Độc Đáo Đình, Chùa, Miếu Miền Tây: Nơi Lưu Giữ 85 Sắc Thần Thời Nguyễn

19 Tháng Tám 20184:02 CH(Xem: 105)
Độc đáo đình, chùa, miếu miền Tây: Nơi lưu giữ 85 sắc thần thời Nguyễn
blank
Miếu Công thần Vĩnh Long nhìn từ bên ngoài ẢNH: HOÀNG PHƯƠNG Nằm bên tả ngạn sông Cổ Chiên, miếu Công thần Vĩnh Long là hậu thân của miếu Hội đồng thờ các vị công thần triều Nguyễn. Di tích này được các nhà nghiên cứu quan tâm bởi nơi đây hiện còn giữ được nhiều đạo sắc phong nhất Nam bộ.

 

 

Gian nan miếu công thần…

Tọa lạc tại phường 5, TP.Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, miếu Công thần Vĩnh Long nhìn ra rạch Cái Sơn. Trước sân miếu có một bàn thờ với 2 viên đạn và một mảnh vỡ của khẩu thần công. Hai bên bàn thờ đặt đôi kỳ lân bằng gốm Cây Mai có niên đại hơn 100 năm. Theo ông Tư Hiếu, 70 tuổi, là ông Từ lo việc nhang khói cho miếu, thì mảnh vỡ của khẩu thần công cùng 2 viên đạn sắt được người dân chài lưới vớt được từ dưới lòng sông Cổ Chiên đem vào miếu thờ cúng.

 

Miếu Công thần được xây dựng theo kiểu đình làng Nam bộ. Chính tẩm là ngôi nhà tứ trụ, nối với võ qui và phần kiến trúc ngoài cùng là võ ca, nơi có sân khấu diễn xướng khi tổ chức lễ hội. Giữa chính tẩm có bàn thờ Hội đồng, thờ chung các vị thần linh. Sát vách hậu là bàn thờ chính đặt khánh thờ thần chạm trổ, sơn son thếp vàng. Ngoài phần kiến trúc chính còn có nhà khách, hành lang đông tây, nhà bếp. Hệ thống giàn trò như cột, kèo, xiên, trính đều bằng gỗ căm xe và các loại gỗ quý khác, nhưng theo thời gian một số cũng đã bị hư hại.

Ông Nguyễn Xuân Hoanh, Phó giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Vĩnh Long, cho biết sau khi được công nhận di tích lịch sử vào năm 1998, từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó có mạnh thường quân đóng góp và nguồn kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia, ngôi miếu được sửa chữa trùng tu nhiều đợt như làm lại võ ca, lợp mái ngói, tu bổ chánh điện, võ qui, chú thích chữ quốc ngữ các hoành phi, câu đối...

 

blank

Bàn thờ Hội đồng thờ chung các vị thần linh

 

Theo Đại Nam nhất thống chí, vào năm Ất Mão (1795) đời Trung hưng đã xây dựng miếu Hội đồng Gia Định thành tại thôn Tân Triêm, huyện Bình Dương (Gia Định). Đến năm Gia Long thứ 7 (1808) xây miếu Hội đồng Định Tường. Năm Gia Long thứ 8 (1809) xây miếu Hội đồng Biên Hòa… Miếu Hội đồng Vĩnh Long được xây dựng muộn hơn, vào năm Minh Mạng thứ 17 (1837) tại thôn Thanh Mỹ Đông, huyện Vĩnh Bình, nhưng dân gian thường gọi là Đình Khao. Tương truyền các quan ở thành Vĩnh Long thời bấy giờ thường sử dụng nơi đây làm địa điểm mở tiệc khao thưởng quân lính.

 

Theo tài liệu của Bảo tàng Vĩnh Long thì khi chiếm được 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, sau năm 1867 thực dân Pháp tháo dỡ miếu Hội đồng Vĩnh Long lấy gỗ đem đi cất Tòa bố. Người dân đã đem toàn bộ sắc thần và một số đồ tự khí của miếu về thờ tạm tại đình làng Thiềng Đức. Đến năm 1915, phong trào chấn hưng văn hóa ở Nam Kỳ lan rộng. Bấy giờ ở Vĩnh Long có bà Trương Thị Loan, con gái ông bá hộ Trương Ngọc Lang và bà Lê Thị Danh, vợ ông Đốc phủ Tươi cùng thân hào nhân sĩ địa phương đã đệ đơn, vận động chính quyền thực dân xin tái lập miếu Hội đồng.

Nhưng mãi đến 3 năm sau, năm 1918 Thống đốc Nam Kỳ mới ký quyết định cho phép tái lập ngôi miếu. Hiện nay, trong miếu vẫn còn lưu giữ nguyên bản giấy phép chấp nhận cho khôi phục lại ngôi miếu do Thống đốc Nam Kỳ ký ngày 27.4.1918 và được phóng to đem trưng bày ở khu vực võ ca, phục vụ khách tham quan.

 

Trân trọng di sản đặc biệt

Sau khi được tái lập, người dân Vĩnh Long đã đóng góp nhiều công sức, tiền của để dựng lại ngôi miếu, như ông Nguyễn Văn Kỷ hiến một mẫu đất, bà Trương Thị Loan đóng góp 4.000 đồng Đông Dương. Lúc bấy giờ giá lúa chỉ có 2 cắc một giạ. Khi ngôi miếu được xây dựng lại xong, để tránh sự dòm ngó của chính quyền thực dân, người dân phải đổi tên miếu Hội đồng thành miếu Công thần và cất một am nhỏ thờ những thanh niên Vĩnh Long tử trận khi sang châu Âu tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918), để khi tổ chức lễ hội nhà cầm quyền Pháp không gây khó dễ.

blank
Năm 1918 Thống đốc Nam Kỳ cho phép tái lập ngôi miếu

Điều quan trọng là hiện nay miếu Công thần còn lưu giữ nguyên vẹn 85 đạo sắc, gần như đầy đủ hệ thống thần linh được triều đình nhà Nguyễn sắc phong thờ cúng ở Nam bộ. Theo tư liệu ông Nguyễn Xuân Hoanh cung cấp thì tháng 12.1848, theo đề nghị của tỉnh Vĩnh Long, vua Thiệu Trị đã cấp cho miếu Hội đồng Vĩnh Long 34 đạo sắc và gia phong thêm 34 đạo sắc. Đến năm 1850, vua Tự Đức gia tặng thêm 17 đạo sắc. Đây là hệ thống thần linh gồm 34 vị nhiên thần và nhân thần.

 

Nhiên thần bao gồm những vị thần do những người đi khai hoang, mở cõi đem từ quê cũ miền Bắc, miền Trung vào. Trong đó, có những vị thần huyền thoại của người Việt cổ. Những vị thần ở duyên hải miền Bắc, miền Trung, đồng thời cũng có những vị thần tiếp thu từ văn hóa Champa hoặc là những biểu tượng của núi sông, sơn hà xã tắc. Trong số các nhiên thần có vị nữ thần nguồn gốc từ miền Trung là Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi, bà mẹ xứ sở của người Champa. Ngoài ra còn có nhiều vị thần khác như thần Sơn Tinh, Thủy thần, thần Rái cá, thần Bạch mã…

Trong các nhân thần được thờ tại miếu, vị thần có nguồn gốc thời nhà Lê là Phi Vận tướng quân, Tùng Giang Văn Trung, Trung đẳng thần Nguyễn Phục. Ông được tôn thờ là vị thần linh phù trợ người đi biển. Tiếp đến là hai vị thần lúc sinh tiền có công khai phá vùng Thuận Hóa, Quảng Nam, Phú Yên là Đô đốc Bùi Tá Hán và Tham tướng Lương Văn Chánh. Hai vị này được sắc phong Thượng đẳng thần. Bên cạnh còn có những vị có nhiều công lao với sự nghiệp khai phá đất phương Nam như Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Cửu Vân, Trần Thượng Xuyên… đều được phong Thượng đẳng thần.

 

Ông Tư Hiếu nhớ lại, thời chiến tranh, do sợ bị bom đạn, hỏa hoạn bất ngờ nên toàn bộ sắc thần phải đem đi cất giấu. Sau năm 1975, ngôi miếu bị trưng dụng làm cơ quan quân sự. Bấy giờ, có một số người đòi đem sắc đi nơi khác, nhưng nhiều người phản đối với lý do đình miếu phải có bảo vật, không thể đem sắc đi đâu được. May mắn là không bị mất lá nào. Trong khoảng thời gian đó, đến ngày rằm tháng 7 âm lịch một số người tâm huyết vẫn đem lễ vật tới cúng để tưởng nhớ.

 

“Hiện nay toàn bộ các đạo sắc đều được giữ gìn cẩn thận. Để đề phòng mất mát, cơ quan chức năng đã cho gắn camera giám sát 24/24. Ngoài ra, chúng tôi còn nhờ các chuyên viên ở Thư viện TP.HCM xuống chụp ảnh “số hóa” toàn bộ 85 lá sắc, sao chép nhiều bản để lưu giữ, phòng bất trắc. Mới đây, nhân kỷ niệm 100 năm ngày tái lập miếu Công thần, các đạo sắc được chụp lại, thu nhỏ trong 2 quyển album, đặt trên cái 2 cái giá một bên là nhiên thần, một bên là nhân thần, đồng thời phóng to 10 đạo sắc tiêu biểu, đẹp và nguyên vẹn để phục vụ khách tham quan, tìm hiểu”, ông Nguyễn Xuân Hoanh cho biết.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Võ Hương An - Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?
Người mẹ của các bậc vĩ nhân (Kỳ 3): Mẹ của Thánh Ghandi – Người phụ nữ với đức tin đã dưỡng nên một ‘linh hồn vĩ đại’ - “Đằng sau mỗi người đàn ông thành đạt đều có bóng dáng một người phụ nữ”, người ta vẫn luôn nói thế để đề cao vai trò của người vợ đối với thành công của nam giới. Đúng vậy, nhưng ít ai để ý rằng trước khi người phụ nữ ấy đến với cuộc đời anh ta thì đã có một người phụ nữ khác sinh thành, nuôi dưỡng, dạy bảo cho anh ta từ những bước đi đầu đời, người gieo những hạt giống tâm hồn đầu tiên vào đầu óc thơ trẻ của anh ta, chăm lo tưới bón cho nó bằng tình yêu thương để sau này nó lớn thành đại thụ.
(Bài viết nhân ngày sinh của Phan Châu Trinh, 9/9/1872 – 9/9/2018) Phan Châu Trinh (1872 – 1926) là một trong những nhân vật lịch sử điển hình của thế kỷ 19, 20. Ông là một nhà văn hóa, một nhà tư tưởng, và một nhà cách mạng. Sinh ra và trưởng thành trong bối cảnh đất nước bị đô hộ bởi thực dân Pháp, với lòng yêu nước nồng nàn, ông đã trăn trở về con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Không giống như con đường của bao chí sĩ khác, con đường của ông rất đỗi khác biệt, thể hiện tầm nhìn lớn lao và chứa đựng nhiều thách thức.
Lật chồng báo cũ: QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC TUYỆT VỜI 92 NĂM TRƯỚC - Quan điểm giáo dục tại Đông Dương năm 1926 Nguyễn Đình Thành - Đọc lại báo xưa từ năm 1926 triết lý đã rất rõ ràng: …Mục đích sơ học và và cao đẳng tiểu học là cốt dạy dỗ cho trẻ con ngày sau có đủ học thức mà đối phó với đời, và ngày sau biết quyến luyến xứ sở và chức nghiệp của mình, chớ không phải là đào tạo một hạng người cứ tưởng mình là giỏi giang xa hẳn khác đồng bào, vì biết giăm bảy chữ tây, không nhớ cổ tục là gì và không có giây liên lạc với nòi giống nữa.
Tìm hiểu lịch sử là công việc vô cùng thiết yếu vì có hiểu người xưa, có hiểu được lịch sử mới hiểu được vận mệnh nước nhà mà khôi phục lại. Trên Diễn đàn BBC nhà báo Nguyễn Giang đưa ra một cách nhìn khá mới lạ để ghi công và đánh giá những nhân vật lịch sử đã đóng góp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ. "Các vị truyền giáo có công tạo ra bộ mẫu chữ, nhưng việc này không có gì quá độc đáo hay quá khó khăn và giả sử nếu không có họ thì việc đó cũng có thể làm được sau này."
Chỉ nhắc cái cơ bản dễ nhớ để viết chính tả tương đối ổn và hạn chế lỗi ở mức thấp nhất . 1 . DÙNG TỪ LÁY THEO QUI ƯỚC: - Dấu Hỏi đi với Sắc và Ngang . - Dấu Ngã đi với Huyền và Nặng . HỎI + SẮC:
Hát ru là hình thức diễn xướng quen thuộc của Việt Nam, mang đậm chất quê hương, được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, là sự ngọt ngào không thể thiếu của tuổi ấu thơ, như ký ức mãi mãi đi theo mỗi người về những khoảnh khắc yên bình nhất trong vòng tay của mẹ.
Nói về nguồn gốc ngày lễ Rằm tháng bảy, phải nói đến nguồn gốc của lịch âm dương, mà chúng ta ngày nay gọi là lịch âm. Theo các tài liệu lịch sử ghi chép lại thì lịch âm dương được cho là do Hoàng Đế sáng chế ra. Hoàng Đế là ông vua đầu tiên thời Ngũ Đế cách hiện nay khoảng 4700 năm.
Từ ngày còn nhỏ, chúng ta đã được nghe biết bao câu chuyện cổ tích qua giọng kể của bà, của mẹ. Từ những lâu đài của nàng công chúa và hoàng tử, cho đến cánh rừng rậm rạp nơi mụ phù thủy cư ngụ, vẻ đẹp hiền từ của Ông Bụt, Bà Tiên…, tất cả đã trở thành một phần không không thể thiếu trong ký ức tuổi thơ. Đã bao năm tháng trôi qua, những câu chuyện dân gian ấy vẫn còn nguyên sức hút, tuy giản dị, nhẹ nhàng mà gửi gắm bao lời răn dạy vô cùng trân quý của cha ông.
Ngày nay, những gia đình có điều kiện thường cho con em trong nhà ăn ngon, mặc đẹp. Nhưng những bậc hiền nhân trong lịch sử lại dạy con sinh hoạt tiết kiệm đạm bạc, mà Nguyễn Trãi là một trong số đó. Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu Ức Trai, là khai quốc công thần nhà Lê sơ và cũng là một nhà văn hoá lớn. Phan Huy Chú nhận xét: “Ông Nguyễn Trãi tuổi trẻ đã văn chương nổi tiếng. Kinh sử, bách gia, binh thư thao lược, đều am hiểu cả” (Lịch triều hiến chương loại chí, 1961).
Bảo Trợ