Chương 3 - 4

17 Tháng Tám 20185:24 SA(Xem: 31)
Chương 3
Tàu chạy gần đến Sàigòn, thì hai người trong số các người được vớt lên tàu bị bệnh tả. Bác sĩ thường trực trong tàu vội vàng lo cho họ ở riêng, và tìm phương cứu chữa. Ông Chánh và vài người đàn ông khỏe mạnh đã tiêm thuốc phòng ngừa, được đi lại giúp đỡ người bệnh. Mọi người trong tàu nhốn nháo lo sợ. Hai em Gương Lành nghe nói người làng bị bệnh tả thì ngồi khóc sụt sùi. Cậu Liêm hỏi thì hai em trả lời:
 
- Em thấy người ta bị bệnh tả, em nhớ đến má em cũng bị bệnh ấy mà chết. Má em vì săn sóc người bệnh nên bị lây, bây giờ ba em lại không sợ cứ đi giúp họ, lỡ may…
 
Cậu Liêm an ủi:
 
- Em đừng lo. Má em bị lây vì bà không được tiêm thuốc phòng ngừa, còn ba em đã được bác sĩ tiêm thuốc phòng ngừa, làm sao mà bị lây được.
 
Sau nửa ngày chạy chữa vô công hiệu, hai người bị dịch tả chết. Người ta phải làm lễ thủy táng. Và lập tức mọi người trong tàu đều được tiêm thuốc phòng ngừa bệnh dịch tả. Tàu đến hải phận Sàigòn, có chiếc tàu nhỏ ở Sàigòn, chở một hoa tiêu khác ra lái tàu lớn vào sông. Ông Thuyền trưởng đánh điện cho nhà cầm quyền ở Sàigòn hay, trên tàu có hai hành khách bị dịch tả chết. Lập tức có lệnh tống đạt lại, truyền mọi người trong tàu không được lên đất. Tàu cập bến Khánh Hội, nhà cầm quyền và một bác sĩ chuyên môn lên tàu khám nghiệm. Họ cho phép các hành khách được lên đất, nhưng phải tạm trú trong một ngôi nhà gần Thương khẩu. Trong thời gian 40 ngày, nếu triệu chứng dịch tả không tái phát, họ mới được về nhà. Trong thời gian này, cấm mọi người không được tiếp xúc với người ngoài. Lệnh truyền ra, ai nấy đều buồn bã, nhất là các hành khách chính thức của tàu, họ đâm ra bực tức với những người bị nạn chìm ghe.
 
Ông bà Thành Hưng được tin con về bằng đường thủy, liền đi đón, nhưng khi nghe cớ sự, ông bà bồn chồn lo lắng. Cậu Liêm viết thơ nhờ một người cảnh sát thương khẩu chuyển giao cho cha mẹ yên lòng. Trong thơ, cậu cũng bày tỏ với cha mẹ về hoàn cảnh của cha con ông Chánh, cậu ngỏ ý ước ao cha mẹ thuận ý vận động xin nhà cầm quyền cho nhận lãnh cha con ông về nuôi, đồng thời cậu xin cha mẹ gởi tiền bạc, bánh kẹo và mua quần áo theo kích thước cậu đã đo, gởi vào cho hai em Gương Lành mặc. Ông bà Thành Hưng, tuy chưa biết cha con ông Chánh là người thế nào, nhưng vì thương con, nên ông bà đã làm mọi sự như ý con xin, và cho người nhà đem vào. Vận động mãi, người nhà mới được phép gặp cậu Liêm. Cậu mừng rỡ, lấy quần áo mới cho hai em Gương Lành mặc, còn tiền bạc, bánh kẹo, thì cậu phân chia đều cho hết mọi người bị nạn, vì cậu hy vọng thế nào cha mẹ cậu cũng xin được nhà cầm quyền cho nhận lãnh cha con ông Chánh ở lại đất Sàigòn, nên cậu không đưa tiền bạc gì cho ông Chánh. Trong mấy ngày trên tàu, và thời gian tạm trú ở bến Khánh Hội, cậu Liêm và hai em Gương Lành không rời nhau nửa bước. Một hôm, nhân lúc không có ông Chánh, cậu Liêm hỏi hai em:
 
- Anh muốn đem hai em về ở với ba má anh, và anh em ta sẽ đi học với nhau, các em có bằng lòng không?
 
Em Gương thưa nhỏ nhẹ:
 
- Em muốn lắm mà không biết ý ba em thế nào?
 
Cậu Liêm thừa dịp, đem ý mình nói với ông Chánh, nhưng ông Chánh đã từ chối:
 
- Cậu ơi! Cha con tôi được cậu thương yêu giúp đỡ thế nầy, thì thiết tưởng suốt đời kết cỏ ngậm vành, chúng tôi cũng không thể đền ơn cậu được, nhưng ngặt vì các người làng tôi bỏ nhà ra đi, là do tôi đề xướng dẫn dắt, nay nửa đường chưa đến nơi đến chốn, tôi lại bỏ họ bơ vơ thì mất chữ thành tín. Chi bằng cậu để cho tôi lo việc cho họ yên đâu đó, rồi sau nầy, nếu ông bà và cậu xét tài hèn trí mọn của tôi, có thể giúp đỡ được việc gì cho ông bà và cậu, bấy giờ tôi xin vâng ngay.
 
Ở nhà, ông bà Thành Hưng cũng làm đơn trình lên phủ Thống Sứ để xin bảo lãnh cha con ông Chánh, nhưng lá đơn bị trả về. Nhà cầm quyền đòi điều kiện phải có đủ giấy chứng chỉ hạnh kiểm lương thiện nơi ông Chánh cư trú, mới cho phép ông ở lại Sàigòn.
 
Hai lần thất vọng, cậu Liêm buồn rầu khôn xiết. Cậu khóc tấm tức. Hai em Gương Lành không biết nguyên do, liền hỏi:
 
- Làm sao anh Hai khóc? Anh Hai nhớ ba má à?
 
Thấy sắp phải xa hai em nhỏ đơn sơ, dễ thương, cậu Liêm lại càng buồn. Ông Chánh cũng biết thế, nhưng ông không tìm giải pháp nào làm vui lòng cậu được. Thời hạn 40 ngày qua, bác sĩ chứng nhận bệnh dịch tả không còn tái phát nữa, nhà cầm quyền cho các hành khách về nhà, còn các người bị nạn bão, đều được lên chiếc tàu nhỏ trở ra Phan Thiết. Ở đó nhà cầm quyền địa phương sẽ đem họ đến Sông Lũy và giúp họ công việc sinh sống. Mọi người vui mừng thỏa mãn ; riêng cậu Liêm và cha con ông Chánh buồn bã chua xót.
 
Sáng ngày, lúc mọi người sắp sửa lên tàu ra Phan Thiết, cậu Liêm đưa chiếc vali của mình cho ông Chánh và nói:
 
- Cháu không ngờ sự thể xảy ra ngoài ý muốn, cháu xin bác cầm lấy vali của cháu đây, trong đó có nhiều quần áo bác dùng được. Ít lâu nữa cháu sẽ liệu ra tìm bác và hai em.
 
Cậu Liêm ôm choàng lấy hai em Gương, Lành, vừa hôn vừa khóc:
 
- Thôi anh Hai tạm biệt hai em. Ít lâu nữa, anh sẽ đem hai em về ở với anh.
 
Nói xong, cậu tháo chiếc dây vàng đeo vào cổ cho em Gương và mở chiếc “lắc” bạc mang vào tay cho em Lành:
 
- Hai em giữ lấy kỷ niệm nầy để nhớ đến anh!
 
blank

Trong số những người đáp tàu đi Phan Thiết hôm nay, có cả bác sĩ đã khám bệnh cho các hành khách chuyến tàu vừa rồi. Ông đi Phan Thiết để đón gia đình ông đang ở đó, ra Nha Trang nghỉ. Cậu Liêm giới thiệu cha con ông Chánh với bác sĩ và xin bác sĩ giúp cho ông và các người làng khi đến Phan Thiết có phương tiện đi Sông Lũy.
 
Tàu ra đã khá xa, mà cậu Liêm vẫn đứng sững nhìn theo. Ông Chánh đứng trên boong tàu, nghẹn ngào nhìn xuống bến, còn hai em Gương Lành thì mếu máo gọi:
 
- Anh Hai ơi! Anh Hai ơi, mau ra đón các em nghe, anh Hai!
 
Cậu Liêm trở về nhà nét mặt buồn thiu. Cha mẹ cậu hỏi thì cậu rưng rưng nước mắt trả lời:
 
- Cha con ổng lên tàu đi Phan Thiết rồi!
 
Ông Thành Hưng an ủi con:
 
- Thôi con đừng buồn, để ít lâu ba sẽ xin phép, lo liệu cho cha con ổng vào ở với mình.
 
Bà Thành Hưng thắc mắc:
 
- Hai đứa nhỏ tánh tình ra sao mà con thương dữ vậy? Một mình con chẳng sung sướng hơn sao mà còn thích có em nuôi?
 
- Má chưa biết đó, chớ má nói chuyện với hai đứa nhỏ một chặp, rồi má còn thương hơn con đẻ của má nữa! Thiệt con chưa hề thấy hai đứa nhỏ nào như hai đứa nhỏ nầy. Nét mặt chúng lúc nào cũng vui tươi, hiền lành, tánh tình thật thà, dễ thương hết sức!
 
Cậu Liêm về nhà đã hơn 10 ngày, mà chưa thấy cha đi Sông Lũy thì cậu hối thúc, nhưng ông Thành Hưng phần vì bận việc, phần thì có ý hứa sơ qua cho con yên lòng, chớ không có ý đi thật, nên chỉ ầm ừ không nhất định. Cậu Liêm thấy vậy buồn lắm, cậu bỏ ăn rồi phát bệnh, bà Thành Hưng bàn riêng với chồng:
 
- Thuở nay thằng con mình chưa hề xin điều gì quấy quá, có lẽ nó nhận xét cha con ông Chánh đúng đó! Thôi để tôi coi cửa hàng, mình xin giấy đi ra Sông Lũy thử xem. Nếu quả thật như lời con nói thì mình bảo lãnh đem về, bằng không, mình về bảo nó là cha con ổng không muốn vào nữa, chẳng sao!
 
Ông Thành Hưng tán thành ý kiến vợ. Thấy cha sắp sửa đi Sông Lũy, cậu Liêm mừng quýnh đòi đi theo, bị cha cậu rầy:
 
- Bộ con tưởng ba không biết đàng đi Sông Lũy sao? Ba đi vắng thì con phải ở nhà với má con chớ. Được việc ba sẽ tin về ngay cho con khỏi trông!
 
Cậu Liêm tiu nghỉu, nhưng cũng mừng thầm, ít nữa cha cậu sẽ đưa tin về. Ông Thành Hưng lấy vé đi Sông Lũy. Đến nơi ông hỏi thăm tin tức mấy người Quảng Nam mới đến làm ăn nơi đây. Người ta chỉ chỗ họ ở cho ông. Ông đến nơi, thấy mọi người đang ở tạm trong đình làng. Khi mấy gia đình nầy đến Phan Thiết, nhờ ở Sàigòn thông báo trước, nhà cầm quyền địa phương đã giúp đỡ họ di chuyển về Sông Lũy và ông Lý trưởng sở tại đã cho họ tạm trú trong đình làng, chờ làm xong nhà riêng cho mỗi gia đình. Công việc làm thì không thiếu : ai muốn đi hái bông, cán bông thuê tùy ý, ai muốn nhiều tiền hơn thì đi phát rẫy, vỡ đất cày thuê. Xem ra ai nấy đều thỏa mãn. Mấy người nghe nói thân sinh của cậu Liêm đến, liền xúm lại chào hỏi, ca tụng công ơn cậu Liêm đã giúp đỡ họ. Họ khen ông có phước, vì được một người con hiền đức. Ông Thành Hưng nghe người ta khen con mình, lấy làm cảm động lắm. Ông hỏi thăm cha con ông Chánh, thì họ cho biết:
 
- Khi tàu tới Phan Thiết, thì ông bác sĩ muốn cho hai đứa nhỏ con ông Chánh, đi với gia đình ông ra Nha Trang chơi vài tuần. Phần chúng tôi, cũng đã có nhà cầm quyền giúp đỡ cho đủ phương tiện, không cần có ông Chánh, nên ổng đi theo con ra Nha Trang, chừng vài tuần sẽ trở lại.
 
Ông Thành Hưng nghe nói thế, vội vàng phân phát chút quà cho họ, rồi từ giã, kiếm xe ô tô đi ngay ra Nha Trang. Đến Nha Trang thì trời đã sáng, ông tìm khách sạn ăn uống, nghỉ ngơi một lúc rồi đi tìm cha con ông Chánh. Ông Thành Hưng không biết tên ông bác sĩ nên chẳng biết cách nào mà tìm, cứ đi lang thang cầu may. Ông ta đi một vòng lên ga xe lửa rồi xuống đường lộ dọc theo bờ biển, bỗng ông gặp một người đàn ông đứng tuổi ăn mặc theo lối quê, tay xách vali vừa đi vừa khóc, ông liền chạy lại hỏi:
 
- Chào ông, chuyện gì mà ông khóc?
 
Người đàn ông mếu máo:
 
- Ôi! Hai đứa con tôi bị nạn xe lật, chết cả rồi!
 
Nói xong ông lại khóc to hơn. Ông Thành Hưng thấy chiếc vali người ấy cầm là của con mình, thì đoán chắc đó là ông Đặng Trung Chánh, nên hỏi dồn dập:
 
- Có phải ông là ông Đặng Trung Chánh không? Hai con ông bị nạn xe làm sao, xin kể hết cho tôi nghe. Tôi là thân sinh của cậu Liêm đây!
 
Người đàn ông lau nước mắt, trả lời:
 
- Phải, tôi là Đặng Trung Chánh. Cha con tôi được cậu Liêm giúp đỡ tận tình. Khi chúng tôi từ giã cậu để đi Phan Thiết, thì có một ông bác sĩ đi cùng chuyến tàu. Ông ta thích nói chuyện và dẫn hai cháu đi chơi trong tàu. Ra Phan Thiết, ông lại ngỏ ý muốn đem chúng nó đi theo gia đình ông ra Nha Trang vài tuần, rồi ông sẽ cho xe đưa về Sông Lũy. Tôi thấy ông tốt quá, đành theo ý ông. Tới đây ổng thuê phòng trọ cho cha con tôi ở, còn gia đình ổng thì ở lại trong nhà một người bạn. Hằng ngày ổng cho xe đến đón các cháu đi tắm, đi xem phong cảnh với hai con ổng. Sáng hôm qua, ổng lại đem các cháu đi chơi Hòn Chồng, rồi đi Ninh Hòa, hẹn đến chiều thì về. Mãi đến tối mịt, tôi cũng chưa thấy, liền chạy đến nhà ông hỏi thăm, thì người nhà cho biết xe ông bị lật, ông bà bị thương nặng, còn mấy đứa nhỏ thì có lẽ chết cả rồi, vì trong nhà có người đi ra chỗ xảy ra tai nạn mà chưa về, nên chưa được tin đích xác!
 
Ông Thành Hưng an ủi:
 
- Thôi chúng ta trở về nhà trọ đợi tin. Họ nói có lẽ chớ họ có biết rõ ràng gì đâu mà ông vội buồn!
 
Ông Chánh dẫn ông Thành Hưng về nhà trọ, ông chỉ cái vali cho ông Thành hưng xem và nói:
 
- Đây là cái vali của cậu Liêm giao cho tôi khi ở bến tàu Khánh Hội. Tôi không muốn nhận, nhưng sợ cậu buồn, nên cầm đem theo chớ thiệt tôi có cần dùng gì đâu.
 
Hai người đang nói chuyện thì một người thanh niên đi vào hỏi thăm:
 
- Ở đây có ai tên là Đặng Trung Chánh không?
 
Ông Chánh vội vàng đứng dậy trả lời:
 
- Tôi đây, tôi là Đặng Trung Chánh.
 
- Thế thì ông lên nhà cho ông Bác sĩ gặp.
 
- Thưa cậu, thế ông Bác sĩ về nhà rồi à? Ông bị thương nặng nhẹ? Mấy đứa con tôi có sao không, cậu?
 
- Thưa, tôi không biết việc gì hết, tôi đang làm việc, thì có người ra bảo đem xe đến đón ông lên. Thôi xin ông ra đi với tôi.
 
Ông Thành Hưng cũng lên xe đi với ông Chánh. Đến nơi, vừa xuống xe thì hai em Gương lành ở trong nhà chạy ra ôm chầm lấy ông Chánh:
 
- Ba ơi! Ba ơi!
 
Ông Chánh sửng sốt ôm lấy hai con và hỏi dồn dập:
 
- Hai con không bị gì cả à? Ba nghe nói xe Bác sĩ bị lật mà?
 
Em Lành nhanh nhẩu:
 
- Xe Bác sĩ bị lật ba à, mà không có ai bị nặng, chỉ có ông bà ngồi đàng trước bị thương nhẹ nơi chân. Còn hai con ông bà và chúng con ngồi đàng sau, thì lộn tùng phèo đè lên nhau, chỉ đau một tí thôi!
 
Ông Chánh sực nhớ đến ông Thành Hưng đang đứng đó, vội vàng đứng dậy bảo hai con:
 
- Này hai con, đây là ông thân của cậu Liêm!
 
Hai đứa nghe nói đến cậu Liêm thì chạy a lại, nắm tay ông Thành Hưng hỏi tíu tít:
 
- Thưa ông, anh Hai đâu, các cháu nhớ anh Hai lắm!
 
Ông Thành Hưng cúi xuống vuốt tóc hai em, chưa kịp trả lời, thì người thanh niên hồi nãy đã ra, giục tất cả vào cho ông Bác sĩ gặp. Ông Bác sĩ nằm trên ghế dựa, một chân quấn băng trắng. Bác sĩ kể chuyện tai nạn cho ông Chánh nghe rồi nói tiếp:
 
- Ngày mai, sẵn xe chúng tôi vào Phan Thiết, chúng tôi đưa ông vào Sông Lũy, còn hai đứa nhỏ, tôi nghĩ ông nên cho chúng nó đi học, vợ chồng tôi sẽ bảo lãnh cho ít năm. Hai đứa nhỏ sáng trí lắm, nên cho đi học đã, chớ ông đem chúng nó vào chỗ rẫy bái làm gì?
 
Ông Chánh ngần ngại chưa biết trả lời thế nào, thì ông Thành Hưng bước lại gần chỗ Bác sĩ nằm và trình bày tự sự : nào lúc cậu Liêm gặp cha con ông Chánh ở Đà Nẵng, nào lúc cha con ông bị chìm ghe v.v… rồi ông nói tiếp:
 
- Thưa Bác sĩ, vợ chồng chúng tôi hiếm hoi, chỉ được một đứa con trai đó. Nay chúng tôi thấy cha con ông Chánh đây là người có thể giúp chúng tôi trong việc buôn bán, còn hai đứa nhỏ, sẽ cho ăn học theo con chúng tôi.
 
Bác sĩ mỉm cười quay lại hỏi hai em Gương Lành:
 
- Hai cháu muốn ở lại đây, hay là về ở với cậu Liêm?
 
Em Gương không dám trả lời, còn em Lành nhanh miệng thưa:
 
- Thưa Bác sĩ, các cháu muốn về ở với cậu Liêm!
 
Bác sĩ cười to lên:
 
- Thế thì hay lắm! Sáng mai, cha con ông vào Sông Lũy thăm mấy người làng, rồi lên xe lửa đi thẳng vào Sàigòn với ông Thành Hưng luôn. À mà cha con ông chưa đủ giấy tờ để vào Sàigòn đâu!
 
Bác sĩ suy nghĩ một lúc rồi nói:
 
- Nhưng mà được, tôi sẽ viết giấy bảo lãnh cho.
 
Ông Chánh và ông Thành Hưng vui mừng cúi đầu cám ơn Bác sĩ. Hai em Gương Lành chạy lên lầu từ giã bà Bác sĩ và hai cô cậu, con ông bà, rồi trở xuống chào ông Bác sĩ. Bác sĩ hôn hai em một cách thiết ái:
 
- Thôi hai cháu về, sáng mai ông sẽ cho xe xuống đón.
 
Dọc đường, cả hai em cười nói huyên thuyên và hỏi tíu tít ông Thành Hưng về anh Hai. Ông Thành Hưng thấy hai đứa nhỏ đơn sơ, dễ thương, ông mừng lắm. Ông hỏi:
 
- Anh Hai nhớ các cháu lắm, mà các cháu có nhớ anh Hai không?
 
Cả hai la lên:
 
- Thưa ông, chúng cháu nhớ lắm, chớ sao lại không?
 
Em Gương kéo sợi dây chuyền vàng mang trong cổ ra khoe:
 
- Mỗi lần cháu nhớ anh Hai, cháu lại cầm lấy sợi dây anh Hai đã cho cháu đây.
 
Em Lành giơ cánh tay trái lên:
 
- Còn cháu, khi nhớ anh Hai cháu lại rờ vào cánh tay này!
 
- Sao cháu lại rờ vào cánh tay ấy để nhớ anh Hai?
 
Lành xắn tay áo lên tận vai : chiếc “lắc” cậu Liêm cho nó rộng quá, nên nó phải đeo ở phía trong cùi tay:
 
- Cháu rờ vào cái “lắc” anh Hai cho cháu đây!
 
Ông Thành Hưng trông thấy, ôm bụng cười ngặt nghẽo…
 
Sáng hôm sau, cả bốn người lên xe đi với gia đình ông bà Bác sĩ vào Sông Lũy. Đến đây, gia đình ông Bác sĩ đi thẳng về Phan Thiết. Còn cha con ông Chánh sau khi đi hỏi thăm người làng, cũng từ giã họ, lên xe lửa vào Sàigòn với ông Thành Hưng. Ở Nha Trang, ông Thành Hưng đã đánh dây thép tin cho cậu Liêm nên khi xe lửa gần đến ga Sàigòn, hai em Gương Lành đã thấy anh Liêm đứng trước sân ga. Xe vừa ngừng, hai đứa đã chạy xuống, đứa bá cổ, đứa níu tay anh vui mừng khôn xiết.
 
Tối hôm ấy, trong nhà ông bà Thành Hưng thật là vui vẻ. Hai đứa nhỏ quấn quít bên anh hai. Bà Thành Hưng cảm động, ẵm em Gương vào lòng. Đã lâu lắm, bà không được hưởng giây phút êm đềm tình mẹ với con thơ. Phần em Gương mấy tháng trời mồ côi mẹ, nay em dựa đầu vào lòng bà Thành Hưng, em cảm thấy như được chính mẹ em vuốt ve âu yếm…
 
Từ hôm ấy, mỗi lần bà Thành Hưng đi chơi đâu cũng dẫn hai đứa nhỏ đi theo. Em Gương trong bộ quần áo may cắt theo lối thị thành trông dịu dàng và xinh đẹp hơn trước, còn Lành, bận đồ “soóc” đi giày, trông gọn ghẽ và “oai ra phết”. Những người quen biết thấy bà Thành Hưng dắt hai đứa nhỏ đi chơi thì lấy làm lạ:
 
- Hai em nhỏ nào đó bà?
 
- Hai đứa con nuôi tôi đó!
 
- Thế hả bà? Hai đứa trông xinh dễ thương quá, bà à!
 
Bà Thành Hưng thấy người ta khen, tỏ vẻ vui thích lắm.
 
Suốt đầu tuần lễ đầu, ngày nào cậu Liêm cũng dẫn ông Chánh và hai em đi xem thành phố Sàigòn. Hôm được vào xem vườn Bách thú, em Lành về bi bô kể truyện con cọp, con voi, con khỉ, em vừa kể vừa bắt chước điệu bộ của chúng, khiến mọi người cười vang nhà.
 
Hai đứa nhỏ được đi chơi, xem không biết chán. Đối với chúng nó, Sàigòn cái gì cũng lạ và cũng đẹp hết. Còn ông Chánh lấy làm phân vân, ông nói với ông bà Thành Hưng:
 
- Thưa ông bà, cha con tôi thiệt là có phước lắm, vì được ông bà thương giúp. Nhưng tôi thấy ông bà tử tế quá cũng sinh ngại ngùng. Tôi muốn ông bà coi tôi như một gia nhân, giao cho công việc làm, chớ ăn rồi đi chơi phố như thế nầy, tôi lấy làm khó xử quá!
 
Ông Thành Hưng cười:
 
- Có gì mà ông nghĩ xa xôi. Ông cũng lao đao vất vả bấy lâu nay. Mới vào, tôi thấy ông cần phải nghỉ ngơi một vài tuần. Chúng tôi không muốn coi ông như kẻ ăn người ở đâu. Nào chúng tôi có hơn gì ông đâu, chẳng qua vì hoàn cảnh xui khiến ra như thế, để chúng ta được gặp nhau, giúp đỡ nhau đó thôi.
 
 
Chương 4
 
 
Hôm sau, ông bà Thành Hưng đem công việc làm ăn ra bàn với ông Chánh và xin ông giúp lo cho sổ sách hàng hóa cất vào, bán ra, đồng thời ông bà cũng đề nghị trả cho ông một số lương tương xứng. Ông Chánh từ chối:
 
- Cha con tôi được sung sướng đầy đủ như thế nầy, ông bà còn cho lương bổng làm gì nữa!
 
Bà Thành Hưng bảo ông Chánh:
 
- Ông nói thế sao được. Ông phải có chút tiền riêng, để khi gặp bà con túng thiếu cần giúp đỡ, hoặc muốn tiêu pha gì cũng sẵn chớ. Ông không nhận tiền lương thì chúng tôi cũng khó xử trí.
 
Từ chối không được, ông Chánh đành phải nhận:
 
- Thôi ông bà bảo vậy thì tôi xin lãnh, nhưng ông bà trả cho chút ít thôi, vì ông bà đã nuôi cha con chúng tôi rồi.
 Hai chi em luu lac
Ông bà Thành Hưng cũng bảo cậu Liêm kiếm trường cho hai em đi học. Bàn qua tính lại, cậu Liêm xin cho hai em vào một trường tiểu học tư thục ở gần trường Taberd là trường cậu học, để anh em đi về cùng đường với nhau cho tiện. Cậu Liêm vào lớp Đệ Tam, còn hai em học lớp chín. Từ nhà đến trường, anh em dẫn nhau đi bộ. Hôm nào sợ trễ, thì anh Liêm chở các em bằng xe đạp.
 
Ban đầu lạ người lạ cảnh, hai em Gương Lành lại nói giọng Quảng Nam, nên bị chúng bạn chế nhạo hoài. Em Lành bản tính con trai, không lấy làm cực trí lắm, nhưng em Gương tính nhu mì hay mủi lòng, nên hễ bị chúng bạn trêu chọc thì em lại khóc. Tuy vậy, trong lớp, hai em học hành xuất sắc. Em Gương rất khá về môn Pháp văn và Việt văn, còn em Lành giỏi Toán và Vạn vật. Em Lành lại rất nhanh trí khôn. Cô giáo dạy lớp em rất vui tính, thỉnh thoảng cô ra nhiều câu đố hiểm hóc để thử trí các em. Nhiều câu cô giáo đố chỉ một mình em Lành giải đáp được. Có hôm cô đố cả lớp:
 
- Một người đi bắn chim, thấy một bầy chim sáu con đậu trên cành cây. Ông ta nhắm bắn một phát trúng hai con. Hỏi trên cành cây còn mấy con chim?
 
Nhiều em nhao nhao lên trả lời:
 
- Thưa cô, còn bốn con! Còn bốn con!
 
Em Lành đứng dậy:
 
- Thưa cô, trên cây không còn con nào hết, vì hai con trúng đạn rơi xuống đất, còn mấy con kia bay đi hết!
 
Cả lớp nghe Lành nói, bấy giờ mới ngã ngửa thấy mình sai:
 
- Phải rồi! Anh Lành nói đúng! Anh Lành nói đúng!
 
Dần dần, cả lớp đem lòng mến phục hai chị em Gương Lành. Cô cậu nào cũng muốn chơi với Gương Lành.
 
Ngày nghỉ học, cậu Liêm dẫn hai em đến nhà ông bà Thành Lợi, rủ cậu Minh đi chơi. Ông bà Thành Lợi là cha mẹ cậu Minh, có phố buôn bán ở đường Catinat. Từ hôm đi Hà Nội với cậu Liêm về, cậu Minh về quê ở Mỹ Tho thăm ông bà nội. Đầu niên học vừa rồi, trường Taberd hết chỗ, nên cậu xin vào học trường Chasseloup Laubat. Ông bà Thành Lợi cũng rất thương hai em Gương Lành. Hai nhà ở cách nhau không xa bao nhiêu, nên hễ có giờ rảnh, thì hoặc là các em Gương Lành xuống, hoặc là mấy em cậu Minh lên, họp đoàn với nhau ra công viên chơi, tình bè bạn thật là thắm thiết.
 
Một buổi chiều, gần đến giờ đi học, cậu Liêm bảo hai em:
 
- Thầy giáo lớp anh bị mệt, nên chiều nay anh đem hai em tới trường rồi anh về. Đến 5 giờ anh trở lại đón hai em. Nếu bãi học mà hai em chưa thấy anh đến thì cứ đi về thủng thẳng, đợi anh.
 
Cậu Liêm lợi dụng buổi nghỉ học để viết mấy lá thơ cho bạn bè ở xa. Năm giờ 15, cậu mới chợt nhớ việc đi đón hai em. Cậu vội vàng nhảy lên xe đạp đến trường. Một lúc sau cậu chạy về hốt hoảng gọi mẹ:
 
- Má ơi! Hai em con về chưa má?
 
Bà Thành Hưng ngạc nhiên:
 
- Chưa thấy, thế không phải con đi đón hai em về à?
 
Cậu Liêm vất xe đạp xuống đất, mếu máo:
 
- Má ơi! Thế thì hai em con bị mẹ mìn bắt mất rồi!
 
Rồi cậu khóc òa lên:
 
- Ôi! Hai em ơi, tại anh đi trễ một tí, mà hai em bị mất tích, hai em ơi!
 
Cả nhà nhốn nháo. Ông Thành Hưng chạy ra dìu con vào:
 
- Làm sao mà con bù lu bù loa lên thế, con hãy kể lại cho ba má và bác Chánh nghe chuyện làm sao đã chớ!
 
Cậu Liêm vừa kể vừa khóc:
 
- Thưa, chiều nay con nghỉ học, vì thầy giáo lớp con bị bệnh. Con chở hai em đến trường, rồi con bảo đến 5 giờ thì con sẽ ra đón hai em. Không dè con mải viết thơ nên quên mất. Đến 5 giờ15, con sực nhớ lại, vội vàng đạp xe xuống trường, thì học trò đã về hết, con đạp đi đạp lại mấy vòng mà cũng không thấy hai em đâu, con chạy về nhà bác Thành Lợi cũng không thấy hai em vào chơi đó. Con liền đi tìm một em cùng lớp, hỏi thăm thì em đó nói : Khi hai em Gương Lành ra cổng trường, thì đứng đợi người đến rước về. Một lúc không thấy ai tới, hai em mới dẫn nhau đi về. Bỗng em đó thấy có một chiếc xe sơn đen đàng xa đi lại đậu gần bên hai em, một cô gái ở trên xe xuống nói gì với hai em một lúc lâu, rồi dắt hai em vào trong xe và xe lại mở máy chạy ngược về phía nhà thờ Đức Bà. Vì em này đứng xa, nên không nghe nói gì, em cứ tưởng ở nhà cho người ra đón, nên không lấy làm điều… Bây giờ con nghĩ ra đó là xe của tụi mẹ mìn, chuyên môn đi dỗ trẻ con người ta lên xe, rồi bắt đi bán nơi xa!
 
Nghe cậu Liêm nói, cả nhà như sét đánh bên tai, bàng hoàng lo lắng, nhất là ông Chánh, ông kêu lên một tiếng:
 
- Ôi, hai con tôi!
 
Rồi té xuống bất tỉnh. Ông Thành Hưng và cậu Liêm vội vàng đỡ ông dậy, kẻ giật tóc, người xoa thuốc, một lúc ông mới tỉnh lại. Ông Thành Hưng khuyên giải:
 
- Bác Chánh à! Bác hãy bình tĩnh, chuyện chưa biết ra sao, bác đừng vội buồn. Bây giờ ta hãy tìm đón đường tụi nó đã ; chớ đừng rối rít lên như thế này. Nào, Liêm con đi trình Cảnh sát gấp cho ba. Còn ba và bác Chánh thuê xe lên tìm các đường ở vùng Chợ Lớn, còn vài người thuê xe đi xuống ngã Gia Định, Thủ Đức xem sao. Nếu có nghe tiếng khóc, hay kêu la gì, thì cứ tới xem may ra… Còn bà ở nhà, nếu hai em về, thì lập tức cho người đi tìm chúng tôi!
 
Cắt đặt đâu vào đó, mọi người vội vàng thuê xe đi. Tại Nha Cảnh sát Đô Thành cũng báo động khắp hết mọi chi nhánh, để chận đứng vụ bắt cóc này…
 
Đến gần nửa đêm, kẻ trước người sau trở về nhà. Không ai thấy tung tích gì về hai đứa bé cả. Cậu Liêm khóc sướt mướt. Bữa cơm tối hôm ấy, không ai ăn một miếng!
 
Rạng ngày hôm sau, cậu Liêm lấy hình hai em đi thuê chụp lại, rồi đem trình cảnh sát và đồng thời đăng trên các báo, hứa thưởng trọng hậu cho ai tìm thấy hai em bé.
 
Một ngày, hai ngày qua vẫn biệt âm vô tín. Cậu Liêm suốt ngày chạy ngược chạy xuôi tìm kiếm. Lúc về nhà, cậu lại nằm vật xuống giường khóc sụt sùi. Cậu hối hận vì lỗi mình đi đón hai em trễ một tí, mà gây tai họa lớn suốt đời cho hai em. Đã hai ngày rồi, cậu buồn rầu không chịu ăn uống gì cả, khiến cho ông bà Thành Hưng lo lắng. Ông Chánh tuy trong lòng đau đớn như cắt, cũng cố nén buồn khổ, an ủi cậu Liêm:
 
- Cậu Liêm à, tôi nghĩ số kiếp hai cháu mệnh bạc, được hưởng sung sướng ít, mà phải khổ nhiều, nên mới xảy ra như thế, chứ không phải lỗi cậu đâu! Con cái người ta đi học, nào có ai đưa đón gì đâu mà lại không bị bắt cóc? Thôi cậu đừng quá buồn mà sinh bệnh, khiến tôi càng khổ thêm!
 
Cảnh nhà ông bà Thành Hưng từ đây nhuộm màu tang tóc, tiếng cười đùa huyên náo tắt hẳn. Bà Thành Hưng, bề ngoài vẫn tỏ ra bình tĩnh, nhưng lúc ngồi một mình, bà nhớ lại nét mặt dịu hiền của em Gương, nhớ đến lời ăn tiếng nói đơn sơ của em, hai hàng nước mắt bà tuôn chảy, bà cảm thương số kiếp em phải long đong. Từ đây, thân gái yếu mềm, mới 12 tuổi đầu, bị đày đọa nơi phương trời xa thẳm, biết khổ sở chừng nào!
 
 
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ngoài Song Mưa Bay - Loại Hoa Tím - Tủ sách Tuổi Hoa - 1973 - Nguồn: MAI ANH sưu tầm và đánh máy --------------------- Thực hiện eBook: Nguyễn Hữu Minh
Hai Chị Em Lưu Lạc - Loại Hoa Xanh - Tủ sách Tuổi Hoa - 1967 - Nguồn: ĐÈN BIỂN sưu tầm và đánh máy -------------------------- Thực hiện eBook: Nguyễn Hữu Minh
Con Tàu Bí Mật - Loại Hoa Đỏ Tủ sách Tuổi Hoa - 1970 Nguồn: vnthuquan & NGUYỄN TUẤN sưu tầm, đánh máy chương 8 đến hết. YÊN CHI đánh máy truyện phụ. ----------------- Thực hiện eBook: Nguyễn Hữu Minh
Thầm Lặng - Loại Hoa Tím...Nguồn: Ngọc Trong Đá sưu tầm và Ti Cô Nương, MHN Nguyễn Học, Ct.ly (VNTQ) đánh máy ------------------- Thực hiện eBook: Nguyễn Hữu Minh
Nhân Chứng Cuối Cùng - Loại Hoa Đỏ - Chương 1 Lễ sinh nhật thứ 52 của ông Lê Mai, một vị chánh án hồi hưu được tiếng là thanh liêm trong ngành tư pháp, được tổ chức thật long trọng tại biệt thự Hồng Hoa, tư thất của ông Lê Mai. Buổi dạ hội hóa trang tối hôm đó được sự tham dự của rất nhiều bạn bè, mỗi người hóa trang một cách, và khéo léo đến nỗi không còn nhận ra nhau nữa. Không khí ồn ào, vui vẻ lan tràn trong bữa tiệc và nổi bật nhất là tiếng đàn dương cầm của chủ nhân, tiếng đàn vui tươi, dồn dập trước sự tán thưởng của mọi người.
PHAN NHẬT NAM MÙA HÈ ĐỎ LỬA bút ký chiến tranh -1.Mùa Hè đỏ lửa Mùa Hè, những cơn mưa bất chợt ùn ùn kéo đến, ào ạt chụp xuống núi rừng Kontum, Pleiku… Trời thoắt trở lại xanh, cao khi mưa dứt, nắng hanh vàng ấm trong không khí gây gây lạnh, những đồi cỏ xanh dọc Quốc Lộ 14 bắt đầu óng mượt, cánh cỏ non lớn dài phơi phới dưới sau trận mưa đầu mùa và thung lũng xa vàng rực hoa hướng dương. Không khí, gió, trời mây và cỏ cây thay đổi hẳn, mới mẻ toàn khối, toàn sắc, vùng cao nguyên lộng lẫy, triền miên với từng hạt nắng vàng ối tan vỡ trên đồng cỏ xôn xao gió thổi… Mùa Hè, gió Lào miền Quảng Trị, Thừa Thiên thổi từng luồng, từng chập, đưa”con trốt” chạy lừng lững trên cánh đồng cát chói chang, những đồi hoa sim, hoa dủ dẻ rung rinh bốc khói dưới mặt trời hạ chí. Giòng nước sông Hương, sông Đào, sông Bồ, Mỹ Chánh, Thạch Hãn đục hơn, thẫm màu hơn, lăn tăn từng sợi sóng nhỏ len lỏi khó khăn qua kẽ đá, bãi cát, chầm chậm chảy về phía Tam Giang, cuốn trôi theo đám lá tre
Nguyễn Nhật Ánh - Bồ Câu Không Đưa Thư - Chương 1 Thục săm soi tờ giấy trên tay. Nó phân vân lật tới lật lui, chưa biết tính thế nào. Chiều hôm qua, lúc thò tay vào ngăn bàn, nó tình cờ phát hiện ra tờ giấy này. Trong đó chỉ vẻn vẹn có mấy dòng, được viết bằng lối chữ in hoa. Đọc thoáng qua, Thục bất giác đỏ bừng mặt: "Cho mình làm quen với. Mình ở lớp buổi sáng, ngồi cùng chỗ với bạn đấy. Nếu không nỡ từ chối, bạn viết cho mình vài chữ.
Thẩm Thệ Hà Bài Học Thương Nhau
Khách Lạ Đêm Khuya - Loại Hoa Đỏ- Thấy chẳng nên làm cho chị chúng nó bực mình thêm nữa, một đứa bèn chuồn ra lối cửa trước, còn một đứa thì leo qua cửa sổ nhảy ra ngoài. Hai đứa đi khỏi rồi, căn phòng trở lại yên tĩnh. Ba Huy hy vọng viết xong được lá thư còn dở và Khải cũng ước mong đọc xong được cuốn truyện trinh thám đang tới chỗ gây cấn. Bỗng nhiên, từ dưới bếp, tiếng của chị Tư vọng lên :
TRONG VÙNG MÙ SƯƠNG - Loại Hoa Tím - Giòng họ Công Tằng mấy đời làm quan lớn trong Triều. Ông ngoại Quế Trân sống trong giai đoạn Pháp thuộc với chức Tri Phủ - chán nản trước cảnh a dua, xu nịnh của một số quan trong triều đối với người Pháp, ông cáo quan về vui với vườn tược. Cảm kích trước sự liêm khiết đó, dân trong thành phố vẫn kính cẩn gọi ông là « Cụ Phủ » Quan liêu mãi mãi là một bức thành kiên cố, đóng khung những con người bảo thủ trong cuộc sống khép kín.
Bảo Trợ