Việc Đổi Mới Số 2267 Trong Sách Giáo Lý GH Công Giáo Về Án Tử Hình

02 Tháng Chín 20181:05 SA(Xem: 1514)

Việc đổi mới số 2267 trong sách Giáo lý Giáo hội Công giáo về án tử hình

blankRescriptum “ex Audentia SS.mi

 

Trong buổi yết kiến ngày 11 tháng 5 năm 2018 dành cho Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin ký tên dưới đây, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã chuẩn y bản dự thảo mới của số 2267 trong Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, chấp thuận cho bản văn này được dịch sang các ngôn ngữ khác nhau và đưa vào trong mọi ấn bản của Sách Giáo Lý vừa nêu.

Án tử hình

  1. Việc chính quyền hợp pháp sử dụng án tử hình, sau khi đã xét xử công minh, từ lâu đã được xem như một giải pháp xứng hợp với tính trầm trọng của một số tội ác, và một phương thế bảo vệ công ích có thể chấp nhận được, dù rất khắc nghiệt.

Tuy nhiên ngày nay, chúng ta ngày càng ý thức rằng phẩm giá của con người không bị mất đi ngay cả sau khi họ đã phạm những tội ác rất trầm trọng. Hơn nữa, một sự hiểu biết mới mẻ về ý nghĩa của các án phạt hình sự được nhà nước áp dụng đã rõ nét hơn. Sau cùng, những hệ thống cầm tù hữu hiệu hơn đã được phát triển, bảo đảm quyền an ninh của công dân, nhưng đồng thời cũng không tước đi cách vĩnh viễn khả năng hoán cải của phạm nhân.

Vì thế, trong ánh sáng của Tin Mừng, Giáo hội dạy rằng “án tử hình là không thể chấp nhận vì án phạt này là sự tấn công vào tính bất khả xâm phạm và phẩm giá của con người”;[1] Giáo hội quyết tâm hoạt động nhằm khuyến khích việc loại bỏ án tử hình trên khắp thế giới.

Vatican, 01.8.2018, Lễ nhớ Thánh An-phong Li-gô-ri

Hồng y Luis F. Ladaria, S.J.

Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin

Bản dịch của UB Giáo Lý Đức Tin

Nguồn: press.vatican.va

[1] Phan-xi-cô, Diễn văn dành cho các tham dự viên cuộc gặp gỡ do Hội đồng Giáo Hoàng Cổ Vũ Việc Tân Phúc Âm Hóa tổ chức (11-10-2017): L’Osservatore Romano (13-10-2017), 5.
nts-long

BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN

Thư gửi các giám mục về việc đổi mới số 2267 trong Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo về án tử hình

Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, trong DiễnvănDịp Kỷ Niệm 25 Năm Ngày Ban Hành Tông hiến Fidei Depositum – với tông hiến này, Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã công bố Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo – đã yêu cầu trình bày lại giáo huấn về án tử hình để phản ánh tốt hơn sự phát triển của đạo lý về vấn đề đã và đang diễn ra trong thời gian gần đây.[1] Sự phát triển này tập trung chủ yếu vào việc Giáo hội ý thức rõ ràng hơn về sự kính trọng phải có đối với sự sống con người.Theo đường hướng này, Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã khẳng định: “Ngay cả kẻ sát nhâncũng không mất đi nhân phẩm của mình, và chính Thiên Chúa cam kết bảo đảm điều này”.[2]

Chính trong ánh sáng này, chúng ta hiểu ra thái độ chống lại án tử hình được trình bày cách rộng rãi hơn bao giờ hết nơi giáo huấn của các vị mục tử và trong cảm thức của dân Chúa. Thật vậy, nếu nhưtình hìnhxã hội và chính trị trong quá khứ đã khiến cho án tử hình trở thành cách thế có thể được chấp nhận để bảo vệ công ích, thì ngày nay sự hiểu biết tăng dần về việc phẩm giá của một người không bị mất đi ngay cả khi người đó đã phạm những tội ác trầm trọng nhất, cũng như sự hiểu biết thấu đáo hơn về ý nghĩa của các án phạt hình sự do nhà nước áp đặt, cùng với sự phát triển các hệ thống cầm tù hữu hiệu hơn nhằm bảo đảm an ninh xứng hợp cho người dân, đã tạo ra một ý thức mới mẻ nhìn nhận án tử hình là không thể chấp nhận, và vì thế yêu cầu loại bỏ án này.

Trong sự phát triển này,giáo huấn trongThông điệp Evangelium vitae của Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II có tầm quan trọng lớn lao. Giữa các dấu chỉ hy vọng cho một nền văn hóa mới về sự sống, Đức Thánh Cha đã chỉ ra “sự phản kháng đang gia tăng của công luận đối với án tử hình, ngay cả khi hình phạt như thế được xem là phương thế ‘phòng vệ hợp pháp’ của xã hội. Thật vậy, xã hội tân tiến có những phương thế chế ngự tội ác cách hữu hiệu bằng cách làm cho các phạm nhân thành vô hại mà không phải tước đoạt cách vĩnh viễn cơ hội cải hóa của họ”.[3] Sau này, lời dạy trong Thông điệp Evangelium vitae được đưa vào trong ấn bản chuẩn (editio typica) của SáchGiáo Lý Giáo Hội Công Giáo. Trong Sách Giáo Lý này, án tử hình không được trình bày như mộthình phạt tương xứng với tính trầm trọng của tội ác, nhưng án phạt này có thể được biện minh nếu đó là “biện pháp khả thi duy nhất để bảo vệ mạng sống con người cách hiệu quả, chống lại kẻ gâyhấn”, dù thật ra “những trường hợp tuyệt đối cần thiết phải trừ khử phạm nhân hiện nay là rất hiếm, nếu không muốn nói là không còn trong thực tế” (số 2267).

Vào nhiều dịp khác, ĐứcGiáo hoàngGio-an Phao-lô II cũng đã can thiệp chống lại án tử hình, bằng cách cậy dựa vào sự tôn trọng nhân phẩm lẫn những phương thế mà xã hội ngày nay có được để tự vệ chống lại các tội phạm. Vì thế, trong Sứ điệp Giáng Sinh 1998, ngài mong ước được thấy trên thế giới “sự đồng lòng về nhu cầu cần có những biện pháp thích đáng và khẩn cấp… để chấm dứt án tử hình”.[4] Tháng sau đó tại Hoa kỳ, ngài nhắc lại, “một dấu chỉ hy vọng là có sựnhận biết tăng dần theo đó phẩm giá của sự sống con người không bao giờ phải bị tước đi, ngay cả trong trường hợp một ai đó đã phạm điều dữ trầm trọng. Xã hội tân tiến có những phương thế tự vệ, mà không phải tước đoạt cách vĩnh viễn cơ hội cải thiện của các phạm nhân. Tôi lặp lại lời kêu gọi đã được đưa ra gần đây vào dịp Giáng Sinh nhằm tìm kiếm sự đồng tâm cùng nhau chấm dứt án tử hình, một hình phạt vừa tàn bạo lại không cần thiết”.[5]

Việc dấn thân nhằm xoá bỏ án tử hình đã đượccácvị giáo hoàng sau đó tiếp tục. Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI kêu gọi “các vị lãnh đạo xã hội lưu tâm làm tất cả những gì có thể nhằmloại bỏ án tử hình”.[6] Sau đó ngài tỏ bày ước nguyện trước một nhóm tín hữu rằng “những cuộc thảo luận của các con sẽ khích lệ các sáng kiến về lập pháp và chính trị, đang được ngày càng nhiều các quốc gia cổ võ, nhằm loại bỏ án tử hình và nhằm tiếp tục tạo đà tiến triển trọng yếu trong việc làm cho luật hình sự đồng thời hòa hợp với phẩm giá các tù nhân và việc duy trì trật tự công cộng cách hữu hiệu”.[7]

Trong cùng một viễn cảnh này, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã khẳng định lại rằng “ngày nay án tử hình là không thể chấp nhận, dù tội ác của người bị kết án có trầm trọng đến đâu”.[8]Dù được thi hành bằng phương tiện nào đi nữa, án tử hình “dẫn đến việc đối xử tàn ác, phi nhân, và hạ thấp nhân phẩm”.[9]Hơn nữa, phải chống lại án tử hình “vì sự khiếm khuyết của hệ thống tư pháp tội phạm được chọn và đối diện với khả năng sai lầm của toà án”.[10] Chính trong ánh sáng này mà Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã yêu cầu sửa lại lối trình bày của Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo về án tử hình, bằng cách khẳng định rằng “dù tội ác đã phạm có trầm trọng đến đâu, án tử hình là không thể chấp nhận, vì đó là sự tấn công vào tính bất khả xâm phạm và phẩm giá của con người”.[11]

Việc đổi mới số 2267 trongSách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, được Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô phê chuẩn, vừa được đặt trong sự tiếp nối với Huấn quyền trước đó, vừa mang đến một sự tiến triển nhất quán của giáo lý Công giáo.[12]Theo bước giáo huấn của Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II trong Evangelium Vitae, bản văn mới xác quyết rằng việc kết liễu cuộc đời của một phạm nhân như sự trừng phạt vì một tội ác là không thể chấp nhận, vì án phạt này tấn công vào phẩm giá con người, một phẩm giá không bị mất đi ngay cả sau khi ai đó đã phạm những tội ác trầm trọng nhất. Kết luận này có được nhờ việc lưu tâm đến sự hiểu biết mới mẻ về những án phạt hình sự được Nhà Nước tân tiến áp dụng; theo đó, những án phạt hình sự trên hết nhắm đến sự hoán cải và sự hội nhập vào xã hội của phạm nhân. Cuối cùng, vì xã hội tân tiến sở hữu những hệ thống cầm tù hữu hiệu hơn, án tử hình, xét như việc bảo vệ đời sống của những người vô tội, trở nên không cần thiết. Chắc chắn, như Huấn quyền đã luôn dạy và Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo đã khẳng định trong các số 2265 và 2266, công quyền vẫn luôn có bổn phận phải bảo vệ sự sống của các công dân.

Tất cả những điều này cho thấy rằng lối trình bày mới của số 2267 trongSách Giáo Lýdiễn đạt sự tiến triển chân chính của đạo lý, vốn không mâu thuẫn với những lời dạy trước đây của Huấn quyền. Thực thế, những lời dạy này có thể được giải thích trong ánh sáng trách nhiệm hàng đầu của công quyền là bảo vệ công ích, giữa bối cảnh xã hội trong đó những án phạt hình sự đã được hiểu cách khác, và đã được thi hành trong những điều kiện mà việc bảo đảm rằng phạm nhân không thể lặp lại tội ác của mình còn khó khăn hơn [so với ngày nay].

Việc đổi mới này xác quyết rằng sự hiểu biết về tính không thể chấp nhận của án tử hình tiến triển dần “trong ánh sáng của Tin Mừng”.[13]Thực tế, Tin Mừng giúp hiểu hơn trật tự tạo thành mà Con Thiên Chúa đã đảm nhận, thanh luyện và làm cho viên thành. Tin Mừng cũng mời gọi chúng ta hướng đến lòng thương xót và sự kiên nhẫn của Thiên Chúa, Đấng ban cho mỗi người thời gian để hoán cải bản thân.

Việc đổi mới số 2267 trong Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo muốn mang lại sinh lực cho phong trào hướng đến một cam kết dứt khoát ủng hộ một tâm thức nhìn nhận phẩm giá sự sống của mọi người, và khuyến khích tạo ra những điều kiện cho phép việc loại bỏ án tử hình nơi nào án phạt này vẫn còn hiệu lực, trong tinh thần đối thoại kính trọng với công quyền.  

Thư này đã được thông qua trong Khoá họp Thường kỳ của Bộ Giáo Lý Đức Tin vào ngày 13 tháng 6 năm 2018, được Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô chuẩn y và ban lệnh phát hành vào ngày 28 tháng 6 năm 2018, trong buổi triều yết dành cho vị Thư ký của Bộ Giáo Lý Đức Tin với chữ ký dưới đây.

Rô-ma, từ Văn phòng Bộ Giáo Lý Đức Tin, ngày 01 tháng 8 năm 2018

Dịp lễ nhớ Thánh An-phong Li-gô-ri

     Hồng y Luis F. Ladaria, S.J.

             Tổng trưởng

     + Giacomo Morandi

Tổng Giám mục Hiệu tòa Cerveteri

            Thư ký

Bản dịch của UB Giáo Lý Đức Tin

Nguồn: press.vatican.va

[1] X. Phan-xi-cô, Diễn văn dành cho các tham dự viên cuộc gặp gỡ do Hội đồng Giáo Hoàng Cổ Vũ Việc Tân Phúc Âm Hóa tổ chức (11-10-2017): L’Osservatore Romano (13-10-2017), 4.

[2] Gio-an Phao-lô II, Thông điệp Evangelium vitae (25-3-1995), số 9: AAS 87 (1995), 411.

[3] Ibid., s. 27: AAS 87 (1995), 432.

[4] Gio-an Phao-lô II, Sứ điệp Urbi et Orbi của Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô IIGiáng sinh 1998 (25-12-1998), s. 5: Insegnamenti XXI, 2 (1998), 1348.

[5] Id., Bài Giảng tại Trans World Dome of St. Louis (27-01-1999): Insegnamenti XXII,1 (1999), 269; x. Bài giảng lễ tại Basilica of Nuestra Señora de Guadalupe in Mexico City (23-01-1999): “Phải chấm dứt việc nại đến án tử hình cách không cần thiết”: Insegnamenti XXII,1 (1999), 123.

[6] Bê-nê-đic-tô XVI, Tông huấn Hậu Thượng Hội Đồng Africæ munus (19-11-2011), s. 83: AAS 104 (2012), 276.

[7] Id., Buổi triều yết chung (30-11-2011): Insegnamenti VII, 2 (2011), 813.

[8] Phan-xi-cô, Thư gởi Chủ tịch Uỷ Ban Quốc Tế chống Án Tử Hình (20-3-2015): L’Osservatore Romano (20-21/3/2015), 7.

[9] Ibid.

[10] Ibid.

[11] Phan-xi-cô, Diễn văn dành cho các tham dự viên cuộc gặp gỡ do Hội đồng Giáo Hoàng Cổ Vũ Việc Tân Phúc Âm Hóa tổ chức (11-10-2017): L’Osservatore Romano (13-10-2017), 5.

[12] X. Vincent of Lérins, Commonitoriumcap. 23: PL 50, 667-669. Về vấn đề án tử hình, khi nghiên cứu các khoản luật của Thập Giới, Uỷ ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh đã nói về “sự tinh tế” thuộc những quan điểm luân lý của Giáo hội: “Theo dòng lịch sử và sự phát triển văn minh, Giáo hội nhờ suy niệm Thánh kinh, cũng đã làm cho tinh tế hơn quan điểm luân lý của mình về án tử hình và chiến tranh; hiện nay quan điểm ấy ngày càng trở nên tuyệt đối. Cơ sở cho quan điểm dường như triệt để này luôn là nền tảng nhân học, [nghĩa là] phẩm giá nền tảng của nhân vị, được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa (Thánh kinh và luân lý: Nguồn gốc Thánh kinh của đạo đức Ki-tô giáo, 2008, số 98).

[13] Công đồng Va-ti-ca-nô II, Hiến chế Mục Vụ Gaudium et Spes, số 4.
Giaophanbaria.org

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
– Vào thứ Ba 8-12-2020, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố Năm Thánh Giuse, để kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân được công bố là người bảo trợ Giáo hội hoàn vũ. Đức Giáo hoàng Phanxicô cho biết ngài thiết lập Năm Thánh này để “mọi tín hữu theo gương Thánh Giuse, củng cố đời sống đức tin bằng cách hằng ngày thực hiện trọn vẹn ý muốn của Chúa.” Dưới đây là những điều bạn cần biết về Năm Thánh Giuse: Tại sao lại có những năm được mang các chủ đề cụ thể (từ Giáo hội)? Giáo hội cử hành diễn trình của thời gian qua lịch phụng vụ - bao gồm các lễ như Phục sinh và Giáng sinh, và các mùa như Mùa Chay và Mùa Vọng. Ngoài ra, các vị Giáo hoàng còn có thể dành riêng những khoảng thời gian nào đó để Giáo hội suy ngẫm sâu sắc hơn về một khía cạnh cụ thể của giáo huấn hoặc niềm tin Công giáo. Một số năm trước đây đã được các vị giáo hoàng gần đây chọn lựa như thế, bao gồm Năm Đức Tin, Năm Thánh Thể và Năm Thánh Lòng Thương Xót.
Tại Việt Nam, ít ai biết được rằng 150 năm trước khi thi hào Nguyễn Du qua đời (1820), văn chương Công giáo đã có một tác phẩm lục bát bằng chữ Nôm đạt mức tuyệt tác: Tác phẩm Sấm Truyền Ca (1670), diễn ca 5 quyển đầu của Cựu Ước, do cha Lữ Y Đoan, một trong những linh mục thế hệ đầu của địa phận Đàng Trong. Cũng chính năm 1820 tác phẩm được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Sau một vận mệnh hẩm hiu suốt hơn ba trăm năm, cuối thế kỷ XX chỉ còn hơn 1/5 tác phẩm sống sót: Sách Sáng Thế Ký (Tạo đoan kinh) và 21 chương đầu của sách Xuất Hành (Lập quốc kinh). Năm 1993 một số trí thức Công giáo đã thực hiện hồ sơ “Về các tác giả Công giáo thế kỷ XVII-XIX”, do Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Tp HCM ấn hành. Quyển sách đã giới thiệu tác phẩm Sấm Truyền Ca đến công chúng.
Từ ngữ: tuyên thánh đúng hơn là phong thánh: Từ phong thánh quen dùng trong tiếng Việt, nguyên ngữ từ tiếng Hy Lạp “Kanon” có nghĩa là thước đo hay tiêu chuẩn hay được nhìn nhận là có giá trị. Ý nghĩa nầy được tìm thấy trong động từ canonizare của tiếng La tinh, rồi canoniser trong tiếng Pháp và Canonize trong tiếng Anh. DHYThuan-ChaDiep.jpg Những tín hữu trong thế kỷ đầu đã phong thánh cho các Tông Đồ khi gọi các Ngài là Thánh. Những vị tử đạo cũng được gọi là thánh. Rồi những thế kỷ kế tiếp, những giáo dân có đời sống thánh thiện, nêu gương sáng và thành mực thước cho người đời cũng được tuyên bố “đang ở trên thiên đàng” tức là thánh. Như vậy theo từ Kanon và theo truyền thống, Giáo Hội không hề phong thánh hay không hề làm cho ai thành thánh cả. Giáo Hội, qua thời gian cầu nguyện lâu dài và qua những phép lạ được thực hiện nhờ lời chuyển cầu của ...
I. Nữ vương các thánh tử đạo 1) Tại sao Đức Maria được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo? 2) Tại sao chọn Nữ vương các thánh tử đạo làm bổn mạng tỉnh dòng? 3) Tỉnh dòng có tình cảm gì đối với Nữ vương các thánh tử đạo? II. Nữ vương các chứng nhân 1) Tân ước có nền tảng cho tước hiệu Đức Maria “Nữ vương các chứng nhân” không? 2) Đức Maria đã sống đời chứng nhân đức tin như thế nào? 3) Tước hiệu “Nữ vương các chứng nhân” có ý nghĩa gì đối với chúng ta? ————- Đây không phải là lần đầu tiên tôi được mời chia sẻ với anh em nhân dịp bổn mạng tỉnh dòng. Vì không muốn lặp lại những điều đã trình bày cho nên năm nay tôi muốn tìm một lối tiếp cận mới liên quan đến danh hiệu bổn mạng tỉnh dòng, qua tựa đề: “Nữ Vương các tử đạo hay Nữ vương các chứng nhân?” Xin anh em hãy kiên nhẫn chịu tử đạo khi nghe bài suy niệm hơi dài, và có thể gây nhiều cú sốc.
Phan Tấn Thành Tại một số nhà thờ mới cất bên Việt Nam, người ta thấy trên Thập giá thay vì tượng Chúa chịu nạn lại có tượng Chúa Phục sinh hay Linh mục Thượng phẩm. Tại sao lại có sự thay đổi ấy? Từ sau công đồng Vaticanô II, người ta chứng kiến một số thay đổi trong lãnh vực phụng vụ. Thoạt tiên xem ra có vẻ mới, và khiến cho có người băn khoăn: phải chăng công đồng Vaticanô II đã thay đổi đức tin của Giáo hội? Thế nhưng nếu xét kỹ ra, thì nhiều sự thay đổi không hoàn toàn mới nhưng lấy lại truyền thống từ lâu đời của Giáo hội mà thôi. Tỉ như ngôn ngữ dùng trong phụng vụ: vào những thế kỷ đầu, phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, và thậm chí tại Rôma ngôn ngữ của phụng vụ là tiếng Hy-lạp, tức là tiếng giao thông thương mại thời đó, chứ không phải là tiếng La-tinh. Ta cũng có thể nói một cách tương tự như vậy về việc thay đổi tượng Chúa chịu nạn bằng tượng Chúa Phục sinh: đây không phải là sự canh tân, song là trở về nguồn.
Trả lời: Vâng, quả thật hộp sọ xuất hiện rất thường xuyên trong nghệ thuật Ki-tô Giáo và ngay cả ngày nay. Tôi có thể hiểu câu hỏi của bạn về thực hành này; bởi vì việc đặt hộp sọ ở khắp mọi nơi có vẻ như là một cái gì đó không lành mạnh – đặc biệt đối với những người đang sống trong một xã hội tiêu dùng và thế tục, nơi người ta thường lảng tránh suy nghĩ về những điều sâu sắc chẳng hạn như cái chết và những gì xảy ra sau đó. Một hộp sọ lành mạnh Khi nghệ thuật Ki-tô Giáo miêu tả những hộp sọ ở gần các vị thánh, nó tượng trưng cho sự khôn ngoan và thận trọng của các ngài. Hộp sọ là hình ảnh đại diện một cách sống động và hấp dẫn về cái chết của con người.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. Hỏi: Thưa cha, liệu Thánh lễ cầu cho người khi còn sống là hiệu lực hơn (mạnh hơn) so với Thánh lễ cầu nguyện sau khi đã chết không? Thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV đã nói Thánh lễ cầu cho khi còn sống là hiệu lực hơn. Xin cha bình luận việc này cho nhiểu người biết. - S. T., Chicago, Hoa Kỳ Đáp: Trong khi bạn đọc trên không cung cấp nguồn của các ý kiến này của thánh Anselmô (Anselm) và ĐGH Biển Đức XV, tôi vẫn cho đó là ý riêng của bạn ấy.Bằng cách nào chúng ta có thể nói rằng Thánh Lễ này là "mạnh hơn" (hiệu lực hơn) so với Thánh lễ kia?
Phụng vụ mừng lễ Các Thánh vào ngày đầu tháng 11, và ngày hôm sau, tưởng nhớ các người qua đời. Xét theo nguồn gốc lịch sử, lễ kính nào ra đời trước: việc kính nhớ các người qua đời có trước, hay lễ các thánh có trước? Linh mục Phan Tấn Thành trả lời. Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải phân biệt nhiều vấn đề. Việc kính nhớ các linh hồn qua đời là một chuyện, còn việc dành ra một ngày trong năm để tưởng nhớ tất cả các linh hồn là chuyện khác. Một cách tương tự như vậy, kính nhớ các thánh là một chuyện, còn dành ra một ngày để kính nhớ tất cả các thánh là một chuyện khác. Chúng ta sẽ cố gắng đi từng bước một: chúng ta hãy khởi hành với thực tại ngày nay, rồi chúng ta sẽ đi lùi ngược lại dòng lịch sử. Ngày nay lễ tưởng nhớ các người qua đời diễn ra vào ngày hôm sau lễ các thánh. Từ khi nào lịch phụng vụ ấn định việc cử hành hai ngày lễ đó?
Cùng với lời kinh cầu nguyện với Đức Mẹ đã được Đức Thánh Cha đọc trong video trong Thánh lễ do Đức Hồng y Giám quản Roma cử hành tại đền thánh Đức Mẹ Tình yêu Chúa ngày 11/03 vừa qua, Đức Thánh Cha đề nghị thêm một kinh nguyện để các tín hữu cầu nguyện vào cuối buổi đọc kinh Mân Côi, xin Đức Mẹ bảo vệ thế giới khỏi đại dịch. Hồng Thủy - Vatican
Đây là lời nguyện chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam để cầu nguyện trong cơn dịch bệnh Covid-19. Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng chúng con đang họp nhau cầu nguyện, tha thiết nài xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Lạy Chúa Cha giàu lòng thương xót xin nhìn đến nỗi thống khổ của đoàn con trên khắp thế giới, đặc biệt tại những nơi dịch bệnh đang hoành hành. Xin củng cố đức tin của chúng con, cho chúng con hoàn toàn tín thác vào tình yêu quan phòng của Cha. Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất, là vị lương y đầy quyền năng và lòng thương xót, xin thương cho các bệnh nhân sớm được chữa lành, và an ủi các gia đình đang gặp khó khăn thử thách. Xin cho lời chúng con khiêm tốn cầu nguyện, được chạm tới trái tim nhân lành của Chúa, xin giảm bớt gánh nặng khổ đau, và cho chúng con cảm nhận được bàn tay Chúa đang ân cần nâng đỡ chúng con.
Bảo Trợ