum Progressio (Phát triển Dân số, 26-3-1967), và Tông thư Octogesima Adveniens (Bát thập Chu niên, 14-5-1971), dịp kỷ niệm 80 năm công bố Tông thư Rerum Novarum (Tân Sự, ĐGH Leo XIII).
phaolo6 - phongthanh

Tông thư thứ nhất cho thấynhận thức về nhiều vấn đề chỉ mới được làm sáng tỏ,và Tông thư EvangeliiNuntiandi (Loan báo Tin Mừng trong Thế giới, 8-12-1975) – tuyên bố quan trọng của ngài đã “chạm” đến vấn đề chính của khái niệm về sự giải thoát và sự cứu độ.

Thánh Phaolô VI được mệnh danh là “Giáo hoàng Trầm tư”, đồng thời cũng được gọi là “Giáo hoàng Hành hương” vì ngài đã đi tới các châu lục và đi nhiều nhất so với các giáo hoàng tiền nhiệm, đặc biệt là tới Na-da-rét ngày 5-1-1964. Ngài qua đời ngày 6-8-1978, lễ Hiển Dung (Chúa Giêsu biến hình). Ngài muốn đám tang ngài tổ chức đơn giản: Không nhà táng (catafalque) vàKhông bia tưởng niệm trên mộ ngài. Với Tông thư Humanae Vitae, ngài được coi là một tiên tri (ngôn sứ), và những gì trong đó nay đã ứng nghiệm.

Ngày 14-9-1965, ĐGH Phaolô Vl thiết lập Công nghị Giám mục và Ban Cố vấn Giáo hoàng. Trong triều đại giáo hoàng của ngài đã có vài công nghị được tổ chức để thảo luận về các vấn đề đặc biệt – chẳng hạn, Công nghị Giám mục về Phúc Âm hóa trong thế giới hiện đại, khai mạc ngày 9-9-1974.

Lạy Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, xin nguyện giúp cầu thay cho chúng con!

Trầm Thiên Thu

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Juan Del Rio Martin - Trong bài này, tác giả, Tổng Giám mục Tổng tuyên úy quân đội nước Tây ban nha, muốn phân tích các chủ đề của 50 năm Ngày Thế giới cầu nguyện cho Hòa bình, dựa theo mỗi triều đại Giáo hoàng. Vì khuôn khổ của bài viết, chúng tôi chỉ chú trọng đến nội dung của các sứ điệp, và bỏ qua phần giới thiệu tiểu sử của các ngài.
Để hiểu được Thánh Danh “Mẹ Thiên Chúa”, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ vai trò của Đức Maria là Mẹ của Đấng Cứu Độ, Chúa Giêsu Kitô. Là người Công giáo, chúng ta vững tin rằng Thiên Chúa nhập thể làm người: Đức Maria thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần (Lc 1, 26-38 và Mt 1, 18-25).
Theo tin Zenit và CNA, hồi 10 giờ 30 sáng ngày 21 tháng 12, Đức Phanxicô đã tiếp kiến Giáo Triều đến chúc mừng ngài nhân Lễ Giáng Sinh năm 2018. Trong bài diễn văn với họ, ngài đã cực lực kết án việc giáo sĩ lạm dụng tình dục, hứa hẹn rằng giới lãnh đạo Giáo Hội sẽ không bao giờ che đậy việc lạm dụng hay coi nhẹ nó nữa.
Chúa Giêsu ra đời vào ngày nào? Không ai biết đích xác. Thế thì dựa vào đâu để cử hành lễ Chúa Giáng sinh vào ngày 25 tháng 12 dương lịch? Ngoài ra, một chi tiết khác cũng đáng được lưu ý là lễ này được ghi vào lịch phụng vụ vào giữa thế kỷ IV. Tại sao lễ này không được nói đến trong ba thế kỷ đầu tiên? Có lý do gì để thiết lập lễ này không?
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM ỦY BAN PHỤNG TỰ THÔNG BÁO VỀ VIỆC BAN PHÉP LÀNH TÒA THÁNH VỚI ƠN TOÀN XÁ Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam nhận được câu hỏi về các điều kiện để ban phép lành Tòa Thánh với ơn toàn xá. Xét vì ích lợi thiêng liêng của các tín hữu và sau khi tham khảo các văn kiện của Tòa Ân Giải Tối Cao, nay Ủy ban Phụng Tự xin thông báo: I. VỀ PHÉP LÀNH TÒA THÁNH CÙNG VỚI ƠN TOÀN XÁ Phép lành Tòa Thánh hay Phép lành Tông Tòa cùng với ơn toàn xá [cho các các tín hữu sốt sắng lãnh nhận] hiện nay chỉ được áp dụng cho những trường hợp sau: 1. Chính Đức Giáo hoàng ban phép lành “Urbi et Orbi” (Enchiridion Indulgentiarum: Normae et Concessiones [1999], “Concessiones”, số 4);
Riccardo Battocchio - Tác giả nhìn lại sự tiến triển của ý tưởng “đời sống vĩnh cửu” từ những gợi ý trong Cựu ước cho đến những lối diễn tả khác nhau trong Tân ước (Tin mừng nhất lãm, thánh Phaolô, thánh Gioan). Từ nền tảng Kinh thánh truyền thống Kitô giáo dần dần cô đọng vào khái niệm “nhìn thấy Thiên Chúa”, tuy không thiếu những khó khăn khi giải thích quan niệm ấy. Những canh tân thần học trong thế kỷ XX đã muốn nhìn lại toàn diện vấn đề, nêu bật chiều kích lịch sử và cộng đồng của sự thông hiệp với Thiên Chúa. (Lưu ý về việc dịch thuật. Vita aeterna trong tiếng Latinh có thể chuyển dịch sang tiếng Việt bằng nhiều thuật ngữ: đời sống vĩnh cửu, sự sống đời đời, cuộc sống vĩnh hằng, cuộc sống bất diệt, vv).
[…]Cũng giống như Mẹ Maria, chúng ta dành mùa Vọng như một khoảng thời gian dừng lại, phản tỉnh và chuẩn bị đón nhận món quà Tình yêu của Thiên Chúa đến với chúng ta qua Hài nhi Giêsu.
Có lẽ một số người vội vã nhạo báng ý tưởng này là tưởng tượng hay dị đoan. Nhưng sự tin tưởng vào hồn ma thì phổ quát trong mọi văn hóa kể từ khi lịch sử được ghi chép lại, và một phần nó được dựa vào rất nhiều tường thuật rằng, thực sự, người sống đã gặp gỡ các hồn ma (ghost). Trước các hiện tượng có thực này, người Công giáo không thể dễ dàng bỏ qua tình trạng ấy. Có hồn ma không?
Đức Thánh Cha Phanxicô viếng nghĩa trang Laurentino – nơi có khu “Vườn Thiên Thần” dành để mai táng các thai nhi không được sinh ra, ngày 2/11/2018 Các thai nhi bàn ở đây được hiểu là những bào thai [đã là người] bị chết trước khi được sinh ra do sẩy thai hay phá thai.1 Liệu có hợp lý không khi có rất nhiều giáo dân Việt Nam xin lễ cầu cho các thai nhi? Câu trả lời sau đây cho thấy đây là một thực hành cần phải xét lại vì nó không hợp lý xét theo đức tin, giáo lý và thần học của Giáo Hội.
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời.
Bảo Trợ