Hà Nội Một Thời Văn Đoàn

03 Tháng Chín 20183:41 CH(Xem: 203)

Hà Nội một thời văn đoàn

Viên Linh/Người Việt

blank
Nhà thơ Viên Linh cho biết: “Bộ sách ‘Nhà Văn Hiện Đại’ của Vũ Ngọc Phan đã mở ra trong tôi một vài cánh cửa.” Trong hình, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan và vợ là nhà thơ Hằng Phương. (Hình: Zing)

Nhiều khi ngồi vào bàn viết mà không một chữ trong đầu, kinh nghiệm làm việc của tôi (ở đây là viết, là sáng tác hay biên soạn), là cứ bắt đầu đã, nghĩa là cứ nhấn từng ngón tay lên máy chữ.

1.

Sự cử động của hai bàn tay, của những ngón tay, tiếng gõ trên bàn phím của cái máy chữ Olympia cũ kỹ, tiếng sột soạt của mấy trang giấy sẽ thúc đẩy cái đầu suy nghĩ, trí nhớ động đậy, và nhìn vào khoảng trống của tờ giấy trắng: chữ đã xuất hiện; hay ít nhất trước mắt mình đã có vài dòng vài câu cho mình đọc.

Nếu không bắt đầu, không đánh vào chữ trên bàn máy, hay đánh chữ từ bàn máy lên trang giấy, thì làm sao chữ hiện ra như thế kia? Sau này chữ hiện lên nhanh hơn với cái máy computer.

Còn nhớ mấy năm sáu mươi của thế kỷ trước, hàng đêm trong ngôi nhà mái tranh vách gỗ nền gạch thuê trong hẻm Chi Lăng miệt Gia Định, hai người bạn, một trai một gái và tôi là ba, thức khuya trò chuyện và cuối cùng, làm thơ hay viết văn.

Họ là một đôi, riêng tôi một mình. Người bạn nhỏ hơn tôi năm sáu tuổi, cô bạn nhỏ hơn tôi một hai tuổi, cả hai thất nghiệp.

Đúng ra cô bạn chưa từng đi làm bao giờ, còn đang nửa chừng trung học Đệ Nhị cấp Đồng Khánh, cậu bạn đã bỏ học hoàn toàn từ năm học Đệ Ngũ tư thục Hàn Thuyên và sống quanh các tờ báo.

Còn tôi làm phóng viên thường trực cho một nhật báo ở Sài Gòn, đang lạc lõng vì người bạn gái dự trù sẽ cùng nhau lập gia đình thì dự định không thành – một cách nửa vui nửa buồn – nàng được học bổng Colombo bốn năm qua Canada du học, và tôi chưa biết sẽ như thế nào. Thấy rõ ngay rằng nàng xa đất nước và xa tôi bốn năm, ngày về chắc là sẽ khác. Nhưng sự thực không biết có đúng như tôi nghĩ không, vì chẳng bao giờ nàng trở về cả.

Còn lại với đôi bạn kia, ban ngày chúng tôi tản mát, ban đêm trở về ngôi nhà miệt Gia Định, và làm thơ, viết văn. Anh Thọ, một người bạn thuộc ngành giáo dục đang phát triển một ngôi trường tư thục trên Ban Mê Thuột thấy thế, kéo tôi lên tỉnh lỵ miền Tây Nguyên, đẩy tôi vào dạy Quốc Văn cho ba lớp Thất Lục Ngũ của trường, chỉ hai tháng sau lại dạy thêm lớp Luyện Thi Quốc Văn Đệ Tứ.

Thế là tự nhiên bước vào một môi trường mới, điều phải thay đổi thích ứng tức thì là tác phong: nhà văn nhà báo khác nhà giáo nhà sư phạm. Hồi trước tôi tự do phóng túng dù giữa nơi quan-chiêm, làm thầy giáo rồi thì khuôn thước phải giữ gìn đúng mực thước, muốn sao thì cũng vẫn phải nhìn trước nhìn sau, chuẩn bị để gật đầu chào lại nếu có ai bất chợt chào mình ngoài phố, dù không biết người đó là ai! Có thể là học trò mình hay học trò trong trường mình dạy, không chào lại, dù sơ ý, là sẽ có bình phẩm đến tai ngay.

2.

Chúng tôi có lẽ khác lớp bạn trẻ văn nghệ cùng lứa ở chỗ phần lớn họ viết văn làm thơ qua thời, chúng tôi lại chọn làm sinh kế lâu dài. Viết là một nghề cũng như dạy học là một nghề, các bạn tôi mười người thì có tới hai ba người làm nghề viết văn làm báo, bốn năm người làm nghề dạy học, còn lại là bị chọn vào ngành quân sự, chuyên nghiệp hay không.

Một khi chọn nghề viết, nông hay sâu đều có liên hệ tới nghệ thuật, nhiều hay ít phải có ảnh hưởng từ báo chí, và báo chí văn học. Tôi biết những điều đó từ chập chững đôi mươi và dường như không hề có ý coi văn chương là một giai đoạn; không, bộ sách “Nhà Văn Hiện Đại” của Vũ Ngọc Phan đã mở ra trong tôi một vài cánh cửa.

Để có sự nghiệp, người cầm bút phải tạo ra các tác phẩm riêng biệt của mình, nhà văn không thể không có tác phẩm, và nhà văn cũng không thể không có… văn đoàn! Đấy là những ý nghĩ đầu tiên. Và nếu có bạn đọc nào còn nhớ lại được, thì có một giai đoạn chúng ta có rất nhiều văn đoàn được thành lập.

Các văn đoàn có chủ trương riêng, khác biệt nhau, và có nhà xuất bản riêng, cái gương rõ nhất là Tự Lực Văn Đoàn và Nhóm Hàn Thuyên. Hồi ở Hà Nội trước năm 16 tuổi tôi thấy các Nhóm Thế Kỷ với Triều Đẩu và Trúc Sĩ, rầm rộ quảng cáo các tác phẩm “Trên Vỉa Hè Hà Nội” và “Kẽm Trống.” Cũng xấp xỉ thời gian đó nhộn nhịp không kém là “Cầu Sương” của Ngọc Giao và “Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu” của Hoàng Công Khanh. Cũng đã nghe Tạ Tỵ, Thanh Nam…

Như viết ở trên, “…mấy năm sáu mươi của thế kỷ trước,” năm 1960 là dấu mốc rõ nét nhất, năm ấy miền Nam Việt Nam xảy ra cuộc đảo chánh quân sự đầu tiên, do các ông Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông cầm đầu. Lúc ấy chỉ mới sáu năm sau chia cắt đất nước 1954.

Lớp cầm bút trẻ chọn nghề văn nghề báo không nhiều, hay nhiều nhưng rơi rụng cũng lắm nên còn lại chẳng bao nhiêu. May mắn lắm nên gặp nhau từ 1950, 1951 ở Hà Nội, qua các tờ Sinh Lực, Cải Tạo, Tiếng Dân, Vị Ý, Phí Ích Nghiễm (sau là Dương Nghiễm Mậu), Ngô Mạnh Thu và Viễn Linh (sau bỏ dấu ngã) sau này tái ngộ ở Sài Gòn, và đi với nhau một đoạn đường khá dài, dài cả 20 năm.

Còn những người nữa gặp tại Hà Nội cùng thời gian ấy nhưng không bao giờ tôi được gặp lại họ. Đó là Trường Giang, và mấy người nữa đã từng cùng nhau hội họp văn đoàn nơi sân Tòa Án Hà Nội, trên bãi cát phù sa Sông Hồng hay trong Thảo Cầm Viên.

Có lần cùng nhau đạp xe quanh Hồ Tây, nhưng chỉ một lần, vì sau một vòng đạp thì không còn sức để mà hội họp nữa. Nghi Tàm Quảng Bá quá rộng cho nhóm thiếu niên 15, 16 tuổi… Nhóm Sông Hồng của tôi tìm mãi không thấy ai, những Thức, những X, Y… Chỉ phảng phất hình bóng Thuần, chỉ nhỏ nhoi dáng dấp Đông Duy ít tuổi nhất hàng xóm ven Hồ Thiền Cuông.

Niên thiếu văn nghệ Hà Nội thời đó gặp nhau vui sướng nhất là thấy tên thấy bài của nhau trên Tiếng Dân, Cải Tạo, Giác Ngộ, hay nhi đồng hơn, trên Giang Sơn.

…Hồi tưởng lại một thời vô tư trong khi tìm tòi những bóng hình cũ, của gần ba phần tư thế kỷ trước, thật là một nỗi ngậm ngùi khó tả. Nhưng dần dần rồi hy vọng “sẽ có một ngày, mối sầu hôm nay, tưng bừng hội ngộ…”
 Viên Linh - Nguoi-viet.com

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Để chuẩn bị đón Tết cho thật “đàng hoàng,” mẹ tôi cũng như những người phụ nữ lãnh đạo gia đình khác đều phải đi chợ Tết. Đi chợ Tết như là một thủ tục đầu tiên để đón ông bà, đưa ông Táo nghinh Xuân cho thật chu đáo.
Một năm bốn mùa Tạo Hoá tặng ban cho nhân loại, mùa nào cũng có những dấu ấn riêng và đặc trưng của nó. Đông có cái lạnh và xơ xác khiến con tim ta ngậm ngùi. Thu có cơn gió êm đềm nhẹ nhàng giỡn chơi cùng mặt hồ lăn tăn cùng chiếc lá. Hạ có bầu trời xanh trong vắt thanh cao. Còn xuân thì luôn gợi lên trong ta cái gì đó vừa nhẹ nhàng, vừa tươi vui, vừa ấm cúng.
Đến năm mười ba, tôi mới biết dành dụm những đồng tiền mừng tuổi cho một hy vọng mà, hôm nay, hy vọng đó, tôi gọi là một hạnh phúc. Hạnh phúc của tôi thường được tôi nhìn lại. Nhìn lại từ đoạn đầu đời tăm tối nhất, hồn nhiên nhất. Tôi không tin, không bao giờ tin nữa, thứ hạnh phúc người ta tưởng rằng tôi đang nắm chặt hay thứ hạnh phúc tôi còn mơ ước khi tôi bị đẩy xuống vực thẳm của phiền muộn.
Bên cạnh ca khúc « Ly rượu mừng » ( mà đến đầu năm 2016 mới được cho phép hát ở Việt Nam ! ), cứ mỗi Tết đến, những ca khúc quen thuộc của mùa Xuân lại rộn ràng cất lên trong các chương trình văn nghệ mừng năm mới. Đại đa số các sáng tác bất hủ về chủ đề Xuân đều là những bài hát có từ trước năm 1975. Trước thềm năm mới Kỷ Hợi, hôm nay chúng tôi xin mời quý vị điểm qua một số bản nhạc Xuân tiêu biểu, với sự tham gia của giáo sư – nhạc sĩ Trần Quang Hải tại Paris.
Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này Phạm Quỳnh viết bằng tiếng Pháp nhan đề Psychologie du Tet, đăng trên phần Pháp văn của Tạp chí Nam Phong số 149-1924, sau này có in trong Tiểu luận 1922-1932 (Essais 1922-1932) và đã được nhà văn Nguyên Ngọc dịch rất đạt ra tiếng ta, xuất bản năm 2007. Nhưng ở đây, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc bản dịch của Tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, và là tác giả luận văn Tìm hiểu tạp chí Nam Phong để tạo thêm một nét hứng thú trong ngày Tết này.
Trong ngôn ngữ, có lẽ không có chữ nào gợi nên những điều tốt đẹp bằng chữ “xuân”: nắng xuân, mưa xuân, chiều xuân, đêm xuân, ngày xuân, hoa xuân, vườn xuân, sắc xuân, thanh xuân, tuổi xuân, hồi xuân, nghênh xuân, du xuân, tình xuân, đón xuân rồi những là bến xuân, phiên gác đêm xuân, nhớ một chiều xuân…
Đặc điểm cơ bản của thể chế Trung Quốc là hạn chế sự tự do của con người, bóp chết tính sáng tạo, bóp chết tinh thần doanh nhân. Thời đại người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất là thời Xuân Thu Chiến Quốc và thời nhà Tống. Đây không phải là sự ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là những thời đại người Trung Quốc được tự do nhất.
Tôi là người sinh trưởng ở vùng Mỹ Tho – Bến Tre, lớn lên đi làm việc ở Sài Gòn. Nhưng tôi cũng có cơ hội đến Vĩnh Long hai lần: lần thứ nhất vào khoảng năm 1959 khi tôi được trường (Petrus Ký) cử đi học khóa Nhân Vị ở một nhà thờ ở Vĩnh Long, và lần thứ nhì vào khoảng năm 1973 khi tôi đi thăm viếng các sở học chánh và trường Trung Tiểu Học thuộc các tỉnh Miền Tây Nam Phần. Bây giờ, sau hơn ba mươi năm xa cách, khi nhắc lại Vĩnh Long tôi vẫn còn một số hình ảnh đẹp đẽ của tỉnh này.
Kahlil Gibran * Nguyễn Ước (Danlambao) dịch - Người thương yêu ơi, hôm qua anh cô đơn trong thế giới này, cô đơn của anh tàn nhẫn chẳng kém cái chết. Anh cô đơn như đóa hoa mọc dưới chiếc bóng của các tảng đá sừng sững. Cuộc đời chẳng để mắt tới sự hiện hữu của anh và anh cũng chẳng lưu tâm tới sự hiện hữu của Cuộc đời.
Đêm Giáng Sinh, gió đập mạnh vào cánh cửa không ngừng, tiếng đập như có người về gọi cửa. Gia đình đang chờ các con về mừng sinh nhật Chúa. Bà chủ nhà mở cửa ra, không phải các con, bà thấy một người đàn ông lạ, trung niên, đang co ro đứng lặng yên trước hiên nhà mình. Bộ dáng của ông ta đúng là bộ dáng của một kẻ không nhà, một homeless.
Bảo Trợ