Nguồn gốc độc đáo lễ Vu Lan và tục cúng tế ngày Rằm tháng 7

14 Tháng Tám 20186:04 SA(Xem: 305)

Ngày lễ Rằm tháng 7 đã có nguồn gốc từ xa xưa, là sự kết hợp hài hòa của Tam giáo: Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian.
mother-vulan

Lịch âm và cội nguồn văn hóa Á Đông

Nói về nguồn gốc ngày lễ Rằm tháng bảy, phải nói đến nguồn gốc của lịch âm dương, mà chúng ta ngày nay gọi là lịch âm. Theo các tài liệu lịch sử ghi chép lại thì lịch âm dương được cho là do Hoàng Đế sáng chế ra. Hoàng Đế là ông vua đầu tiên thời Ngũ Đế cách hiện nay khoảng 4700 năm.

Tuy nhiên theo một số nhà nghiên cứu, lịch âm dương căn cứ vào chu kỳ mặt trăng định ra tháng ngày, và căn cứ vào chu kỳ mặt trời định ra 24 tiết khí, có các tháng nhuận để hiệu chỉnh lệch chu kỳ mặt trời, mặt trăng. Cách tính lịch pháp này hoàn toàn hợp với nền văn minh lúa nước, với thời vụ gieo trồng, thu hoạch nông nghiệp. Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng, thuyết âm dương ngũ hành, lịch âm dương là do người Việt cổ sáng tạo, cũng rất có lý.

Hoàng Đế là người đứng đầu các bộ lạc người Hán, sống ở lưu vực sông Hoàng Hà, sống chủ yếu vào săn bắn, chăn nuôi, du mục. Cùng thời kỳ đó, từ núi Ngũ Lĩnh xuống phía nam, tức miền Nam Trung Quốc hiện nay và miền Bắc Việt Nam hiện nay, là vùng đất thuộc về các dân tộc Bách Việt, do Kinh Dương Vương cai quản, quốc hiệu là Xích Quỷ, còn phía bắc núi Ngũ Lĩnh đến lưu vực Hoàng Hà do Đế Nghi, anh trai Kinh Dương Vương cai quản.

Lịch sử cũng ghi chép Hoàng Đế đánh Xi Vưu, vua nước Cửu Lê, chính là Đế Lai, con của Đế Nghi. Như vậy, cùng với việc người Hán lấn chiếm dần xuống phía nam, họ học văn hóa các dân tộc Bách Việt, bị đồng hóa, rồi coi là của họ, và phát triển lên. Không chỉ người Hán, sau này các nước, dân tộc phía bắc xâm chiếm Trung Quốc, cũng bị văn hóa đó đồng hóa, như người Mông Cổ nhà Nguyên, người Mãn nhà Thanh.

Do đó lịch âm dương mà chúng ta ngày nay gọi là lịch âm, có thể có nguồn gốc từ các dân tộc Bách Việt, mà dân tộc Lạc Việt của các vua Hùng là một trong số đó, sau đó được người Hán tiếp thu và phát triển.

Ngày lễ Rằm tháng bảy là ngày lễ lớn của nhiều nước Á Đông, có nguồn gốc văn hóa truyền thống Á Đông lâu đời, và gắn liền với Tam giáo Phật – Đạo – Nho.

Lịch âm và cội nguồn văn hóa Á Đông
Lịch âm dương mà chúng ta ngày nay gọi là lịch âm, có thể có nguồn gốc từ các dân tộc Bách Việt. (Ảnh: dkn.tv)

Lễ Vu Lan của Phật giáo

Theo thuyết của Phật giáo, thế giới có 10 cảnh giới gồm: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Thiên, Nhân, A Tu La, Súc sinh, Ác quỷ và Địa ngục. 4 cảnh giới đầu tiên là những bậc Giác giả đã siêu phàm nhập Thánh, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Còn 6 cảnh giới còn lại cũng được gọi là “lục đạo luân hồi” hay 6 nẻo luân hồi, còn gọi là “lục phàm”, trong đó 3 cảnh giới cuối cùng gọi là tam ác đạo, mà chịu khổ cực nhất là cảnh giới cuối cùng, tức Địa ngục.

Rằm tháng bảy gắn liền với Lễ hội Vu Lan, còn gọi là Vu Lan Bồn. Trong Kinh Đại Tạng có kể về câu chuyện của tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ. Khi Mục Kiền Liên còn là tăng nhân đang theo Phật Thích Ca tu hành, ngài đã tu xuất ra được nhiều thần thông, pháp lực quảng đại. Ngài dùng thần thông, thấy được mẹ ngài, do khi còn sống làm nhiều việc ác như thích sát sinh, thích ăn uống lu bù, thích xa hoa, do đó đang bị đọa ở đạo ngạ quỷ, đói khát khổ sở vô cùng. Đọa vào đạo ngạ quỷ, cổ họng bị biến thành cái ống rất nhỏ, nhưng bụng thì lại to như cái thùng nước, lúc nào cũng đói mà không thể ăn được, nên gọi là ngạ quỷ (tức quỷ đói). Ngài đem thức ăn đến cho mẹ, thức ăn vừa vào miệng đã biến thành ngọn lửa thiêu đốt, khổ cực không tả xiết.

Mục Kiền Liên dù thần thông quảng đại cũng không có cách gì cứu mẹ được, ngài đành tìm đến Phật cầu cứu. Phật Thích Ca thuyết pháp cho ngài cách cứu mẹ, sau mọi người gọi là Kinh Vu Lan Bồn. Theo lời Phật dạy, vào ngày 15 tháng 7 âm lịch, tôn giả Mục Kiền Liên và các tăng nhân dùng trăm loại thức ăn gồm ngũ quả, đồ cúng chay để cúng chúng sinh ở địa ngục, rồi cùng tăng đoàn đọc kinh, niệm chú. Nhờ vậy những ngạ quỷ đói khát lâu ngày kia mới được ăn. Từ đó các tín đồ Phật giáo học theo, làm lễ Vu Lan để báo hiếu với ông bà, cha mẹ người thân đã mất.

Lễ Vu Lan của Phật giáo
Lễ Vu Lan của Phật giáo bắt nguồn từ sự tích của Mục kiền Liên và mẹ. (Ảnh: youtube.com)

Lễ Trung Nguyên của Đạo giáo

Theo Đạo giáo, Ngọc Đế phái 3 vị quan xuống cai quản thế gian, trông coi các việc thiện ác chốn nhân gian, gồm có Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan, gọi chung là Tam Quan. Ngày sinh của 3 vị quan đó lần lượt là 15 tháng giêng, 15 tháng 7 và 15 tháng 10, do đó, 3 ngày này còn gọi là Tam Nguyên.

Tam Quan cai quản việc ban phúc, xá tội, giải hạn cho con người chốn nhân gian. Các ngài pháp lực vô cùng lớn, thường tuần tra chốn nhân gian, xem con người đạo đức tốt hay xấu. Người đạo đức tốt được các ngài ban phúc, người đạo đức xấu sẽ bị giáng tội. Tuy nhiên các ngài rất nhân từ, nên hàng năm vẫn xem xét xá tội, giảm tội cho những người biết ăn năn hối cải.

Ngày 15 tháng 7 được gọi là Trung Nguyên, chính vào ngày Địa Quan xá tội. Tương truyền vào ngày này, Địa Quan cầm cuốn sổ dày, căn cứ vào biểu hiện của chúng sinh mà xá tội, miễn hình phạt cho từng người. Vào ngày này, các tín đồ Đạo giáo thường tập trung lại cùng nhau đọc Đạo Đức Kinh, tác phẩm của Lão Tử, người được coi là ông tổ của Đạo giáo. Chính vì tập quán này nên xưa những tín đồ Đạo giáo làm quan, thường có kỳ tích là “Quanh năm chỉ vui chơi gảy đàn mà bách tính an vui, thịnh trị”.

Nho giáo và tín ngưỡng dân gian

Theo Nho giáo, con người sau khi chết thành ma, còn gọi là quỷ. Trong “Lễ ký – Tế nghĩa” có viết: “Chúng sinh thì ắt phải chết, sau khi chết thì trở về với đất, đó gọi là quỷ”.

Nho giáo coi trọng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng người chết, sách “Luận ngữ” viết: “Thận chung truy viễn, dân đức quy hậu hĩ”, nghĩa là: “Cần cẩn thận làm tang lễ với người chết, với người chết đã lâu (ông bà tổ tiên) thì nên luôn ghi nhớ và tế lễ, như vậy người dân sẽ quy thuận theo, đạo đức xã hội tăng lên, thuần hậu, trung thực”.

Khổng Tử cũng nói: “Tế như tại, tế Thần như Thần tại”, nghĩa là: “Khi tế lễ, thờ cúng người đã mất, thì cung kính như họ đang ở trước mặt; khi tế lễ Thần, thì thành kính như Thần đang ở trước mặt”.

Tháng 7 còn gọi là tháng cô hồn. Theo tín ngưỡng dân gian, từ ngày 1 tháng 7, Diêm Vương hạ lệnh mở cửa địa ngục, để các oan hồn các cô hồn dã quỷ ra khỏi địa ngục, được chút tự do thoải mái, hưởng đồ ăn ở chốn nhân gian. Người dân cũng vì thế mà làm các lễ cúng cô hồn dã quỷ, giúp họ được ăn uống, được siêu độ. Đồng thời, người dân cũng coi tháng cô hồn là tháng không may mắn, nên không thực hiện các việc hỷ như cưới xin, xây nhà, dọn nhà, khai trương, mở cửa hàng… Trong tháng cô hồn thì ngày rằm là ngày lễ chính, dân gian có câu: “Tháng 7 đêm rằm, xá tội vong nhân”.

Lễ Trung Nguyên của Đạo giáo
Theo dân gian thì tháng 7, Diêm Vương hạ lệnh mở cửa địa ngục, để các oan hồn các cô hồn dã quỷ ra khỏi địa ngục. (Ảnh: pinterest.com)

Vì vậy ngày Rằm tháng 7, mỗi gia đình người Việt thường làm 2 lễ: lễ cúng gia tiên và lễ cúng thí thực chúng sinh”. Ngoài ra, những người theo Phật giáo còn làm lễ cúng trong chùa trước 2 lễ cúng ở nhà.

Có thể thấy, ngày lễ Rằm tháng 7 đã có nguồn gốc từ xa xưa, là sự kết hợp hài hòa của Tam giáo: Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và tín ngưỡng dân gian.

Cúng Rằm tháng 7 và đốt vàng mã

Ngoài ra, do ảnh hưởng của Vu giáo, tức những người đồng bóng, thầy mo, thầy phù thủy, họ thường dùng bùa chú, hình nhân thế mạng cúng lễ rồi đốt, nên có hiện tượng đốt vàng mã. Đây là hiện tượng dị đoan của tà đạo, tiểu đạo thế gian, trong tín ngưỡng chính giáo chân chính không hề xuất hiện những việc như thế này.

Những năm gần đây, hiện tượng đốt vàng mã đang phát triển trở lại với mức độ báo động đáng lo ngại. Không chỉ còn là vàng tiền, hình nhân thế mạng như xưa, mà giờ đây họ đốt cả nhà lầu, xe hơi, quần áo giày dép, lại còn xuất hiện đốt Iphone, Ipad và mấy “cô chân dài” vàng mã nữa, đã phát triển đến mức nực cười.

Đốt vàng mã đã xảy ra các tai nạn cháy nhà, cháy chợ, cháy kho xưởng, cháy xe bồn chở xăng, cháy rừng… rất nhiều vụ hỏa hoạn xảy ra nhiều năm nhưng tình hình đốt vàng mã vẫn chưa giảm. Ngày 22 tháng 2 vừa qua, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPHVN) vừa ra công văn số 31, đề nghị các Phật tử loại bỏ tục đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo nhằm loại bỏ dị đoan.

Tuy nhiên, vấn đề là ở nhân tâm. Khi con người vẫn còn niềm tin rằng trần sao âm vậy, đốt vàng mã cúng ông bà tổ tiên, quỷ Thần thì được ông bà tổ tiên quỷ Thần phù hộ. Một niềm tin thiếu cơ sở, xuất phát từ Vu giáo, đồng bóng, các thầy mo, phù thủy, thầy pháp tiểu đạo thế gian, đa phần là để trục lợi, kiếm tiền, nhưng vẫn rất nhiều người tin theo.

Tín ngưỡng Thần Phật là chánh tín, là chính Đạo, giúp con người giữ được đạo đức, tránh ác hành thiện, giúp con người nâng cao cảnh giới tinh thần. Còn những niềm tin thiếu cơ sở, dựa vào những tưởng tượng của con người, thì đó là mê muội, là công cụ bị kẻ xấu lợi dụng kiếm tiền mà thôi.

Nam Phương ĐKN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
GVC.TS. LÝ TÙNG HIẾU - (Trích Thời sự Thần học, số 64, tháng 5/2014, tr. 187-211) - 1. CHỦ THỂ VĂN HOÁ VÙNG NAM BỘ Không kể vùng thềm cao nguyên tiếp giáp Tây Nguyên, vùng văn hoá Nam Bộ hôm nay là nơi sinh tụ của người Việt và đông đủ các đại diện của 53 tộc người thiểu số. Tất cả đều là những tộc người di dân đến đồng bằng Nam Bộ trong khoảng 500 năm trở lại: di dân lớp trước là các tộc người Khmer, Việt, Hoa, Chăm; di dân lớp sau là các tộc người Việt, Tày, Nùng, Dao, Mường, Thái, Thổ…
Theo dòng sử Việt từ thời lập nước đầu tiên cho đến nay, một số vùng đất đã được chọn để làm kinh đô qua các thời kỳ, có thể kể tới như: Thời An Dương Vương kinh đô ở Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh, Hà Nội).
Thời nhà Nguyễn vào thế kỷ 19, lãnh thổ Việt Nam hết sức rộng lớn. Đỉnh điểm vào thời vua Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với diện tích ngày nay. Vậy lãnh thổ Việt Nam thời nhà Nguyễn gồm những vùng đất nào mà có thể rộng lớn đến vậy?
LAIA SAN JOSÉ - Tác giả, giảng viên sử học tại đại học tư lập Madrid (Tây Ban Nha), đã mô tả vắn tắt lịch sử của phong trào nữ quyền (PTNQ: feminismo) dưới những hình dạng khác nhau, đặc biệt trong vòng ba thế kỷ gần đây tại Âu châu và Mỹ châu. Nguồn: https://historiadospuntocero.com/historia-las-mujeres-i-repaso-la-historia-del-feminismo (Trích Thời sự Thần học, số 79 (tháng 2/2018), tr. 121-137.) 1. Khái niệm : phong trào nữ quyền là gì? 2. Những giai đoạn của PTNQ 2.1 PTNQ tiền cận đại 2.2 Đợt một: PTNQ của chủ nghĩa Ánh sáng (từ cách mạng Pháp đến giữa thế kỷ XIX) 2.3 Đợt hai: PTNQ đòi phổ thông đầu phiếu (từ giữa thế kỷ XIX đến khi kết thúc thế chiến thứ hai) 2.3.1 PTNQ theo chủ nghĩa tự do 2.3.2 PTNQ theo chủ nghĩa xã hội 2.3.3 PTNQ vô chính phủ 2.4 Đợt ba: PTNQ đương đại (từ những cuộc cách mạng thập niên 60 đến nay) 2.4.1 PTNQ tự do 2.4.2 P
Thai giáo: Sự giáo dục cho con cái từ khi có mang = Khi có mang, phàm tư tưởng, ngôn ngữ, hành động của người mẹ đều có ảnh hưởng đến tính cách đứa con, nên người mẹ phải giữ gìn cẩn thận. Từ lâu nay, tôi cũng đã nghe về việc thai giáo. Được nghe rằng, trong dòng tộc chúa Trịnh có hẳn một cuốn sách cổ, có tên là Thai giáo để truyền dạy trong gia tộc. Tuy nhiên, đến nay, chưa ai từng nhìn thấy cuốn sách cổ này. Các vị dòng Chúa Trịnh khắp nơi nếu ai đang giữ hoặc biết cuốn này ở đâu, xin cho chúng tôi biết với.
Diễn văn tại Gettysburg (The Gettysburg Address) được tổng thống Abraham Lincoln đọc tại Nghĩa trang liệt sỹ quốc gia ở Gettysburg, Pennsylvania trong cuộc Nội chiến Mỹ vào ngày 19/11/1863 – hơn 4 tháng sau khi quân đội Liên bang miền Bắc chiến thắng quân đội Liên minh miền Nam tại trận Gettysburg. Mặc dù chỉ gói gọn trong vòng vài phút đồng hồ, và được tổng thống Abraham Lincoln đọc trong một trạng thái mỏi mệt do bị ốm, nhưng Diễn văn tại Gettysburg đã trở thành một trong những bài diễn văn nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của lịch sử nước Mỹ, được nhiều thế hệ người Mỹ học thuộc lòng trong trường học. Đáng tiếc thay, toàn văn chính xác của nó lại chưa được các sử gia Mỹ thống nhất, và 5 phiên bản khác nhau của nó hiện vẫn đang được lưu hành.
Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa…
Mỗi căn nhà đều có dấu vết của con người cùng đồ vật gắn bó với những kỉ niệm. Mỗi thành phố luôn ẩn chứa trong nó bao nhiêu vết tích tàn dư của lịch sử. Hôm nay, lật lại từng trang ký ức đang dần bị lãng quên bởi thời gian, tôi muốn làm sống lại một con người, để chúng ta lại có dịp gọi tên ông thêm một lần, và rất nhiều lần nữa…
Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục có nhận xét về thời kỳ chúa Nguyễn rằng, "từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa - dây cương đều nạm vàng, nạm bạc, quần áo là lược, nệm hoa, chiếu mây, lấy phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau. Họ coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, hoang phí vô cùng..."
Tết đến xuân về không chỉ là niềm khao khát của biết bao đứa trẻ để được xúng xính quần áo mới, được ăn bánh mứt và nhất là được nhận lì xì mà nó còn mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đó là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Bên cạnh đó là khao khát sự trường tồn cuộc sống, sự hài hòa Thiên – Địa – Nhân, sự gắn kết trong cộng đồng, gia tộc và gia đình. Tết Nguyên đán còn là dịp để hướng về cội nguồn. Đó là giá trị tâm linh, cũng là giá trị tình cảm sâu sắc của người Việt, trở thành truyền thống tốt đẹp.
Bảo Trợ